Tài liệu Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

  • Số trang: 23 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 1991 |
  • Lượt tải: 0
quangkieu797764

Tham gia: 05/10/2017

Mô tả:

1 MỞ ĐẦU Chủ nghĩa Mác ra đời là thành tựu trí tuệ của loài người, phản ánh thực tiễn xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng thế giới, là một tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại. Việc vận dụng sáng tạo, đúng quy luật học thuyết Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam là vô cùng sáng suốt và đúng đắn. Chỉ có như vậy con thuyền cách mạng Việt Nam mới có thể cập bến vinh quang, chúng ta không có lựa chọn nào khác. Những thành tựu trong công cuộc đổi mới của nước ta trong thời gian qua đã tạo ra thế và lực mới, cả bên trong và bên ngoài... Nhiều tiền đề cần thiết cho công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước đã được tạo ra. Quan hệ của nước ta với các nước trên thế giới mở rộng hơn bao giờ hết. Cách mạng khoa học và công nghệ phát triển nhanh với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội, các nước đều có cơ hội phát triển. Tuy nhiên ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường thuộc các nước phát triển, khiến cho những nước chậm phát triển và đang phát triển đứng trước những thách thức to lớn. Trước tình hình đó, cùng với xu thế phát triển của thời đại, Đảng và nhà nước ta đã liên tục tiến hành và đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó đổi mới kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội. Việc nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức giúp Đảng ta giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra góp phần thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay. Với ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài : "Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Sự vận dụng của Đảng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam giai đoạn hiện nay" làm nội dung bài thu hoạch của mình. 2 NỘI DUNG 1. Lý luận chung về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. 1.1 Vật chất Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên 2500 năm và có quá trình phát triển gắn liền với thực tiễn và nhận thức của con người. Ngay từ lúc mới ra đời, xung quanh vấn đề này đã diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các trường phái triết học, phản ánh sự đối lập về nguyên tắc giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật trước đó. Giống như mọi phạm trù khác, phạm trù vật chất có quá trình phát sinh và phát triển gắn liền với hoạt động thực tiễn và sự hiểu biết của con người về thế giới tự nhiên qua từng thời kỳ nhất định. Chủ nghĩa duy tâm: Cơ bản đã thừa nhận sự tồn tại của các sự vật hiện tượng nhưng lại phủ nhận sự tồn tại khách quan của chúng, dựa vào lực lượng tinh thần để giải thích thế giới. Chủ nghĩa duy vật cổ đại: Các nhà triết học phương Đông cũng như phương Tây đều có xu hướng đi tìm khởi nguyên của vũ trụ, từ một dạng vật thể nào đó. Họ xem đó là vật nguyên thuỷ, từ đó sinh ra mọi vật và họ gọi nó là vật chất (VD: Đất, nước, lửa, không khí, nguyên tử…) Với quan niệm vật chất là một hay một số chất tự có, đầu tiên, sản sinh ra vũ trụ chứng tỏ các nhà duy vật cổ đại đã đồng nhất vật chất với vật thể. Hạn chế này tất yếu dẫn đến quan điểm duy vật nửa vời, không triệt để. Họ chỉ duy vật khi giải quyết những vấn đề của tự nhiên nhưng lại duy tâm thần bí khi giải thích các hiện tượng xã hội. 3 Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII (cận đại): Quan niệm về vật chất đã có những bước phát triển song quan niệm đó ở các nhà triết học duy vật thời kỳ này về cơ bản vẫn mang tính chất cơ giới, đó là khuynh hướng đồng nhất vật chất với nguyên tử hoặc với khối lượng. Lịch sử triết học đã xác nhận công lao to lớn của các nhà triết học duy vật thời kỳ này. Họ đã có nhiều đóng góp cho việc phát triển quan niệm về vật chất. Đặc biệt Ludwig Andreas von Feuerbach - nhà triết học Pháp thế kỷ XVIII đã tiến gần đến phạm trù vật chất. Ông cho rằng: “ Vật chất là tất cả những gì tác động vào giác quan ta. Những đặc tính khác nhau của các chất mà ta biết được là nhờ cảm giác.” Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một loạt phát minh khoa học làm cho các quan điểm duy vật siêu hình rơi vào khủng hoảng. Nhiều phát minh trong vật lý học thời kỳ này đã làm đảo lộn quan niệm cũ về vật chất và gây ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong vật lý học. Một số các nhà vật lý học giải thích một cách duy tâm các hiện tượng vật lý và cho rằng vật chất tiêu tan. Rơnghen phát hiện ra tia X; Beccơren và M.Quyri phát minh ra hiện tượng phóng xạ trong chất uranium; Tômxơn phát hiện ra điện tử; Kaufman phát hiện ra sự thay đổi khối lượng điện tử; Anhxtanh phát hiện thuyết tương đối hẹp... Trong hoàn cảnh đó, các nhà triết học duy tâm chủ quan lợi dụng các phát minh này để khẳng định bản chất “phi vật chất” của thế giới, khẳng định vai trò của các lực lượng siêu nhiên đối với quá trình sáng tạo ra thế giới, cơ sở tồn tại của chủ nghĩa duy vật không còn nữa. Tình hình đó đòi hỏi V.I.Lênin phải đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật. Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm 4 phê phán”, V.I.Lênin đưa ra định nghĩa vật chất kinh điển: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.”1 Để định nghĩa vật chất, Lênin đã đối lập vật chất với ý thức, hiểu vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác. Vật chất tồn tại độc lập đối với cảm giác, với ý thức, còn cảm giác, ý thức phụ thuộc vào vật chất và phản ánh vật chất. Lênin nhấn mạnh rằng, phạm trù triết học này dùng để chỉ ra cái “Đặc tính duy nhất của vật chất mà chủ nghĩa duy vật triết học gắn liền với việc thừa nhận đặc tính này - là cái đặc tính tồn tại với tư cách là hiện thực khách quan, tồn tại ở ngoài ý thức chúng ta.”2 Lênin cho rằng vật chất vốn tự nó, không do ai sinh ra và không thể tiêu diệt được, nó tồn tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức con ngưười. Định nghĩa vật chất của Lênin đã khẳng định được câu trả lời của chủ nghĩa duy vật ở cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học, phân biệt về nguyên tắc của chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng như thuyết không thể biết. Hơn thế nữa, Lênin còn khẳng định “ vật chất….được cảm giác của chúng chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác". Khẳng định như vậy, một mặt Lênin muốn nhấn mạnh tính thứ nhất của vật chất, vai trò quyết định của nó đối với ý thức, mặt khác khẳng định phương pháp và khả năng nhận thức khách quan của con ngưười. Điều này không chỉ phân biệt chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, với thuyết không thể biết mà còn phân biệt chủ 1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva,1976, t.18, tr.151 2 V. I. Lênin, toàn tập, Nxb Tiến bộ, M. 1981, tập 18, tr. 321 5 nghĩa duy vật với nhị nguyên luận. Như vậy, chúng ta thấy rằng, định nghĩa vật chất của Lênin một định nghĩa toàn diện và triệt để, nó giải đáp được cả hai mặt về vấn đề cơ bản của triết học trên lập trưường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đồng thời nó còn khắc phục lý thuyết siêu hình, hẹp hòi trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ. Khẳng định vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau. Vật chất quyết định ý thức, ý thức phản ánh vật chất. Định nghĩa vật chất của Lênin còn giúp chúng ta xác định rõ vật chất trong đời sống xã hội, và nó có ý thức trực tiếp định hướng khoa học tự nhiên, giúp khoa học tự nhiên ngày càng đi sâu vào nghiên cứu đa dạng cụ thể của vật chất trong giới vi mô. Bác bỏ tất cả những quan điểm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm khắc phục được tính siêu hình phiến diện của chủ nghĩa duy vật cũ khi quan niệm về vật chất, tạo cơ sở để mở đường cho khoa học tiếp tục phát triển, đem lại niềm tin cho con người trong nhận thức và cải tạo thế giới. Nó còn giúp chúng ta có thái độ khách quan và đòi hỏi chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan trong nhận thức và hành động. Cho đến nay định nghĩa vẫn còn giữ nguyên giá trị. 1.2 Ý thức Trên cơ sở khái quát thành tựu của khoa học, của thực tiễn xã hội, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc vật chất, bản chất phản ánh vật chất của ý thức để rút ra vai trò của ý thức trong mối quan hệ với vật chất. Quan điểm duy tâm khách quan cho rằng nguồn gốc của ý thức từ một lực lượng siêu tự nhiên (Ý niệm, Thượng đế, Chúa trời, v.v.). Quan điểm duy tâm chủ quan cho rằng ý thức là cái vốn có của con người, không do thần thánh ban cho, cũng không phải là sự phản ánh thế giới bên ngoài. 6 Quan điểm duy vật siêu hình coi ý thức là một dạng vật chất; “óc tiết ra ý thức cũng như gan tiết ra mật”. Tất cả các quan điểm đó đều sai lầm và nó được giai cấp thống trị dùng làm cơ sở lý luận, công cụ để nô dịch tinh thần đối với quần chúng nhân dân. Đứng vững trên quan điểm lập trường duy vật với phương pháp biện chứng triết học Mác-Lênin khẳng định rằng ý thức là đặc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc người. Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc của con ngưười thông qua lao động và ngôn ngữ. C.Mác nhấn mạnh rằng tinh thần, ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào bộ óc của con ngưười và được cải biến đi trong nó, ý thức là chức năng của bộ óc người. Mối quan hệ giữa bộ óc người hoạt động bình thường và ý thức là không thể tách rời, tất cả những quan niệm tách rời hoặc đồng nhất ý thức với óc người đều dẫn đến quan điểm duy tâm thần bí hoặc duy vật tầm thường. Ý thức là chức năng của bộ óc người hoạt động bình thường. Chủ nghĩa duy vật biện chứng trên cơ sở nhận thức đúng đắn nguồn gốc tự nhiên và xã hội của sự ra đời ý thức và nắm vững lý thuyết phản ánh đã luận giải một cách khoa học bản chất của ý thức. Vật chất và ý thức là hai hiện tượng chung nhất của thế giới hiện thực, mặc dù khác nhau về bản chất, nhưng giữa chúng luôn có mối liên hệ không tách rời. Do vậy, muốn hiểu đúng bản chất của ý thức cần xem xét nó trong mối quan hệ qua lại với vật chất, mà chủ yếu là đời sống hiện thực có tính thực tiễn của con người. Bản chất ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người. Như vậy, khi xem xét ý thức từ mặt bản thể luận, thì ý thức chỉ là "hình ảnh" về hiện thực khách quan trong óc người. Đối với con người, cả ý thức và 7 vật chất đều là hiện thực, nghĩa là đều tồn tại thực. Nhưng cần phân biệt giữa chúng có sự khác nhau, đối lập nhau về bản chất: vật chất là hiện thực khách quan; còn ý thức là hiện thực chủ quan. ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan, ý thức không phải là sự vật, mà chỉ là "hình ảnh" của sự vật ở trong óc người. ý thức tồn tại phi cảm tính, đối lập với các đối tượng vật chất mà nó phản ánh luôn tồn tại cảm tính. Thế giới khách quan là nguyên bản, là tính thứ nhất. Còn ý thức chỉ là bản sao, là "hình ảnh" về thế giới đó, là tính thứ hai.. Ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan. Về nội dung mà ý thức phản ánh là khách quan, còn hình thức mà nó phản ánh là chủ quan. ý thức là cái vật chất ở bên ngoài "di chuyển" vào trong đầu óc của con người và được cải biến đi ở trong đó. Ph. Ăngghen đã từng chỉ rõ: "Trên thực tế, bất kỳ phản ánh nào của hệ thống thế giới vào trong tư tưởng cũng đều bị hạn chế về mặt khách quan bởi những điều kiện lịch sử, và về mặt chủ quan bởi đặc điểm về thể chất và tinh thần của tác giả"3. Ý thức có đặc tính tích cực, sáng tạo gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội. Đây là một đặc tính căn bản để phân biệt trình độ phản ánh ý thức người với trình độ phản ánh tâm lý động vật, ý thức không phải là kết quả của sự phản ánh ngẫu nhiên, đơn lẻ, thụ động thế giới khách quan. Trái lại, đó là kết quả của quá trình phản ánh có định hướng, mục đích rõ rệt. Là hiện tượng xã hội, ý thức hình thành, tồn tại và phát triển luôn gắn liền với hoạt động thực tiễn xã hội phong phú. Thế giới không thoả mãn con người và con người đã quyết định biến đổi thế giới bằng hoạt động thực tiễn đa dạng, phong phú của mình. Thông qua thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới và 3 C. Mác và Ph. Ăngghen, toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1994, tập 20, tr. 57 8 qua đó chủ động khám phá sâu, rộng các đối tượng phản ánh. ý thức phản ánh ngày càng sâu sắc, từng bước xâm nhập các tầng bản chất, quy luật, điều kiện đem lại hiệu quả hoạt động thực tiễn. Trên cơ sở đó, bằng những thao tác của tư duy trừu tượng sẽ đem lại những tri thức mới để chỉ đạo hoạt động thực tiễn chủ động cải tạo thế giới trong hiện thực, sáng tạo ra "thiên nhiên thứ hai" in đậm dấu ấn của con người. Như vậy, sáng tạo là đặc trưng bản chất nhất của ý thức. ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người, song đây là sự phản ánh đặc biệt, gắn liền với thực tiễn sinh động cải tạo thế giới khách quan theo nhu cầu của con người. Từ kết quả nghiên cứu nguồn gốc và bản chất của ý thức cho thấy: Ý thức là một phạm trù dùng để chỉ một hình thức phản ánh cao nhất riêng có của óc người về hiện thực khách quan trên cơ sở thực tiễn xã hội - lịch sử (là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan). Tóm lại, ý thức chỉ là thuộc tính phản ánh của một dạng vật chất đặc biệt là bộ óc người; nói cách khác, chỉ có con người mới có ý thức. Loài người xuất hiện là kết quả của lịch sử vận động, phát triển lâu dài của thế giới vật chất. Cấu trúc hoàn thiện của bộ óc người là nền tảng vật chất để ý thức hoạt động; cùng với hoạt động thực tiễn và đời sống xã hội phong phú tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy ý thức hình thành và không ngừng phát triển. Không có bộ óc của con người, không có hoạt động thực tiễn xã hội thì không thể có ý thức. Sáng tạo là thuộc tính đặc trưng bản chất nhất của ý thức. Sức sáng tạo của ý thức trong tinh thần và sức sáng tạo của con người trong thực tiễn khác nhau về bản chất nhưng chỉ là những biểu hiện khác nhau của năng lực sáng tạo, khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới. 1.3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 9 Vật chất và ý thức là hai hiện tượng đối lập nhau về bản chất, nhưng giữa chúng luôn có mối quan hệ biện chứng, mặc dù vai trò không ngang bằng nhau. Dựa trên tổng kết toàn bộ lịch sử triết học, Ph.Ăngghen cho rằng: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”4 hay giữa ý thức với vật chất. Lê-nin đã chỉ ra rằng, sự đối lập giữa vật chất và ý thức có ý nghĩa tuyệt đối trong phạm vi hết sức hạn chế, trong trưường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trưước cái gì là caí có sau. Ngoài giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó chỉ là tưương đối. Tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện qua mối quan hệ giữa thực thể vật chất đặc biệt - bộ óc người và thuộc tính của chính nó. Các thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại đã chứng minh được rằng, giới tự nhiên có trước con người; vật chất là cái có trước, còn ý thức là cái có sau; vật chất là tính thứ nhất, còn ý thức là tính thứ hai. Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức. Sự vận động của thế giới vật chất là yếu tố quyết định sự ra đời của cái vật chất có tư duy là bộ óc người. Thế giới khách quan, mà trước hết và chủ yếu là hoạt động thực tiễn có tính xã hội - lịch sử của loài người là yếu tố quyết định nội dung mà ý thức phản ánh. Như vậy, để phân ranh giới của thế giới, cần có sự đối lập tuyệt đối giữa vật chất và ý thức trong khi trả lời câu hỏi cái nào có trước, cái nào có sau cái nào quyết định cái nào. Không như vậy sẽ lẫn lộn hai đưường lối cơ bản trong triết học, lẫn lộn vật chất và ý thức chỉ là tưương đối nếu nhưư chúng ta chỉ xét chúng nhưư là những nhân tố, những mặt không thể thiếu được trong hoạt động của con người, đặc biệt là hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con ngưười. 4 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20, tr.403 10 Bởi vì, ý thức nó không thể cải biến được sự vật, không có khả năng tự biến thành hiện thực, nhưng thông qua hoạt động thực tiễn của con ngưười, ý thức có thể cải biến được tự nhiên, thâm nhập vào sự vật, hiện thực hoá những mục đích mà nó đề ra cho hoạt động của mình. Điều này bắt nguồn từ chính ngay bản tính phản ánh, sáng tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bản tính đó mà chỉ có con người có ý thức mới có khả năng cải biến và thống trị tự nhiên, biến tự nhiên xa lạ thành tự nhiên trù phú và sinh động, tự nhiên của con ngưười. Vì vậy tính tưương đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện tính độc lập tưương đối tính năng động của ý thức. Mặt khác đời sống con ngưười là sự thống nhất không thể tách rời giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần trong đó những nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng, những nhu cầu vật chất cũng bị nhu cầu tinh thần hoá. Khẳng định tính tưương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức không có nghĩa là khẳng định rằng cả hai nhân tố có vai trò nhưư nhau trong đời sống và hoạt động của con ngưười. Trái lại triết học Mác- Lênin khẳng định rằng trong hoạt động của con ngưười những nhân tố vật chất và ý thức có tác động qua laị song sự tác động diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ hai của nhân tố ý thức. Trong hoạt động của con ngưười những nhu cầu vật chất xét đến cũng bao giờ cũng giữ vai trò quyết định chi phối và quy định mục đích hoạt động của con người vì nhân tố vật chất quy định khả năng các nhân tố tinh thần có thể tham gia hoạt động của con ngưười, tạo điều kiện cho nhân tố tinh thần này hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thực và qua đó quy định mục đích, chủ trưương biện pháp mà con ngưười đề ra cho hoạt động của mình bằng cách chọn lựa sửa chữa, bổ sung, cụ thể hoá mục đích chủ trưương biện pháp đó. Hoạt động nhận thức của con ngưười bao giờ cũng hưướng đến mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm 11 thoả mãn nhu cầu sống, hơn nữa cuộc sống tinh thần của con ngưười xét đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn những nhu cầu vật chất và những điều kiện vật chất hiện có. Khẳng định vai trò cơ sở quyết định trực tiếp của nhân tố vật chất. Hơn nữa trong hoạt động của mình con ngưười không thể để cho thế giới khách quan quy luật khách quan chi phối mà chủ động hướng nó đi theo con đường có lợi của mình. ý thức con người không thể tạo ra các đối tượng vật chất, cũng không thể thay đổi được quy luật vận động của nó. Do đó, trong quá trình hoạt động của mình con người phải tuân theo quy luật khách quan và chỉ có thể thoả mãn mục đích chủ trương trong phạm vi hoàn cảnh cho phép. Ý thức không tồn tại thụ động mà có tính độc lập tương đối tác động trở lại đối với thế giới vật chất, thông qua hoạt động thực tiễn của con người, chỉ đạo hoạt động cải tạo thế giới trong hiện thực theo nhu cầu của con người thông qua thực tiễn. Theo chỉ dẫn của C. Mác: "Tư tưởng căn bản không thực hiện được gì hết, muốn thực hiện được tư tưởng, thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn"5. Vai trò của ý thức cải tạo thế giới sẽ rất khác nhau, tuỳ thuộc vào chất lượng phản ánh hiện thực khách quan là đúng đắn hoặc sai lầm. ý thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người. ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan, ở mức độ nhất định, có thể kìm hãm hoạt động thực tiễn của con người trong cải tạo hiện thực khách quan. Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của con người. Con người dựa trên những tri thức về thế giới khách quan, hiểu biết những quy luật khách quan, từ đó đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp và ý chí quyết tâm cao để thực hiện thắng lợi mục tiêu đã xác định. Tính năng động, sáng tạo của ý thức mặc dù rất to lớn, nhưng nó không thể vượt quá tính quy định của những tiền đề vật chất đã xác định, phải dựa vào các điều kiện 5 C. Mác và Ph. Ăngghen, toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tập 2, tr. 211 12 khách quan và năng lực chủ quan của các chủ thể hoạt động. Nếu quên điều đó chúng ta sẽ lại rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa chủ quan, duy tâm, duy ý chí, phiêu lưu và tất nhiên không tránh khỏi thất bại trong hoạt động thực tiễn. Nghiên cứu nắm vững nguồn gốc, bản chất về ý thức, mối quan hệ vật chất - ý thức là cơ sở lý luận khoa học để khẳng định thế giới quan duy vật biện chứng, chống chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình trong giải quyết vấn đề cơ bản của triết học và biết vận dụng linh hoạt lý luận khoa học đó vào trong hoạt động thực tiễn, giải quyết đúng đắn mối quan hệ khách quan - chủ quan đem lại hiệu quả trong hoát động thực tiễn. Khẳng định tính độc lập và vai trò to lớn của ý thức tinh thần, về thực chất là để khẳng định vai trò to lớn của con người - chủ thể có ý thức đó. Thế giới không thoả mãn con người, và con người quyết định biến đổi thế giới bằng hành động của mình. Do đó về thực chất, sự tồn tại của đời sống xã hội là có tính chất thực tiễn. Con người tích cực hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới, khi đó ý thức trở thành tiền đề cơ bản hình thành mặt chủ quan của hoạt động với tính cách là mặt đối lập với khách quan. Biện chứng khách quan - chủ quan là vấn đề mấu chốt của mối quan hệ giữa hiện thực đang được nhận thức và cải tạo theo nhu cầu của con người với bản thân con người - chủ thể của hoạt động đó. Con người lao động sáng tạo để duy trì sự sống với chất lượng ngày càng cao của mình. Qua đó, dần dần ý thức đầy đủ về những cái tồn tại đối diện, quy định hoạt động của mình và giới hạn sức mạnh của bản thân mình. Khi nhận thức và hành động phải xuất phát từ bản thân sự vật, hiện tượng của thực tế khách quan, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan, không lấy ý muốn chủ quan của mình làm cơ sở định ra chính sách, không lấy ý chí áp đặt cho thực tế. Nắm vững nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn trọng sự thật, 13 tránh thái độ chủ quan, duy ý chí, nóng vội, định kiến, thiếu trung thực. Yêu cầu của nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn trọng quy luật khách quan và hành động theo quy luật khách quan. 2. Vận dụng của đảng ta trong thực tiễn cách mạng Việt Nam giai đoạn hiện nay. Đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, triết học Mác Lênin thừa nhận chỉ có một thế giói duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất, giữa chúng có mối quan hệ quan hệ biện chứng không tách rời nhau. Vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song ý thức có tác dụng trở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Vì vậy nguyên tắc phương pháp luận được rút ra để định hướng cho hoạt động của người là: Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức phải tôn trọng khách quan đồng thời phải phát huy cao độ tích tích cực, năng động sáng tạo của nhân tố chủ quan. 2.1 Tôn trọng khách quan Tôn trọng khách quan là tôn trọng vai trò quyết định của vật chất. Điều này đòi hỏi trong hoạt động và nhận thức của con người phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy khách quan làm cơ sở, căn cứ cho mọi hoạt động của mình, có nghĩa con người phải nhận thức và và vận dụng một cách đúng đắn những quy luật khách quan. Mục đích, đường lối, chủ trương con người đặt ra không được xuất phát từ ý muốn chủ quan mà phải xuất phát từ hiện thực khách quan, phải phản ánh được nhu cầu và tính tất yếu của đời sống vật chất trong từng giai đoạn cụ thể. Không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược cách mạng. Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc bệnh chủ quan duy ý chí. 14 Thực tiễn cách mạng Việt Nam, trước Đại hội Đảng lần thứ VI, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta đã phạm phải những sai lầm như: Nóng vội; xa rời thực tiễn; vi phạm nhiều qui luật khách quan trong đó quan trọng nhất là qui luật về quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần; duy trì quá lâu cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp; nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương… Tại Đại hội VI, Đảng đã tự phê bình một cách nghiêm khắc, đã phân tích đúng nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế xã hội, đề ra các định hướng lớn và xác định chủ trương đổi mới, đặc biệt là đổi mới về kinh tế, đã thực hiện mục tiêu của ba chương trình kinh tế lớn là: Lương thực - thực phẩm; hàng tiêu dùng; hàng xuất khẩu. Hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã đánh giá tình hình chính trị xã hội Việt Nam sau hơn bốn năm thực hiện đường lối đổi mới: Công cuộc đổi mới bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, nguồn lực sản xuất của xã hội được huy động tốt hơn, tốc độ lạm phát được hạn chế bớt; đời sống vật chất tinh thần của một bộ phận nhân dân có phần được cải thiện. So với trước đây thì mức khủng hoảng đã giảm bớt. Sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy... Tổng kết quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã rút ra bài học: "Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật 15 khách quan" 6. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam đã rút ra bài học kinh nghiệm: “ Đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn luôn sáng tạo”. Đổi mới là công cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Do đó phải sáng tạo. Sáng tạo nhưng luôn phù hợp với qui luật khách quan, với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Sáng tạo nhưng không bảo thủ trì trệ. Trong quá trình đổi mới, một mặt Đảng ta coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận để có cơ sở kịp thời điều chỉnh bổ sung, phát triển đường lối cho phù hợp. Mặt khác, Đảng rất coi trọng tìm tòi lựa chọn khâu đột phá mới làm chuyển biến tình hình. Trong khi khẳng định đổi mới toàn diện đồng bộ, triệt để, Đảng ta nhấn mạnh trước hết phải đổi mới tư duy về chính trị trong việc hoạch định đường lối chính sách đối nội, đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có sự đổi mới khác. Đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết vào việc đổi mới về kinh tế, khắc phục cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội, tạo tiền đề cần thiết về vật chất, tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo điều kiện đổi mới các lĩnh vực khác thắng lợi. Hiện nay, thực trạng trình độ lực lượng sản xuất ở nước ta chưa cao, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội chưa đầy đủ, đời sống của nhân dân chưa cao, chưa khai thác hết tiềm năng của đất nước thì việc Đảng chủ trương thực hiện đường lối kinh tế: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định 6 Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 5 16 hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng-an ninh”7. 7 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H 2001, tr.89 17 Trong Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020 căn cứ vào tình hình cụ thể, Đảng ta đã đề ra mục tiêu tổng quát trong phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện thực tiễn, đó là: “Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn 5 năm trước. Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh. Phát triển văn hóa, thực hiện dân chủ, tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tăng cường quốc phòng, an ninh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và chủ động hội nhập quốc tế. Giữ gìn hòa bình, ổn định, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ đất nước. Nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Phấn đấusớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.”8 Khi đã có mục đích, đường lối chủ trương đúng phải tổ chức được lực lượng vật chất để thực hiện nó. Mục đích, đường lối chủ trương thuộc về lĩnh vực tư tưởng. Tự bản thân tư tưởng không thể giải quyết được vấn đề gì cả mà phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Mác viết: "Tư tưởng căn bản không thực hiện được gì 8 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H 2016, tr. 271 18 hết, muốn thực hiện được tư tưởng, thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn".9 Mặt khác khi thực tiễn đặt ra những nhiệm vụ để con người giải quyết thì bản thân nó cũng sản sinh ra những điều kiện vật chất để giải quyết nhiệm vụ đó. Nên vấn đề trọng yếu trước tiên, quyết định thành công hay thất bại của con người, đó là con người có tìm ra, có huy động, tổ chức được những yếu tố vật chất thành lực lượng vật chất để thực hiện mục đích, đường lối chủ trương của mình hay không. Thực tiễn công cuộc kháng chiến cứu nước, chúng ta đã rất thành công trong việc huy động, tổ chức sức mạnh của mỗi người, của cả nước tạo nên sức mạnh của lực lượng vật chất khổng lồ của chiến tranh nhân dân, đánh bại những thế lực hơn chúng ta nhiều lần về tiềm lực kinh tế lẫn quân sự để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Ngày nay, với quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng ta xác định: “ Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”10 cũng chính là tạo ra lực lượng vật chất để thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. 2.2 Phát huy tính năng động chủ quan Phát huy tính năng động chủ quan là quá trình phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hoá những tính chất ấy. Việc phát huy tính năng động chủ quan của con 9 C. Mác và Ph. Ăngghen, toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tập 2, tr. 211 10 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H 2001, tr.86 19 người được thể hiện rất phong phú và đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, biểu hiện: Thứ nhất, phải tôn trọng tri thức khoa học Tri thức khoa học là tri thức chân thực về thế giới, được khái quát từ thực tiễn của đời sống xã hội và được thực tiễn kiểm nghiệm. Tri thức khoa học có một vị trí đặc biệt hết sức quan trọng trong cuộc sống của con người, nhân loại vì nó chính là cơ sở, động lực phát triển của xã hội. Những bước tiến của lịch sử nhân loại từ trước đến nay đều gắn liền với những thành tựu của tri thức khoa học. Tri thức khoa học được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, song ở từng lĩnh vực của đời sống xã hội đó không phải là sự cô lập tách rời mà chúng có mối quan hệ biện chứng khắng khít tác động qua lại lẫn nhau, là cơ sở, tiền đề để bổ sung và giải thích, khái quát hoá cho nhau. Việc phân chia chúng thành các ngành khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn … chỉ mang tính tương đối. Chính vì vậy việc tôn trọng tri thức khoa học không chỉ là chống lại sự tuyệt đối hoá vai trò của chủ nghĩa kinh nghiệm mà còn là sự chống lại việc tuyệt đối hoá bất cứ một loại khoa học nào trong hệ thống các khoa học. Đây là cơ sở tiền đề giúp con người hoạt động có hiệu quả trên các lĩnh vực xã hội khác nhau. Nhận thức sâu sắc về vai trò tầm quan trọng của khoa học trong bối cảnh phức tạp của thế giới hiện nay, đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đảng ta đã khẳng định: “ Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”11. Thực tiễn phát triển khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo ở nước ta trong những năm qua cho thấy, chúng ta đã bước đầu nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ của đất nước, thúc đẩy việc đưa các tiến bộ khoa 11 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H 2006, tr.94,95 20 học và công nghệ vào sản xuất và đời sống, góp phần đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội tạo ra những tiền đề cần thiết để bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Báo cáo chính trị tại Đại hội IX đánh giá : “ khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ chuyển biến tích cực, gắn bó hơn với phát triển kinh tế-xã hội ”.12 Tiếp tục thực hiện quan điểm đó thì tại báo cáo chính trị tại đại hội X đã đánh giá: “ giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển và được đầu tư nhiều hơn. … khoa học và công nghệ góp phần tích cực vào việc hoạch định đường lối, chính sách, điều tra… phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và quốc phòng an ninh”.13 Để thực hiện nội dung tôn trọng tri thức khoa học tạo cơ sở tiền đề, động lực nhằm phát triển kinh tế- xã hội nhanh và bền vững, Đảng và Nhà nước chủ trương “thực hiện cơ chế kết hợp chặt chẽ giữa khoa học xã hội và nhân văn với khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ. Đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí thức, trọng dụng và tôn vinh nhân tài, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, thu hút chuyên gia giỏi của thế giới đóng góp vào sự phát triển đất nước bằng nhiều hình thức thích hợp” Thứ hai, Phải làm chủ tri thức khoa học và truyền bá tri thức khoa học vào quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin định hướng cho quần chúng hành động. Trên cơ sở tôn trọng tri thức khoa học, thì phải thực sự làm chủ tri thức khoa học. Đây là một quá trình lâu dài và hết sức khó khăn. Việc vươn lên làm chủ tri thức khoa học không chỉ liên quan đến quan niệm của con người về khoa 12 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H 2001, tr.69 13 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H 2006, tr.358
- Xem thêm -