Tài liệu Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự luận văn ths. luật

  • Số trang: 111 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 58 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39841 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ------------------ LÊ THỊ THU HIỀN MỐI LIÊN HỆ GIỮA TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ Chuyên ngành: Luật Hình sự Mã ngành : 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TSKH. PGS. Lê Văn Cảm HÀ NỘI - 2009 MỤC LỤC Trang Phần mở đầu 1 Chương 1: vài nét chủ yếu về trách nhiệm hình sự và miễn trách 1.1. nhiệm hình sự 8 Về trách nhiệm hình sự 8 1.1.1. Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của trách nhiệm hình sự 8 1.1.2. Cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự 13 1.1.3. Phân biệt trách nhiệm hình sự với các dạng trách nhiệm pháp 1.2. lý khác 19 Về miễn trách nhiệm hình sự 21 1.2.1. Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự 21 1.2.2. Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với một số khái niệm có liên quan 1.3. 27 Phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa hai chế định trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự 34 Chương 2: ý nghĩa, đặc điểm, nội dung cơ bản của mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự 2.1. ý nghĩa của việc nghiên cứu mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự 2.2. 37 37 Đặc điểm của mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự 39 2.3. Nội dung cơ bản của mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự 47 2.3.1. Về cơ sở pháp lý và những điều kiện áp dụng trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự 48 2.3.2. Về đối tượng áp dụng trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự 53 2.3.3. Về hậu quả pháp lý của việc áp dụng trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự 57 2.3.4. Về chủ thể có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự 62 2.3.5. Về trình tự, thủ tục áp dụng trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự 66 2.3.6. Về mối quan hệ của trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự với các chế định khác 68 Chương 3: Một số kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện chế định trách nhiệm hình sự và chế định miễn trách nhiệm hình sự 3.1. 71 Thực tiễn áp dụng, sự cần thiết phải hoàn thiện chế định trách nhiệm hình sự và chế định miễn trách nhiệm hình sự 71 3.2. Hoàn thiện chế định trách nhiệm hình sự 83 3.3. Hoàn thiện chế định miễn trách nhiệm hình sự 88 Kết luận 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, để công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm đạt hiệu quả cao thì việc hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam là một trong những yêu cầu cần thiết và cấp bách. Khi nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đặc biệt là hai chế định trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự chúng tôi nhận thấy, hai chế định này không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong pháp luật hình sự Việt Nam mà còn chi phối hầu hết các chế định khác được quy định trong Bộ luật hình sự. Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết về chế định trách nhiệm hình sự và chế định miễn trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, khi đề cập đến hai chế định này vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, hàng loạt vấn đề chưa được làm sáng tỏ như: khái niệm trách nhiệm hình sự, cơ sở và những điều kiện áp dụng trách nhiệm hình sự, khái niệm, bản chất pháp lý và các hậu quả cụ thể của miễn trách nhiệm hình sự, việc quy định các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự chưa rõ ràng và thống nhất... Đặc biệt, các công trình này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu từng chế định trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, khái quát về mối liên hệ giữa chúng mà chưa đi sâu vào khai thác nội dung của mối liên hệ này. Mặt khác, thực tiễn áp dụng hai chế định này cũng đã đặt ra nhiều vướng mắc đòi hỏi khoa học luật hình sự phải nghiên cứu, giải quyết như cơ sở, điều kiện của trách nhiệm hình sự, căn cứ áp dụng miễn trách nhiệm hình sự, ranh giới khi nào một người lẽ ra phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng lại được miễn trách nhiệm hình sự là rất mong manh, văn bản giải thích -1- hướng dẫn áp dụng thiếu hệ thống, chồng chéo nhau, chưa có sự vận dụng thống nhất từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, có hệ thống mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời đánh giá việc áp dụng hai chế định này trong thực tiễn để đưa ra những kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện chúng trong giai đoạn hiện nay không những có ý nghĩa lý luận thực tiễn và pháp lý quan trọng, mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết. Đây cũng là lý do luận chứng cho việc chúng tôi quyết định chọn đề tài "Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự" làm luận văn thạc sỹ luật học của mình. 2. Tình hình nghiên cứu Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự là hai chế định quan trọng của pháp luật hình sự Việt Nam, chúng có mối liên hệ mật thiết, hữu cơ và thống nhất với nhau. Vì vậy, nghiên cứu hai chế định này ở các mức độ khác nhau đã được một số nhà khoa học - luật gia trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Ở Liên Xô trước đây đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, điển hình là các công trình: "Trách nhiệm hình sự và cấu thành tội phạm" (1974) của Karpusin M. P., Kurlianđxki V. I; "Trách nhiệm hình sự và hình phạt" (1976) của BagriSakhmatôv L. V; "Miễn trách nhiệm hình sự" trong tuyển tập "Nghiên cứu pháp luật" của tác giả Kevin (2003); "Chương 16 - Miễn trách nhiệm hình sự" của Xaveliôva B.X (trong sách: Luật hình sự Liên bang Nga - Phần chung, Nxb Luật gia Matxcơva, 2001); v.v... Theo đó, những công trình này chủ yếu tập trung làm sáng tỏ nội dung, cơ sở của trách nhiệm hình sự; điều kiện miễn -2- trách nhiệm hình sự và phân tích các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự cụ thể trong pháp luật hình sự thực định. Ở nước ta, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về các nội dung liên quan đến chế định trách nhiệm hình sự, chế định miễn trách nhiệm hình sự. Đáng chú ý là những công trình sau: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự của TSKH. PGS. Lê Cảm (trong sách chuyên khảo sau đại học - Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; Trách nhiệm hình sự của PGS.TS Trần Văn Độ (trong sách Giáo trình luật hình sự Việt Nam Phần chung, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001); Trách nhiệm hình sự và hình phạt của tập thể tác giả do PGS.TS Nguyễn Ngọc Hoà chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; Trách nhiệm hình sự và hình phạt của TS. Trương Quang Vinh (trong sách Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000); Chế định trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học của Phạm Mạnh Hùng, Trường đại học Luật Hà Nội, 2004; Về các dạng miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999 (Tạp chí Toà án nhân dân, số 1/2001); Về sáu dạng miễn trách nhiệm hình sự khác (ngoài Điều 25) trong Bộ luật hình sự năm 1999 (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 2/2001); Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam (Tạp chí Khoa học, số 4/1997) của TS. Nguyễn Ngọc Chí; Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự (Tạp chí Luật học, số 5/1997) của PGS.TS. Lê Thị Sơn; Về chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999 (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 12/2001) của PGS.TS. Phạm Hồng Hải; Điều 48 - Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Trong sách: Mô hình lý luận về Bộ luật hình sự Việt Nam (Phần chung); ... -3- Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đưa ra bàn luận và giải quyết nhiều vấn đề bức xúc mà lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đặt ra. Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu từng chế định trách nhiệm hình sự, chế định miễn trách nhiệm hình sự một cách riêng lẻ, có một số công trình đề cập đến mối liên hệ giữa hai chế định này nhưng chỉ được xem xét mối liên hệ giữa hai chế định này như khối kiến thức cơ bản một phần, một mục trong các giáo trình giảng dạy, một chương của sách chuyên khảo hay một phần của luận văn, luận án mà chưa có công trình nào đề cập đến việc nghiên cứu với đúng tên gọi "Mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự" một cách có hệ thống, toàn diện, đồng bộ và chuyên khảo ở cấp độ một luận văn thạc sỹ luật học. 3. Mục đích, đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3.1. Mục đích nghiên cứu Trước yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong tình hình mới, mục đích của đề tài là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự. Đặc biệt chú trọng khai thác mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, đưa ra những kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về mối liên hệ này. Qua đó góp phần tạo ra sự nhận thức đúng đắn, toàn diện khi áp dụng lý luận trên để giải quyết các vụ án hình sự trong thực tiễn. 3.2. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự cụ thể là: khái niệm và các đặc điểm cơ bản của trách nhiệm hình sự, cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự, phân biệt trách nhiệm hình sự với các dạng trách nhiệm pháp lý khác; khái -4- niệm và các đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự trong tương quan với những chế định khác, ý nghĩa, đặc điểm, nội dung cơ bản của mối quan hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, qua đó đưa ra một số kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện hai chế định này. 3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung vào giải quyết những nhiệm vụ sau: Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề về chế định trách nhiệm hình sự, chế định miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời so sánh hai chế định này với nhau và với một số chế định khác trong pháp luật hình sự Việt Nam, luận văn đi sâu vào khai thác ý nghĩa, đặc điểm, nội dung cơ bản của mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự. Về mặt thực tiễn: nghiên cứu, đánh giá việc vận dụng lý luận về trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, đánh giá mối liên hệ giữa chúng trong thực tiễn xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng. Đồng thời, trên cơ sở những vướng mắc thiếu sót mà thực tiễn đặt ra để phân tích về mặt lý luận và đưa ra những kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện hai chế định này. Qua đó, có thể hiểu được một cách sâu sắc về mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời nâng cao hiệu quả của việc vận dụng lý luận trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự. 3.4. Phạm vi nghiên cứu Trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự là hai chế định tương đối phức tạp và có nhiều nội dung liên quan đến các chế định khác trong Bộ luật hình sự như: hình phạt, miễn hình phạt, các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự,... Bởi vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu mối liên hệ giữa -5- trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự cũng như việc đưa ra những kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện hai chế định này. 4 Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lý luận về Nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự và triết học, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học luật hình sự Việt Nam. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: so sánh, phân tích tài liệu, nghiên cứu lịch sử, tổng hợp,... Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào các văn bản pháp luật của Nhà nước và những giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo của thực tiễn xét xử thuộc lĩnh vực pháp luật hình sự do Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn liên quan đến trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm trong các báo cáo của ngành Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hơn 300 bản án hình sự, hơn 100 quyết định giám đốc thẩm và hàng trăm tài liệu vụ án hình sự trong thực tiễn xét xử, cũng như những thông tin trên mạng internet để phân tích, tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn. 5. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và điểm mới về khoa học của luận văn Về mặt lý luận: đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ đầu tiên đề cập một cách sâu sắc về mối liên hệ giữa hai chế định trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự ở cấp độ một luận văn thạc sỹ luật học. -6- Về mặt thực tiễn: Luận án góp phần vào việc xác định đúng đắn ranh giới khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự phải chịu trách nhiệm hình sự với những căn cứ, điều kiện để một người thực hiện hành vi phạm tội được (có thể) được miễn trách nhiệm hình sự trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời đưa ra các kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện chế định trách nhiệm hình sự và chế định miễn trách nhiệm hình sự ở khía cạnh lập pháp, cũng như việc áp dụng chúng trong thực tiễn. Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự. Điểm mới về khoa học của luận văn: ở một chừng mực nhất định có thể khẳng định rằng, đây là nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ đầu tiên ở cấp độ một Luận văn thạc sĩ đề cập sâu sắc đến mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự. Đồng thời tác giả luận văn còn chỉ ra những vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn áp dụng hai chế định này, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện chế định trách nhiệm hình sự và chế định miễn trách nhiệm hình sự 6. Bố cục của Luận văn Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm ba chương với kết cấu như sau: Chương 1: Vài nét chủ yếu về trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự; Chương 2: Ý nghĩa, đặc điểm, nội dung cơ bản của mối liên hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự. -7- Chương 3: Một số kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện chế định trách nhiệm hình sự và chế định miễn trách nhiệm hình sự. -8- Chương 1 VÀI NÉT CHỦ YẾU VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1.1. Về trách nhiệm hình sự Một trong những đòi hỏi của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong pháp luật hình sự là phải xác định rõ giữa những hành vi bị coi là tội phạm (bị xử lý bằng chế tài pháp luật hình sự) và những hành vi không phải là tội phạm (bị xử lý bằng các chế tài pháp lý khác). Đây là một trong những cơ sở quan trọng để bảo đảm việc xử lý các hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm công bằng xã hội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, đồng thời khuyến khích động viên mọi người tích cực tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm. Chế định trách nhiệm hình sự là một chế định quan trọng trong luật hình sự Việt Nam, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội, là nền tảng, là căn cứ để các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án) xác định một chủ thể có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không? 1.1.1. Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của trách nhiệm hình sự Trước hết, để hiểu trách nhiệm hình sự là gì thì cần phải hiểu khái niệm "trách nhiệm". Thật vậy, thuật ngữ „trách nhiệm” thường được hiểu theo hai nghĩa. Một là, trách nhiệm là nghĩa vụ, bổn phận của một người trước người khác, trước xã hội hoặc trước Nhà nước. Hai là, trách nhiệm là hậu quả bất lợi mà một người phải gánh chịu trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước do đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó. -9- Trách nhiệm pháp lý, trong đó có trách nhiệm hình sự, được dùng theo nghĩa thứ hai. Trách nhiệm hình sự là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự Việt Nam bên cạnh ba chế định khác (đạo luật hình sự, tội phạm và hình phạt). Quan điểm và nhận thức về khái niệm trách nhiệm hình sự là cơ sở lý luận cho việc xây dựng các khái niệm khác của luật hình sự. Trong khoa học pháp lý hiện nay, có nhiều quan điểm về khái niệm trách nhiệm hình sự, được phân chia theo từng nhóm như sau: Nhóm quan điểm thứ nhất: nêu khái niệm trách nhiệm hình sự dưới góc độ hậu quả pháp lý: "Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định” [6, tr. 122]; “Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước” [41, tr. 41]. Nhóm quan điểm thứ hai: nhìn nhận trách nhiệm hình sự với tư cách là một dạng của trách nhiệm pháp lý: “Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam bằng một hậu quả bất lợi do Toà án áp dụng tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó thực hiện” [29, tr. 14]; “Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích” [21, tr. 126]. Như vây, từ sự tìm hiểu các quan điểm khác nhau về trách nhiệm hình sự kết hợp với việc nhận thức một số vấn đề có liên quan đến trách nhiệm hình sự, theo chúng tôi, khái niệm trách nhiệm hình sự có thể được định nghĩa - 10 - như sau: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự và được thể hiện bằng việc áp dụng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định đối với người phạm tội. Qua khái niệm này có thể nhận thấy: trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh khi có sự việc phạm tội và chấm dứt khi người bị kết án đã được xoá án tích theo các căn cứ quy định của pháp luật hình sự; đồng thời, trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định – một bên là Nhà nước còn bên kia là người phạm tội. Căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, trên cơ sở khái niệm trách nhiệm hình sự và thực tiễn áp dụng có thể nhận thấy trách nhiệm hình sự có một số đặc điểm cơ bản như sau: Một là, trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác. Bởi vì trong số các vi phạm pháp luật như vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm pháp luật đất đai, vi phạm pháp luật dân sự,… thì vi phạm pháp luật hình sự là loại vi phạm nghiêm trọng nhất và nó chỉ phát sinh khi có sự việc phạm tội. Mức độ nghiêm khắc của trách nhiệm hình sự xuất phát từ vai trò quan trọng của các quan hệ pháp luật hình sự. Tính nghiêm khắc của trách nhiệm hình sự được thể hiện ở chính hình phạt. Theo TSKH. PGS. Lê Cảm thì “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Toà án để tước đi hay hạn chế quyền tự do của người bị kết án theo quy định của pháp luật hình sự” [9, tr. 47]. Hình phạt có thể tước đi một số quyền và lợi ích của con người như quyền sống (nếu hình phạt được áp dụng là tử hình), quyền tự do (nếu hình phạt được áp dụng là hình phạt tù), quyền sở hữu, quyền chính trị. - 11 - Hai là, trách nhiệm hình sự được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định: một bên là Nhà nước còn bên kia là người phạm tội. Trách nhiệm hình sự chính là trách nhiệm của người phạm tội đối với Nhà nước. Bản thân khái niệm trách nhiệm hình sự đã phản ánh mối liên hệ đặc biệt giữa Nhà nước và người phạm tội. Trong mối liên hệ này, mỗi bên đều có những quyền và nghĩa vụ nhất định. Nhà nước (mà đại diện cho nó là cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền) có quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đồng thời cũng có nghĩa vụ phải thực hiện các quyền của mình trong giới hạn do pháp luật quy định, mặt khác còn phải tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội. Ví dụ, một người phạm tội nhưng chưa bị Toà án kết tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì người đó chưa bị coi là có tội và chưa phải chịu hình phạt. Do vậy, các cơ quan tư pháp hình sự trong quá trình thực hiện nhiệm vụ không được xâm phạm các quyền lợi ích hợp pháp khác của người đã thực hiện hành vi phạm tội đó. Người phạm tội là một bên chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự. Người phạm tội có nghĩa vụ phải chịu sự tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền tự do nhất định nhưng đồng thời cũng có quyền yêu cầu sự tuân thủ từ phía Nhà nước tất cả các quyền và lợi ích của con người và của công dân theo quy định của pháp luật. Ví dụ quyền được mời luật sư bào chữa cho mình, quyền được trình bày ý kiến, quyền tranh luận tại phiên toà, quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, quyền kháng cáo, quyền khiếu nại đối với các bản án của Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật. Ba là, trách nhiệm hình sự được xác định bằng một trình tự đặc biệt bởi cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền do luật hình sự quy định. Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người phạm tội phải trải qua một quá trình đặc - 12 - biệt được thực hiện bởi các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền cụ thể bao gồm các giai đoạn sau: 1) Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự: bắt đầu từ việc cơ quan có thẩm quyền nhận tin báo, tố giác về tội phạm và kết thúc bằng việc ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Trong giai đoạn này các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự nhằm làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án. 2) Giai đoạn điều tra, truy tố: theo quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra được tiến hành điều tra tất cả các loại tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định để chứng minh sự việc phạm tội và người thực hiện tội phạm, lập hồ sơ đề nghị truy tố, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, kiến nghị các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp khắc phục và phòng ngừa. Sau khi nhận được hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra nếu thấy có đủ chứng cứ chứng minh tội phạm và hành vi phạm tội của bị can thì Viện kiểm sát truy tố bị can trước toà án bằng bản cáo trạng và quyết định truy tố. 3) Giai đoạn xét xử: Toà án sau khi nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy đúng tội danh như cáo trạng thì quyết định đưa vụ án ra xét xử nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm tội hay không để từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của vụ án mà Viện kiểm sát truy tố. Bốn là, trách nhiệm hình sự chỉ mang tính chất cá nhân, áp dụng riêng đối với người phạm tội: tại Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Có nghĩa là trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng đối với riêng bản thân người phạm tội (điều này thể hiện rõ nguyên tắc trách nhiệm - 13 - hình sự cá nhân). Cá nhân phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự phải là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định do luật hình sự quy định. Năm là, trách nhiệm hình sự chỉ được thể hiện trong bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định: Chỉ có bản án kết tội của Toà án mới xác định một người có hành vi nguy hiểm cho xã hội có phải là có tội hay không sau khi tội phạm mà họ thực hiện được chứng minh. Nếu không có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực hiện pháp luật thì không thể nói đến trách nhiệm hình sự đối với một người. Điều 72 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ các quyền của con người trong hoạt động tư pháp hình sự – nguyên tắc suy đoán vô tội: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”. Như vậy, bản án kết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý xác nhận một người phạm tội chính thức bị coi là có tội. Trách nhiệm hình sự cũng chỉ được thể hiện trong bản án kết tội của Toà án bằng việc áp dụng một hay nhiều biện pháp cưỡng chế nào đó đối với người phạm tội. Các biện pháp cưỡng chế hình sự mà Toà án áp dụng có thể là hình phạt, có thể là các biện pháp tư pháp, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. 1.1.2. Cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý của một người thực hiện tội phạm mà phải chịu sự tác động của biện pháp cưỡng chế đặc biệt của Nhà nước do Bộ luật hình sự quy định. Muốn truy cứu trách nhiệm hình sự một người thực hiện tội phạm phải dựa trên những cơ sở và những điều kiện nhất định. - 14 - Khái niệm “cơ sở” và “điều kiện” của trách nhiệm hình sự là hai khái niệm khác nhau. Dưới góc độ ngôn ngữ “cơ sở” là cái nền tảng, trong quan hệ với những cái xây dựng trên đó hoặc dựa trên đó mà tồn tại, phát triển [38, tr. 215]. Còn “điều kiện” là điều nêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một việc gì đó hoặc đó là cái cần có thể để cho một cái khác có thể có hoặc xảy ra [38, tr. 321-322]. Cơ sở của trách nhiệm hình sự được coi là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội, là nền tảng, là căn cứ để các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án) xác định một chủ thể có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không? Giải quyết tốt vấn đề cơ sở của trách nhiệm hình sự không chỉ có ý nghĩa quan trọng về pháp lý, về chính trị – xã hội mà còn là một trong những tiền đề quan trọng để đảm bảo các nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam. Hiện nay, trong khoa học luật hình sự Việt Nam chưa có quan điểm thống nhất về cơ sở của trách nhiệm hình sự: Có quan điểm cho rằng cơ sở của trách nhiệm hình sự là cấu thành tội phạm: “cấu thành tội phạm là cơ sở của trách nhiệm hình sự và đó là cơ sở duy nhất cần và đủ của trách nhiệm hình sự” [43, tr. 5-6]. Có quan điểm cho rằng “cơ sở của trách nhiệm hình sự là tội phạm - hành vi nguy hiểm cho xã hội chứa đựng các yếu tố cấu thành tội phạm” [17, tr. 182]; quan điểm khác cho rằng “cơ sở của trách nhiệm hình sự là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm” [6, tr. 133]. Các quan điểm này, theo tôi mới chỉ khái quát được các dấu hiệu để nhận biết khi nào một người bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chưa nêu lên được bản chất, vấn đề cốt lõi của nội hàm “cơ sở của trách nhiệm hình sự”. Qua nghiên cứu các quan điểm trên, đồng thời căn cứ vào các quy định của - 15 - pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, theo chúng tôi cơ sở của trách nhiệm hình sự có thể được định nghĩa là: cơ sở của trách nhiệm hình sự là căn cứ chung, có tính chất bắt buộc và do luật hình sự quy định, trên cơ sở đó các cơ quan tiến hành tố tụng xác định trách nhiệm hình sự một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm cơ sở của trách nhiệm hình sự, có thể rút ra một số đặc điểm của cơ sở của trách nhiệm hình sự như sau: Một là, cơ sở của trách nhiệm hình sự là căn cứ chung, cần thiết và có tính chất bắt buộc mà dựa vào đó các cơ quan pháp luật hình sự có thẩm quyền của Nhà nước mới có thể truy cứu trách nhiệm hình sự một người thực hiện hành vi phạm tội. Hai là, cơ sở của trách nhiệm hình sự phải được quy định rõ ràng trong pháp luật hình sự thực định của một quốc gia. Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 khẳng định: “chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Theo luật hình sự Việt Nam, quy định này bao hàm hai nội dung: 1) Chủ thể của hành vi phạm tội chỉ có thể là con người cụ thể chứ không phải bất cứ tập thể hay cộng đồng nào. Trách nhiệm hình sự chỉ có thể là trách nhiệm cá nhân. Bộ luật hình sự Việt Nam không quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội. 2) Trách nhiệm hình sự chỉ có thể được áp dụng đối với người phạm tội. Nghĩa là, một người chỉ có thể phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình và hành vi này phải được quy định trong Bộ luật hình sự. Điều luật đã ghi nhận một nguyên tắc được thừa nhận chung từ thời La Mã cổ đại, đó là: “Nullum crimen nulla poen sine lege” (không có tội phạm, không có hình phạt nếu không có luật quy định). Một người chỉ phải chịu trách - 16 - nhiệm hình sự về hành vi do mình thực hiện khi hành vi đó được quy định trong Bộ luật hình sự là tội phạm. Một hành vi chỉ bị coi là nguy hiểm cho xã hội khi nó không phù hợp, đi ngược lại với lợi ích của Nhà nước và xã hội. Còn những hành vi phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội ngay cả khi chúng gây ra những thiệt hại nhất định nào đó, về khách quan, các quan hệ pháp luật mà luật hình sự bảo vệ thì cũng không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội (theo quan điểm của giai cấp thống trị). Chẳng hạn, những hành vi được thực hiện trong trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết chỉ có thể nói đến tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi khi hành vi đó là có lỗi, nghĩa là được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà lỗi chủ yếu là yếu tố thuộc phương diện chủ quan của tội phạm. Do đó, không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bất cứ hành vi nào, nếu không xác định được yếu tố có lỗi. Theo luật hình sự Việt Nam, trách nhiệm hình sự tồn tại trong giới hạn của mối quan hệ giữa một bên là Toà án nhân danh Nhà nước và một bên là người phạm tội. Người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự tức là họ bị kết tội và có thể phải chịu hình phạt nhất định. Thời điểm bắt đầu thực hiện trách nhiệm hình sự là từ khi Toà án tuyên một bản án có hiệu lực pháp luật mà trong đó khẳng định lỗi của người phạm tội và kết thúc khi người bị kết án được xoá án tích theo quy định của luật hình sự. Căn cứ pháp lý để buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999: “chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Quy định này thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đó là: tội phạm phải được quy định trong Bộ luật hình sự và trách nhiệm hình sự cũng chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội đã được Bộ luật hình sự quy định. Ngoài Bộ luật hình sự không có văn bản pháp luật nào khác quy định về tội phạm. - 17 -
- Xem thêm -