Tài liệu Luận văn tốt nghiệp ngành Văn hóa du lịch: Thực trạng và giải pháp khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên

  • Số trang: 71 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 160 |
  • Lượt tải: 0
lekhoa102464

Tham gia: 30/07/2016

Mô tả:

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỈNH PHÚ YÊN 2.1. Hiện trạng tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên 2.1.1. Hiện trạng tài nguyên du lịch tự nhiên 2.1.1.1. Cảnh quan địa hình  Gành Đá Đĩa Dọc bờ biển của đất nước Việt Nam có rất nhiều gành đá, song có lẽ độc đáo và hấp dẫn vào bậc nhất phải kể đến gành Đá Đĩa thuộc xã An Ninh Đông, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; cách thành phố Tuy Hoà khoảng hơn 40km và cách thị trấn Chí Thạnh khoảng 11km về hướng Đông. Gành Đá Đĩa có chiều rộng khoảng 50 m và trải dài hơn 200 m, là một thắng cảnh thiên tạo hiếm thấy. Đá ở đây được dựng đứng theo từng cột, liền khít nhau, có tiết diện hình lục giác hoặc hình tròn, giống như những cái đĩa xếp chồng lên nhau nên mới có tên gọi là gành Đá Đĩa. Theo kết quả nghiên cứu địa chất, đá ở gành Đá Đĩa là loại đá bazan được hình thành do hoạt động của núi lửa cách nay hàng triệu năm. Nham thạch phun ra từ miệng núi lửa gặp nước biển bất ngờ bị đông cứng lại, đồng thời xảy ra hiện tượng ứng lực gây nên sự rạn nứt toàn bộ khối nham thạch theo mạch dọc, xiên, ngang khiến những cột đá bị cắt thành nhiều khúc. Gành Đá Đĩa được Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch công nhận di tích thắng cảnh cấp Quốc gia ngày 23/01/1997.  Núi Đá Bia Núi Đá Bia (còn gọi là Thạch Bi Sơn) cao 706 m, sừng sững uy nghi ở phía Bắc dãy Đèo Cả. Trên đỉnh núi là một khối đá khổng lồ cao 76 m. Từ xa xưa, Núi Đá Bia được xem là ngọn núi thiêng với tên gọi là Lingaparvata (có nghĩa là Linga – đấng đại sơn thần, hiện thân của thần Siva trong tín ngưỡng của người Chăm. Đặc biệt là sự kiện năm 1471, Vua Lê Thánh Tông trong hành trình mở mang bờ cõi về phía Nam, khi đến núi này đã cho khắc chữ vào khối đá lớn trên đỉnh núi, từ đó núi có tên là Núi Đá Bia hay Thạch Bi Sơn.  Núi Chóp Chài Nằm ở phía Tây Quốc lộ 1A, cách trung thành phố Tuy Hoà 4 km về phía Bắc. Núi Chóp Chài còn có tên là Nựu Sơn cao 391m, nhưng trông thật đường bệ. Núi Chóp Chài có những dấu tích huyền thoại như Trai Thuỷ tục danh là Hang Dơi, hang này rộng khoảng 5m, chiều sâu hun hút. Trong hang có những tảng đá phẳng lì. Núi Chóp Chài nằm giữa vùng thiên nhiên tuyệt đẹp, gắn với những giá trị nhân văn, đã đi vào lịch sử ký ức của nhân dân trong vùng, nơi đây có thể phát triển loại hình du lịch du lịch văn hoá, tham quan, ngắm cảnh lý tưởng.  Núi Nhạn Núi Nhạn là thắng cảnh đã để lại nhiều ấn tượng đối với du khách khi đặt chân đến tỉnh Phú Yên. Núi nhạn nằm bên bờ Bắc sông Đà Rằng, thuộc địa phận phường 1, thành phố Tuy Hòa. Đứng ở độ cao 64 m trên đỉnh núi Nhạn, du khách có thể ngắm nhìn vẻ đẹp toàn cảnh Tuy Hoà nằm bên bờ biển Đông và dòng sông Đà Rằng với 4 chiếc cầu đường sắt và đường bộ chạy song song qua sông. Đây là nơi có thể phát triển loại hình du lịch tham quan, ngắm cảnh thú vị. 2.1.1.2. Tài nguyên biển  Bãi Bàng – Bãi Gốc Từ Quốc lộ 1A đi theo đường ô tô liên xã khoảng 10 km về phía Đông hoặc theo lộ trình ven biển từ Bãi Ngà (thôn Vũng Rô) khoảng vài hải lý hoặc đường bộ khoảng vài km du khách sẽ đến Bãi Bàng và Bãi Gốc - một thắng cảnh tự nhiên tuyệt đẹp của xã Hoà Tâm. Bãi cát phân bố trên địa hình rộng bằng phẳng, trải dài trên 3 km từ Mũi Lớn ở hướng Nam đến núi Bãi Gốc ở hướng Bắc. Cát ở đây trắng mịn, độ dốc thoai thoải dần ra xa với nước biển luôn trong xanh, sạch và lặng sóng. Ở đây rất tốt cho cho du lịch nghỉ dưỡng và tắm biển.
DANH MỤC BẢNG BIỂU TÊN BẢNG 1. Bảng 2.1. Tổng hợp doanh thu từ du lịch Phú Yên giai đoạn 2005 – 2009 2. Bảng 3.1. Tổng hợp kinh phí tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử và Trang 49 54 danh thắng ở tỉnh Phú Yên đến năm 2020. TÊN SƠ ĐỒ - HÌNH ẢNH 1. Hình 2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên ở tỉnh Phú Yên 2. Hình 2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn ở tỉnh Phú Yên 3. Sơ đồ 2.1. Tuyến điểm du lịch ở tỉnh Phú Yên 4. Sơ đồ 3.1. Mô hình hình sản phẩm du lịch “Amazing Phu Yen” 5. Sơ đồ 3.2. Mô hình hình sản phẩm du lịch “Discover sea” PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1 Trang 28 37 40 55 57 Ngày nay hoạt động du lịch có bước phát triển mạnh mẽ, nhu cầu đi du lịch của con người trở nên phổ biến. Cho nên nhiều tuyến điểm du lịch đã trở nên quá quen thuộc. Trong khi đó du khách luôn có nhu cầu tìm tòi khám phá. Vì vậy, nghiên cứu tìm ra những điểm du lịch mới trở nên rất cần thiết. Nằm ở khu vực Nam Trung Bộ, Phú Yên có nhiều lợi thế để phát triển du lịch như: Phú Yên nằm trên tuyến quốc lộ 1A theo trục giao thông Bắc - Nam, cách Nha Trang 124km, Quy Nhơn 95km, cách thị trấn Chư Sê của Gia Lai 182km theo trục giao thông Đông – Tây. Phú Yên nằm trên các trục giao thông quan trọng của Quốc gia. Đây chính là lợi thế để Phú Yên có thể phát triển hoạt động du lịch. Tài nguyên du lịch Phú Yên đa dạng, hấp dẫn. Trên địa bàn tỉnh có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp như: gành Đá Dĩa, đầm Ô Loan, vịnh Xuân Đài, bãi biển Long Thủy,…nhiều di tích lịch sử được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia như: núi Đá Bia, thành Hồ, vũng Rô …. Phú Yên có cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh với mạng lưới đường bộ theo hướng Bắc – Nam, Đông – Tây, đường sắt Bắc – Nam, đường hàng không với sân bay Tuy Hòa, đường thủy có cảng vũng Rô. Chính quyền tỉnh rất quan tâm đến sự phát triển hoạt động du lịch và trong chiến lược phát triển của tỉnh coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, nên đã có nhiều chính sách cơ chế thông thoáng, kêu gọi các nhà đầu tư, hãy đầu tư vào ngành du lịch của tỉnh như: tham gia hội chợ du lịch Quốc Tế Expo 2009, đặc biệt xin tổ chức năm du lịch Quốc gia 2011.. Người dân Phú Yên luôn phải đối mặt với thiên nhiên khắt nghiệt, nên đã rèn luyện cho con người nơi đây đức tính: cần cù, chịu thương, chịu khó, chân chất, thật thà và giàu lòng mến khách. Đặc biệt những người con của quê hương đất Phú luôn khao khát vươn lên, học hỏi, tìm tòi và tiếp thu tiến bộ 2 khoa học – kĩ thuật để cải thiện “cuộc sống gia đình” và góp phần xây dựng quê hương xứ sở thêm giàu đẹp. Với những thế mạnh như vậy, nhưng hiện nay thực trạng khai thác tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên còn nhiều hạn chế như: Nhiều điểm tài nguyên chưa được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch. Ví dụ, ở gành Đá Dĩa, bãi Môn, vực Phun chưa xây dựng khu vui chơi, nghỉ ngơi, nhà vệ sinh cho du khách. Các tuyến đường đến vực phun, gành Đá Dĩa, hải đăng Mũi Điện, bãi Môn….còn khó khăn. Điều này dẫn đến khả năng tiếp cận của du khách đến các điểm tài nguyên ở tỉnh Phú Yên là rất hạn chế. Sản phẩm du lịch ở Phú Yên chủ yếu là nghỉ dưỡng biển nên tạo ra sự trùng lắp so với các tỉnh (thành phố) ven biển khác trong khu vực Nam Trung Bộ Khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch chưa thực hiện song song với nhau cho nên đã xảy ra tình trạng rác thải sinh hoạt của du khách còn nhiều trên các bãi biển Tuy Hòa, Long Thủy,.... Chính vì thế mà việc khai thác tài nguyên du lịch của tỉnh chưa đạt được hiệu quả về kinh tế và môi trường. Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên” làm khóa luận tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Văn hóa Du lịch, với ước mong góp phần vào việc khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch ở tỉnh Phú Yên nhằm phục vụ mục đích du lịch. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích đề tài Xác định thực trạng và giải pháp khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên 3 2.2. Nhiệm vụ của đề tài Để thực hiện được mục đích trên, khóa luận tiến hành giải quyết những nhiệm vụ sau :  Xác định cơ sở lý luận và tổng quan về tỉnh Phú Yên  Phân tích thực trạng khai thác tài nguyên du lịch ở tỉnh Phú Yên  Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch ở tỉnh Phú Yên 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng khai thác tài nguyên du lịch ở tỉnh Phú Yên 3.2. Phạm vi nghiên cứu  Về mặt nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn ở những nội dung cụ thể sau: *Tài nguyên du lịch tự nhiên: + Cảnh quan địa hình + Tài nguyên biển + Tài nguyên sông, hồ, thác, nước khoáng + Tài nguyên sinh vật *Tài nguyên du lịch nhân văn : + Các di tích lịch sử văn hóa + Các di tích khảo cổ học + Lễ hội + Công trình kinh tế  Về mặt không gian: Không gian nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Phú Yên 4  Về mặt thời gian: Từ năm 2005, Uỷ ban Nhân dân tỉnh đề ra định hướng phát triển du lịch Phú Yên đến năm 2010 trong đó nhấn mạnh “phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” và kể từ đó tình hình khai thác tài nguyên du lịch của tỉnh đã có những thay đổi đáng kể. Đó chính là lí do mà đề tài chọn mốc thời gian từ năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, để tiến hành nghiên cứu. 4. Phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp tổng hợp- phân tích tài liệu Đề tài sử dụng phương pháp thu thập, phân tích tài liệu nhằm mục đích kế thừa những nghiên cứu về tài nguyên du lịch. Đồng thời đề tài cũng tập trung vào tổng hợp các nguồn tư liệu khác nhau có liên quan đến du lịch Phú Yên như: các quyết định, nghị quyết về phát triển du lịch của tỉnh, tài liệu nghiên cứu của các học giả về tài nguyên du lịch Phú Yên, các số liệu thống kê và tình hình hoạt động thực tiễn của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, các cơ quan quản lý du lịch cấp địa phương…từ đó chọn lọc phân tích tìm ra thực trạng khai thác tài nguyên du lịch ở tỉnh Phú Yên. 4.2. Phương pháp chuyên gia Trong quá trình đi khảo sát, nghiên cứu đề tài, tác giả đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia về du lịch, người lãnh đạo trong các cơ quan quản lý du lịch địa phương, nhà điều hành trong các công ty du lịch địa phương. 4.3. Phương pháp khảo sát thực địa Thông qua việc khảo sát tình hình thực tế tại các điểm du lịch, khu du lịch, các cơ sở kinh doanh du lịch và cơ quan quản lý du lịch tại địa phương. 5 Để từ đó cho phép tác giả nhận định chính xác về thực trạng khai thác tài nguyên du lịch ở tỉnh Phú Yên 5. Lược sử vấn đề nghiên cứu Phú Yên là một vùng đất với bề dày lịch sử gần 400 năm (1611 – 2010), trải qua biết bao biến cố, thăng trầm nên vùng đất này có rất nhiều di tích lịch sử, văn hóa được Nhà nước công nhận, bên cạnh đó thiên nhiên đã ban tặng cho Phú Yên biết bao cảnh đẹp, đã đi vào thơ ca. Vì vậy mà đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Phú Yên trên các lĩnh vực: lịch sử, văn hóa, kinh tế xã hội của các học giả trong và ngoài tỉnh. Tác giả Nguyễn Thành Quang trong công trình sách điện tử với nhan đề: “Phú Yên thế và lực mới trong thế kỉ 21”đã giới thiệu những nét cơ bản nhất về mảnh đất và con người Phú Yên. Trong đó nhấn mạnh cần phải phát huy lợi thế đã có để tạo dựng “đường băng” cho Phú Yên “cất cánh”. Tác giả Nguyễn Đình Chúc trong công trình “Tìm hiểu địa danh qua tục ngữ, ca dao Phú Yên” đã dùng những lời ca, tiếng hát trữ tình, mộc mạc, giản dị, sâu lắng để làm toát lên vẻ đẹp của quê hương đất phú. Nhà nghiên cứu Trần Huyền Ân trong cuốn sách với tựa đề “Phú Yên miền đất ước vọng” đã đề cập đến lịch sử hình thành, vị trí địa lý, những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, lễ hội và những sản vật địa phương. Nói chung, những gì là tiêu biểu, đặc trưng của quê hương xứ “nẫu”. Tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa trong cuốn sách với nhan đề “Phú Yên trong chiều sâu cội nguồn” đã giới thiệu những nét cơ bản nhất về các di tích lịch sử và lễ hội ở Phú Yên. Trong đó tác giả nhấn mạnh cần phải khai thác giá trị của những tài nguyên nhân văn để phát triển du lịch. Trong đề án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Yên đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và nghị quyết về phát triển du lịch tỉnh Phú Yên đến năm 2010 của Ủy ban Nhân dân tỉnh, đã đưa ra 6 định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Phú Yên, trong đó nhấn mạnh phải phát huy lợi thế về tài nguyên du lịch để tạo ra những sản phẩm riêng độc đáo. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến thực trạng khai thác tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên để phục vụ mục đích du lịch, có một ý nghĩa quan trọng. 6. Bố cục đề tài Gồm ba chương cụ thể sau : + Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về tỉnh Phú Yên + Chương 2: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch ở Tỉnh Phú Yên + Chương 3: Một số giải pháp khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TỈNH PHÚ YÊN 7 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. khái niệm  Du lịch Theo Liên hiệp Quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức:“Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống”  Tài nguyên du lịch Theo khoản 4 (điều 4, chương 1) Luật Du lịch Việt Nam được ban hành 2005 quy định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch”.  Du lịch bền vững Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành Quốc tế, 1996: “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và vùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”. 1.1.2. Phân loại tài nguyên du lịch Để tiến hành nghiên cứu, quản lý, bảo tồn, tôn tạo, phát triển và khai thác tài nguyên du lịch có hiệu quả theo hướng bền vững, cần phải tiến hành phân loại tài nguyên du lịch khoa học và phù hợp. Khi xây dựng được hệ thống phân loại tài nguyên du lịch sẽ góp phần quan trọng cho việc bảo vệ, tôn tạo và khai thác tài nguyên du lịch đạt hiệu quả về kinh tế- xã hội và môi trường. 8 Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 1997) đã xây dựng hệ thống phân loại tài nguyên du lịch thành 3 loại, 9 nhóm gồm: Loại cung cấp tiềm tàng (3 nhóm: văn hóa kinh điển, tự nhiên kinh điển, vận động); loại cung cấp hiện tại (gồm 3 nhóm: đường sá, thiết bị, hình tượng tổng thể) và loại tài nguyên kỹ thuật gồm 3 nhóm tính năng: hoạt động du lịch, cách thức và tiềm lực khu vực. Nhà khoa học Ngô Tất Hổ đã tiến hành phân loại tài nguyên du lịch gồm 3 hệ thống, 10 loại, 95 hình. Dựa trên cơ sở hệ thống phân loại tài nguyên du lịch của Tổ chức Du lịch Thế giới, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về tài nguyên du lịch, đồng thời dựa vào thực tiễn bảo tồn, khai thác và thực trạng của tài nguyên du lịch Việt Nam có thể xây dựng sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch như sau: Bảng 1.1. Phân loại tài nguyên du lịch Nhóm Hợp phần tài nguyên Của tài nguyên Các yếu tố - Vùng núi có phong cảnh đẹp. Địa hình, địa chất, Tài nguyên địa mạo - Các hang động - Các bãi biển, đảo - Các di tích tự nhiên - Tài nguyên khí hậu thích hợp tự nhiên Khí hậu với con người, thuận lợi cho việc phát triển các hoạt động du lịch (Nguồn: Bùi Thị Hải Yến, Tài nguyên du lịch, NXB Giáo Dục, trang 37 – 38) Nhóm Hợp phần tài nguyên Tài nguyên của tài nguyên Các yếu tố - Tài nguyên khí hậu phục vụ 9 cho việc chữa bệnh, an dưỡng Khí hậu - Tài nguyên khí hậu phục vụ cho thể dục, thể thao -Tài nguyên nước mặt: sông, Tài nguyên nước hồ, biển thiếu nước -Tài nguyên nước khoáng, nước nóng - Các vườn quốc gia, các khu tự nhiên bảo tồn thiên nhiên và các rừng lịch sử sinh thái văn Tài nguyên sinh vật hóa - Một số hệ sinh thái - Các điểm tham quan sinh vật Các cảnh quan du lịch tự nhiên Các cảnh quan di sản tự nhiên thế giới (Nguồn: Bùi Thị Hải Yến, Tài nguyên du lịch, NXB Giáo Dục, trang 37 – 38) Nhóm tài nguyên Tài nguyên nhân văn Hợp phần Các yếu tố của tài nguyên Tài nguyên nhân văn - Các di sản văn hóa thế giới vật thể - Các di tích lịch sử văn hóa thắng cảnh cấp quốc gia và địa phương: 10 + Các di tích khảo cổ học + Các di tích lịch sử + Các di tích kiến trúc nghệ thuật + Các danh lam thắng cảnh - Các công trình đương đại - Vật kỷ niệm và cổ vật - Các di sản văn hóa truyền miệng và phi vật thể của nhân loại - Các giá trị văn hóa phi vật thể cấp quốc gia và địa phương: + Các lễ hội Tài nguyên nhân văn phi vật thể + Nghề và làng nghề thủ công truyền thống + Nghệ thuật ẩm thực + Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học + Các đối văn hóa thể thao hay những hoạt động có tính sự kiện + Các giá trị thơ ca, văn học (Nguồn: Bùi Thị Hải Yến, Tài nguyên du lịch, NXB Giáo Dục, trang 37 – 38) 1.1.3. Đặc điểm tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, trong đó nhiều tài nguyên đặc sắc và độc đáo có sức hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch. Đặc điểm này là cơ sở để tạo nên sự phong phú của sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Thí dụ, đối với loại hình du lịch nghỉ mát, chữa bệnh nhằm mục đích phục hồi sức khỏe thì tài nguyên du lịch cần khai thác là các bãi biển đẹp, các vùng núi cao có khí hậu trong lành, các suối khoáng… 11 đặc biệt, nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc và độc đáo có sức hấp dẫn du khách. Ví dụ : vịnh Hạ Long, vịnh Nha Trang …là những nơi thu hút nhiều khách du lịch trong năm. Tài nguyên du lịch là những tài nguyên không chỉ có giá trị hữu hình mà còn có những giá trị vô hình. Đây là một trong những đặc điểm quan trọng của tài nguyên du lịch, khác với những loại tài nguyên khác. Giá trị hữu hình của tài nguyên du lịch là phương tiện vật chất trực tiếp tham gia vào việc hình thành các sản phẩm du lịch. Ví dụ, tắm biển là sản phẩm du lịch được hình thành trên cơ sở sự tồn tại của các bãi biển, nước biển. Giá trị vô hình của tài nguyên du lịch thể hiện thông qua những thông tin (báo chí, truyền hình, quảng cáo…) mà khách du lịch cảm nhận được, ngưỡng mộ và mong muốn được đến tận nơi để khám phá. Hầu hết tài nguyên du lịch được khai thác để phục vụ du lịch là các tài nguyên vốn đã sẵn có trong tự nhiên do tạo hóa sinh ra hoặc do con người tạo dựng nên và thường dễ khai thác. Và với tất cả những gì đã sẵn có của tài nguyên du lịch, chỉ cần đầu tư nhằm tôn tạo, để vừa tôn lên vẻ đẹp và giá trị của tài nguyên, vừa tạo ra những điều kiện thuận lợi nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên này. Trong số các tài nguyên du lịch, có những tài nguyên có khả năng khai thác quanh năm, nhưng có những tài nguyên mà việc khai thác ít nhiều lệ thuộc vào thời vụ. Sự lệ thuộc này chủ yếu dựa theo quy luật diễn biến của khí hậu. Chính đặc điểm này của tài nguyên du lịch nên đã dẫn đến tính mùa vụ của hoạt động du lịch. Tài nguyên du lịch được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch, cho nên khách du lịch phải đến tận nơi tạo ra các sản phẩm du lịch đó để thưởng thức. Đây cũng là đặc điểm mà tài nguyên du lịch khác với một số tài nguyên khác. 12 Các tài nguyên du lịch được xếp vào loại tài nguyên có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài. Vấn đề chính ở đây là phải nắm bắt được quy luật của tự nhiên, lường trước được những khắc nghiệt của thời gian và những biến động thay đổi do con người gây nên. Để từ đó có những định hướng lâu dài và các biện pháp cụ thể để khai thác hiệu quả và hợp lí các nguồn tài nguyên du lịch. 1.1.4. Ý nghĩa và vai trò của tài nguyên du lịch  Ý nghĩa Tài nguyên du lịch là nguồn lực quan trọng để tạo ra sản phẩm du lịch. Quy mô và khả năng phát triển du lịch của một địa phương hay một Quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào số lượng, chất lượng và sự kết hợp của các loại tài nguyên du lịch. Nếu một địa phương hay Quốc gia mà không có tài nguyên du lịch hoặc tài nguyên du lịch quá nghèo nàn thì hoạt động du lịch ở đó khó có thể phát triển được.  Vai trò Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch. Để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của khách du lịch, các sản phẩm du lịch không thể đơn điệu, nghèo nàn, kém hấp dẫn, mà cần phải phong phú, đa dạng, đặc sắc và mới mẻ. Chính sự phong phú và đa dạng của tài nguyên du lịch đã tạo nên sự phong phú và đa dạng của sản phẩm du lịch. Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch. Chính sự xuất hiện của các loại hình du lịch đã làm cho nhiều yếu tố của điều kiện tự nhiên và xã hội trở thành tài nguyên du lịch. Ví dụ, nếu không có những hang động ngầm bí ẩn, những đỉnh núi cao hiểm trở …thì không thể xuất hiện loại hình du lịch thám hiểm. Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổ chức lãnh thổ du lịch. Hệ thống lãnh thổ du lịch thể hiện mối quan hệ về mặt không gian của các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau cấu tạo nên nó. Các yếu tố 13 đó là khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch, đội ngũ cán bộ công nhân viên và tổ chức điều hành, quản lý du lịch. Trong hệ thống lãnh thổ du lịch có nhiều cấp phân vị khác nhau, từ điểm du lịch tới trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á vùng và vùng du lịch. Dù ở cấp vị nào thì tài nguyên du lịch cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức lãnh thổ du lịch. 1.1.5. Khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng bền vững Có thể nói mọi hoạt động phát triển kinh tế đều liên quan đến việc sử dụng nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn. Chính vì vậy, đối với các ngành kinh tế nói chung và du lịch nói riêng việc khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên là nguyên tắc quan trọng hàng đầu. Khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng bền vững ở đây có nghĩa là cần phải đạt được 3 mục tiêu cơ bản: + Bền vững về kinh tế. + Bền vững về môi trường. + Bền vững về văn hóa xã hội. Đối với kinh tế, sự bền vững trong trường hợp này là “sự phát triển ổn định lâu dài” của du lịch, tạo ra nguồn thu đáng kể, góp phần tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế, đem lại lợi ích cho cộng đồng, đặc biệt là người dân địa phương. Sự phát triển bền vững về môi trường có nghĩa là việc khai thác, sử dụng tài nguyên để đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không tổn tại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Điều này được thể hiện ở việc sử dụng tài nguyên hợp lý, đảm bảo sự bảo tồn đa dạng sinh học, không có những tác động đến môi trường. Đối với văn hóa xã hội thì sự khai thác tài nguyên du lịch đó phải đảm bảo những lợi ích lâu dài cho xã hội như tạo công ăn việc làm và nâng cao 14 mức sống cho người dân bản địa, đồng thời phải bảo tồn các giá trị văn hóa của địa phương 1.1.6. Một số bài học kinh nghiệm khai thác tài nguyên du lịch Sầm Sơn (Thanh Hóa) từ lâu đã nổi tiếng là một điểm du lịch biển hấp dẫn ở vùng du lịch Bắc Bộ. Trong những năm qua, do hệ thống đường giao thông được nâng cấp, cơ sở vật chất kĩ thuật của Sầm Sơn được xây mới và cải tạo nên lượng khách du lịch đến Sầm Sơn tăng nhanh chóng năm 1990 lượng khách du lịch đến Sầm Sơn chỉ đạt 106.168 người thì đến năm 1994 số lượng khách du lịch đã tăng lên 192.080 người. Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 1990- 1994 là 19%. Tuy nhiên bên cạnh sự phát triển các hoạt động du lịch và sự gia tăng nhanh chóng lượng khách du lịch, môi trường tự nhiên và nhân văn ở Sầm Sơn đang có chiều hướng xuống cấp nghiêm trọng. Bãi tắm bị ô nhiễm do chất thải sinh hoạt của các khu dân cư lân cận và của khách du lịch thải ra, các di tích thắng cảnh như: hòn Trống Mái, đền Độc Cước, đền Cô Tiên…bị hàng quán lấn chiếm, không được bảo vệ tôn tạo nên đã xuống cấp nghiêm trọng…điều này đã ảnh hưởng đến sự phát triển của Sầm Sơn và hậu quả là lượng khách du lịch chuyển hướng đến tắm biển và nghỉ dưỡng tại Cửa Lò (Nghệ An) tăng lên, lượng khách du lịch đến Sầm Sơn giảm xuống. Như vậy có thể thấy rằng việc khai thác tài nguyên du lịch biển ở đây chưa bền vững (1) Cửa Lò là trung tâm du lịch trọng điểm của tỉnh Nghệ An, mỗi năm Cửa Lò đón và phục vụ khoảng 01 triệu lượt khách du lịch đến tắm biển, nghỉ dưỡng. Doanh thu dịch vụ du lịch hàng năm đạt xấp xỉ 200 tỷ đồng, cở sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch phát triển nhanh chóng. Xác định môi trường đóng vai trò quyết định trong việc phát triển du lịch bền vững, từ nhiều năm nay UBND thị xã Cửa Lò đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân không đổ rác, phế thải bừa bãi; thành lập tổ thu gom rác tại cụm dân cư. Thực 15 hiện tốt công tác tổng vệ sinh môi trường đảm bảo không để rác tồn đọng trên các trục đường, khu dân cư, khu vực công cộng và dọc bãi biển. Đến nay, 100% ki-ốt kinh doanh đều được trang bị thùng chứa rác, các chủ hộ kinh doanh thực hiện nghiêm túc quy định của chính quyền, tổng vệ sinh thường xuyên trong khu vực kinh doanh. Đặc biệt, từ mùa hè du lịch 2006, UBND thị xã Cửa Lò đã đưa ra chương trình năm không gồm: “không nâng ép giá; không đeo bám, chèo kéo khách; không bán hàng rong; không làm tổn hại đến cảnh quan, môi trường; không làm mất an ninh, trật tự”. UBND thị xã đã giao cho công ty môi trường đô thị thực hiện thu gom rác và công ty này đã đầu tư 50 xe gom rác, 1 máy cào sàng rác và 200 thùng đựng rác công cộng các loại được bố trí trên các trục đường, bãi tắm. Nếu tiếp tục thực hiện tốt những biện pháp về bảo vệ môi trường trên đây, chắc chắn Cửa Lò sẽ trở thành đô thị du lịch phát triển bền vững (2) (1) Đặng Thị Minh Lý, Trần Thị Thanh Bình, Phan Thị Thúy (1998), Báo cáo bàn về vấn đề môi trường trong hoạt động du lịch Sầm Sơn, Đại Học KHXHNV Hà Nội. (2) Trần Đình Hà (2007), Cửa Lò – Vấn đề bảo vệ môi trường trong du lịch, Tạp chí du lịch Việt Nam, số 4, trang 21- 23. 1.2.Tổng quan về tỉnh Phú Yên 1.2.1.Điều kiện tự nhiên  Vị trí địa lý Phú Yên là một tỉnh ven biển thuộc vùng duyên hải Nan Trung Bộ, có diê ̣n tích tự nhiên 5.045 km2, có toạ đô ̣ địa lý từ 12o39'10" đến 13o45'20" vĩ đô ̣ bắc và 108 o39'45" đến 109o29'20" kinh đô ̣ đông. Phía bắc giáp tỉnh Bình Định, phía nam giáp tỉnh Khánh Hoà, phía tây giáp hai tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk, phía đông giáp biển Đông. Phú Yên bao gồm 1 thành phố tỉnh lỵ, 1 thị xã và 7 huyện: thành phố Tuy Hòa, Thị xã Sông Cầu và các huyện Phú Hòa, Tuy An, Đồng Xuân, Đông Hòa, Tây Hòa, Sơn Hòa, Sông Hinh. 16  Địa hình Những hoạt đô ̣ng địa chất của Trái đất trong nhiều thời ky đã kiến tạo cho Phú Yên đầy đủ các dạng địa hình: núi, đồi, cao nguyên, đồng bằng và biển khơi. Địa hình Phú Yên thấp từ tây sang đông. Phía tây là sườn đông của dãy Trường Sơn Nam. Ơ khu vực này, địa hình bị chia cắt mạnh, đô ̣ dốc lớn. Phía đông là đồi núi xen kẽ đồng bằng, thỉnh thoảng là các dãy núi đá chạy sát ra biển, chia cắt đồng bằng ven biển thành những đồng bằng nhỏ.  Khí hậu Khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương tổng số giờ nắng trung bình từ 2.300 - 2.500 giờ/năm. Nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng từ 24,1 0C - 26,60C độ ẩm trung bình năm khoảng 80 - 82%. Lượng mưa trung bình năm 1700 mm, lượng mưa phân bố không đều: tâ ̣p trung nhiều nhất ở vùng núi Chư Mu, Đèo Cả (trung bình trên 2.000 mm/năm); ít nhất là thung lũng sông Ba, sông Ky Lô ̣, sông Krông Pa (trung bình 1.200 mm/năm). Tỉnh Phú Yên không có mùa đông lạnh, khí hâ ̣u phân thành hai mùa ro rê ̣t: mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8 và mùa mưa lũ từ tháng 9 đến tháng 12  Thủy văn, sông ngòi Phú Yên có khoảng 50 con sông, suối chính. Lớn nhất là sông Ba (còn có tên gọi sông Đà Rằng), chiều dài 360 km, phần chảy qua tỉnh dài 90 km bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Rô (1.500m) thuô ̣c địa phâ ̣n Kon Tum; tiếp theo là sông Ky Lô ̣, chiều dài 120 km, đoạn chảy qua tỉnh dài 76 km; ngoài ra còn có sông Hinh, sông Cà Lúi, sông Bàn Thạch, sông Cầu, sông Krông Năng, sông Con, sông Đồng Bò, sông Thá, sông Trà Bương, sông Cô,... 1.2.2.Điều kiện dân cư, kinh tế - xã hội  Dân cư 17 Dân số Phú Yên là 861.993 người (điều tra dân số 1/4/2009) trong đó thành thị 20%, nông thôn 80%, lực lượng lao động chiếm 71,5% dân số. Phú Yên có gần 30 dân tộc sống chung với nhau. Chăm, Êđê, Ba Na, Hrê, Hoa, Mnông, Raglai là những tộc người đã sống lâu đời trên đất Phú Yên. Sau ngày miền Nam được giải phóng, sau khi thành lập huyện Sông Hinh (1986) có những dân tộc từ miền núi phía Bắc di cư vào vùng đất Sông Hinh như Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, ...  Kinh tế - xã hội + Về công nghiệp Phú Yên trước đây được cả nước biết đến chỉ là vựa lúa của Miền Trung cùng môt vài cơ sở công nghiệp nhỏ bé. Ngày nay, cả nước biết đến Phú Yên với nhiều cơ sở công nghiệp đã và đang phát triển như: Khu công nghiệp Hòa Hiệp 1, An Phú 1 và Đông Bắc Sông Cầu với tổng diện tích 282 ha đã cơ bản hoàn thành các hạn mục đầu tư cơ sở hạ tầng và đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng cho nhà đầu tư. Do vậy, đã có 70 dự án đăng ký và được cấp phép đầu tư vào các khu công nghiệp với tổng vốn: 719 tỷ đồng VN và 73 triệu USD, trong đó có 12 dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài. + Về nông nghiệp Diện tích gieo trồng cây lương thực hằng năm khoảng 60 - 65 nghìn ha, sản lượng đạt khoảng 335 nghìn tấn, trong đó lúa chiếm 91% diện tích và 97% sản lượng. Trong các loại cây công nghiệp ngắn ngày, mía chiếm trên 50% diện tích, năng suất đạt 45tấn/ha/năm, còn lại là các loại cây: mè, đậu, thuốc lá... Trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi chiếm 23,2%. Toàn tỉnh hiện có 2.596 con trâu, 188.269 con bò, 187 nghìn con lợn và 1,92 triệu gia cầm. + Về lâm nghiệp 18 Nhờ triển khai hiê ̣u quả công tác giao đất, cho thuê đất, toàn tỉnh đã thực hiê ̣n giao 222.913 ha, chiếm 44% diê ̣n tích đất lâm nghiê ̣p. Tỉnh đã thực hiê ̣n cấp chứng nhâ ̣n quyền sử dụng đất với tổng diê ̣n tích 177.323 ha, trong đó 79.729 ha cho 9 đơn vị, tổ chức và 97.593 ha cho 14.015 hô ̣ gia đình, cá nhân. Nhìn chung, công tác bảo vê ̣ rừng tại Phú Yên được quản lý chă ̣t chẽ hơn so với những năm trước đây. + Về ngư nghiệp Triển khai thực hiê ̣n nghị quyết số 05/NQ-TU (khóa VIII) của Tỉnh uỷ Phú Yên về chương trình phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đại hóa, đă ̣c biê ̣t là đẩy mạnh thực hiê ̣n các chương trình cụ thể như: chương trình khai thác thuỷ sản xa bờ, chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản, chương trình phát triển giống thuỷ sản, chương trình chế biến và xuất khẩu thuỷ sản, chương trình biển Đông - hải đảo,... ngành thuỷ sản Phú Yên đã từng bước kh̉ng định vị thế ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần xoá đói, giảm nghèo, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo giữ vững an ninh - quốc phòng vùng biển đảo.  Các ngành tiểu thủ công truyền thống Làng nghề đan lát Vinh Ba, gốm Hòa Vinh, chổi đót Mỹ Thành, chiếu cói Phú Tân, nước mắm Gành Đỏ, thảm xơ dừa xuất khẩu. Các làng nghề truyền thống này mỗi năm thu hút trên 2.500 hộ tham gia, giải quyết việc làm cho hơn 6.500 lao động Tiểu kết chương 1 Chương 1 đã trình bày khái quát những vấn đề thuộc về cơ sở lí luận như: một số khái niệm về du lịch, tài nguyên du lịch, du lịch bền vững; cách phân loại, đặc điểm, ý nghĩa, vai trò của tài nguyên du lịch, vấn đề khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng bền vững. Bên cạnh đó, chương 1 còn nêu ra một số bài học kinh nghiệm thực tiễn về khai thác tài nguyên du 19 lịch, mà cụ thể là ở Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An). Ngoài phần cơ sở lí luận, trong chương này còn nêu khái quát sơ lược tổng quan về tỉnh Phú Yên trên các mặt: điều kiện tự nhiên, điều kiện dân cư, kinh tế - xã hội. Tóm lại, tất cả những điều nêu trên là cơ sở kiến thức nền tảng chung để giải quyết những vấn đề được nêu trong chương 2, 3 của khóa luận. CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỈNH PHÚ YÊN 2.1. Hiện trạng tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên 2.1.1. Hiện trạng tài nguyên du lịch tự nhiên 2.1.1.1. Cảnh quan địa hình  Gành Đá Đĩa Dọc bờ biển của đất nước Việt Nam có rất nhiều gành đá, song có lẽ độc đáo và hấp dẫn vào bậc nhất phải kể đến gành Đá Đĩa thuộc xã An Ninh 20
- Xem thêm -