Tài liệu Luận văn tốt nghiệp đảng bộ huyện cái nước chỉ đạo thực hiện xây dựng mô hình nông thôn mới giai đoạn 2008-2011

  • Số trang: 91 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 578 |
  • Lượt tải: 0
tranphuong

Tham gia: 04/08/2015

Mô tả:

Luận văn tốt nghiệp MỞ ĐẦU .........................................................................................................................3 1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................3 2. Mục đích và đối tượng nghiên cứu. .........................................................................4 3. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu .............................................................................4 4. Phương pháp nghiên cứu ..........................................................................................5 5. Kết cấu luận văn ........................................................................................................5 NỘI DUNG .....................................................................................................................6 Chương 1 ........................................................................................................................6 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CỦA ĐẢNG TA VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN ........................................................6 1.1. Khái niệm nông nghiệp, nông thôn và mô hình nông thôn mới. ....................6 1.1.1. Khái niệm nông nghiệp .................................................................................6 1.1.2.Khái niệm về nông thôn .................................................................................6 1.1.3. Khái niệm mô hình nông thôn mới. .............................................................7 1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn. .............................................................................................................................8 1.3. Quan điểm của Đảng ta về xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn ....................................................................................................................................13 Chương 2 ......................................................................................................................23 ĐẢNG BỘ HUYỆN CÁI NƯỚC LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÂY DỰNG MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI GIAI ĐOẠN 2005- 2011 – MỘT SỐ GIẢI PHÁP .....23 2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Huyện Cái Nước. ............................23 2.1.1. Vị trí địa lý, dân số, dân cư của Huyện ......................................................23 2.1.2. Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng tới quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện. ..................................................................................................23 2.2. Khái quát thực trạng tình hình nông nghiệp, nông thôn huyện Cái Nước. 27 2.2.1. Thực trạng. ..................................................................................................27 2.2.2. Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân ................................................32 2.3. Đảng bộ huyện Cái Nước lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện xây dựng mô hình nông thôn mới giai đoạn 2008 – 2011 và hướng tới những năm tiếp theo. ........35 2.3.1. Những mục tiêu, quan điểm chỉ đạo xây dựng mô hình nông thôn mới huyện Cái Nước giai đoạn 2008- 2011 và những năm tiếp theo ........................35 2.3.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng mô hình nông thôn mới của Đảng bộ huyện Cái Nước giai đoạn 2008 – 2011 .........................................39 Nguyễn Văn Dự 1 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp 2.3.3. Những thành tựu đã đạt được trong quá trình thực hiện xây dựng mô hình nông thôn mới của Đảng bộ huyện ( 2008- 2011) ......................................53 2.3.4. Những mặt hạn chế yếu kém còn gặp phải trong quá trình thực hiện xây dựng mô hình nông thôn mới – nguyên nhân – bài học kinh nghiệm...............62 2.4. Một số giải pháp xây dựng mô hình nông thôn mới ở huyện Cái Nước trong thời gian tới ...............................................................................................................69 KẾT LUẬN ..................................................................................................................78 Nguyễn Văn Dự 2 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong lãnh đạo cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng nông thôn. Nhưng với Nghị quyết số 26 - NĐ/TW và Bộ tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ ban hành, vấn đề xây dựng nông thôn mới lần đầu tiên được đề cập một cách cơ bản, toàn diện và sâu sắc, đáp ứng mong muốn của nhân dân và yêu cầu chiến lược xây dựng đất nước cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Trong xu thế phát triển hiện nay, không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn còn lạc hậu và đời sống nông dân còn thấp. Vì vậy, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công cuộc thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Xây dựng nông thôn mới là chủ trương có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng của Đảng và Nhà nước ta nhằm cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Chủ trương này có mục tiêu toàn diện: xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn từng bước hiện đại; xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; bảo vệ môi trường sinh thái; giữ vững an ninh - trật tự; tăng cường hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Như vậy, chủ trương xây dựng nông thôn mới mang tính nhân văn sâu sắc, vừa là mục tiêu, yêu cầu của phát triển bền vững, vừa là nhiệm vụ cấp bách, lâu dài, đòi hỏi phải tiến hành đúng quy trình, đồng bộ, chắc chắn. Sau khi tiếp thu Quyết định 491 của Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch của UBND tỉnh Cà Mau, huyện Cái Nước bắt tay ngay vào việc xây dựng kế hoạch xây dựng nông thôn mới; đồng thời mở hội nghị quán triệt sâu rộng đến các ngành, cán bộ chủ chốt các xã thị trấn và khóm ấp trong toàn huyện, nhằm tạo sự thống nhất giữa ý chí và hành động trong việc thực hiện chủ trương này. Như vậy, trải qua quá trình thực hiện thì Đảng bộ huyện Cái Nước đã đạt được những thành tựu gì? Bên cạnh đó, Nguyễn Văn Dự 3 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp còn mắc phải những hạn chế gì? Và Đảng bộ huyện đã có những giải pháp gì cho giai đoạn sắp tới. Cũng chính tính chất quan trọng và cấp thiết của vấn đề trên mà em quyết định chọn đề tài “ Đảng bộ huyện Cái Nước chỉ đạo thực hiện xây dựng mô hình nông thôn mới giai đoạn 2008 - 2011” Làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. 2. Mục đích và đối tượng nghiên cứu. 2.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích của đề tài là tìm hiểu rỏ quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng mô hình nông thôn mới của Đảng bộ huyện Cái Nước. Từ đó nhân rộng hiệu quả của mô hình này ra toàn tỉnh. Đồng thời, làm chuyên đề giảng dạy tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng bộ tỉnh Cà Mau. 2.2. Đối tượng nghiên cứu. Đối tượng mà tác giả tập trung nghiên cứu trong đề tài này là quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Cái Nước trong việc xây dựng mô hình nông thôn mới giai đoạn 2008 – 2011. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và đưa ra một số giải pháp trong thời gian tới. 3. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3.1. Nhiệm vụ nghiên cứu. Đề tài nhằm làm rõ: - Quan điểm của Hồ Chí Minh và của Đảng ta trong việc xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn. - Quan điểm cũng như quá trình lãnh đạo xây dựng mô hình nông thôn mới của Đảng bộ huyện Cái Nước giai đoạn 2008 - 2011 - Một số giải pháp xây dựng mô hình nông thôn mới trong thời gian tới. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của đề tài là quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng mô hình nông thôn mới của Đảng bộ huyện Cái Nước từ năm 2008 – 2011 Nguyễn Văn Dự 4 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp 4. Phương pháp nghiên cứu Trong đề tài nghiên cứu này tác giả sử dụng 2 loại phương pháp cơ bản: - Phương pháp luận: thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng duy vật. - Phương pháp cụ thể: Phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử, logic, thống kê… 5. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu kết cấu luận văn được chia làm 2 chương, 7 tiết Chương 1 : Quan điểm của Hồ Chí Minh và của Đảng ta về xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn Chương 2: Đảng bộ huyện Cái Nước lãnh đạo thực hiện xây dựng mô hình nông thôn mới giai đoạn 2005 – 2011 – Một số giải pháp và bài học kinh nghiệm Nguyễn Văn Dự 5 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp NỘI DUNG Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CỦA ĐẢNG TA VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 1.1. Khái niệm nông nghiệp, nông thôn và mô hình nông thôn mới. 1.1.1. Khái niệm nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản. Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Nó không chỉ là ngành kinh tế đơn thuần mà còn cả một hệ thống sinh học kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là sử dụng tiềm năng sinh học – cây trồng, vật nuôi, chúng phát triển theo quy luật sinh học nhất định, con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các quy luật để có những giải pháp tác động thích hợp với chúng. Mặt khác, quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thỏa đáng, gắn lợi ích với quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng. 1.1.2.Khái niệm về nông thôn Cho đến nay có thể nói, chưa có định nghĩa nào chuẩn xác và được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn. Khi định nghĩa về nông thôn người ta thường so sánh nông thôn với thành thị. Trong từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, xuất bản 1994, nông thôn được định nghĩa là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông. Còn trong từ điển bách khoa Xô Viết của nhà xuất bản Liên Xô năm 1986 thì thành thị được định nghĩa là khu vực dân cư làm các nghề ngoài nông nghiệp. Hai định nghĩa nêu trên mới chỉ nói lên một đặc điểm cơ bản khác nhau giữa nông thôn và thành thị song thực tế khác nhau giữa nông thôn và thành thị không phải chỉ đặc điểm nghề nghiệp của dân cư, mà còn khác nhau cả về mặt tự nhiên kinh tế, xã hội. Nguyễn Văn Dự 6 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp Về tự nhiên, nông thôn là vùng đất đai rộng lớn thường bao quanh các đô thị ( thành phố, thị trấn, khu công nghiệp), những đất đai này khác nhau về địa hình, khí hậu, thủy văn... Về kinh tế, nông thôn chủ yếu là nông nghiệp ( nông, lâm, ngư nghiệp). Cơ sở hạ tầng ở vùng nông thôn lạc hậu, thấp kém hơn đô thị trình độ phát triển cơ sở vật chất, kỹ thuật (điện, thủy lợi, cơ khí, hóa chất). Trình độ sản xuất hàng hóa kinh doanh kém hơn đô thị. Về xã hội, trình độ học vấn, khoa học kỹ thuật, y tế, giáo dục và đời sống vật chất, tinh thần cuả dân cư nông thôn thấp hơn dân cư đô thị mật độ dân cư nông thôn cũng thấp hơn đô thị. Từ đó, vùng nông thôn có thể diễn đạt như sau: Nông thôn là vùng đất đai rộng với một cộng đồng dân cư chủ yếu làm nghề nông nghiệp ( nông, lâm,ngư nghiệp ), có mật độ dân cư thấp, cơ sở hạ tầng kém phát triển, có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa thấp và thu nhập, mức sống của dân cư nông thôn thấp hơn đô thị. Khái niệm trên chưa phải đã hoàn chỉnh nếu không đặt nó trong điều kiện thời gian và không gian nhất định của nông thôn mỗi nước ( nước phát triển hay kém phát triển), mỗi vùng ( vùng phát triển và vùng kém phát triển). Đến nay, nội dung này được thống nhất với những quy định tại Thông tư số 54/2009/TT - BNNPTNT ngày 21- 8 - 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã". 1.1.3. Khái niệm mô hình nông thôn mới. Nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo năm nội dung cơ bản sau: Nông thôn là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; Sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; Đời sống về vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao; Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; Xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ. Nguyễn Văn Dự 7 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt. Ngày 19/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ - TTg, ban hành "Bộ tiêu chí quốc gia về mô hình nông thôn mới” bao gồm 19 tiêu chí và được chia thành 5 nhóm: Nhóm tiêu chí về quy hoạch; về hạ tầng kinh tế - xã hội; kinh tế và tổ chức sản xuất; văn hóa - xã hội - môi trường và về hệ thống chính trị. 19 tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới bao gồm: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư, thu nhập bình quân đầu người/năm, tỷ lệ hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và an ninh, trật tự xã hội. Trong 19 tiêu chí lớn sẽ có những chỉ tiêu cụ thể, tổng cộng gồm 39 chỉ tiêu để đánh giá về xã đạt chuẩn nông thôn mới. 1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp, nông thôn là sự cụ thể hóa, Việt Nam hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Khi bàn về vai trò của sản xuất của cải vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội loài người, Ph.Ănghen đã khẳng định: “Trước hết con người cần phải có ăn, uống, ở, mặc, trước khi lo đến chuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật và tôn giáo…”[12, tr.264]. Đúng vậy, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người về sản phẩm thiết yếu được sản xuất ra từ nông nghiệp ngày càng tăng và đa dạng, phong phú. Vì vậy, phải đặc biệt quan tâm phát triển sản xuất nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Hơn nữa, xét về mặt xã hội, cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại và xây dựng xã hội mới của giai cấp công nhân, Đảng Cộng Sản chỉ có thể giành được thắng lợi trên cơ sở xây dựng được khối đại đoàn kết liên minh công nông vững chắc. Tổng kết các bài học kinh nghiệm của công xã Pari, chủ nghĩa Mác khẳng định: Để có thể giành và giữ chính quyền giai cấp vô sản thành Nguyễn Văn Dự 8 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp thị phải liên minh với giai cấp nông dân, nếu không“bài ca” của giai cấp vô sản sẽ trở thành “bài ai điếu”. Khối liên minh ấy càng phải luôn luôn được giữ vững, tăng cường sau khi giành được chính quyền, thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở những nước nông nghiệp nếu giai cấp công nhân không nhận thức đúng vị trí của vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thì những cải biến xã hội chủ nghĩa sẽ không tránh khỏi những thất bại. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp, nông thôn bắt nguồn từ thực tiễn hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Các nhà khảo cổ, nông học đều nhất trí cho rằng Việt Nam là một trong những cái nôi của nền văn minh lúa nước. Các sưu tập trống đồng cho ta nhiều họa tiết có liên quan về cây lúa trong đời sống dân cư cổ. Sách “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn đã thống kê: Riêng ở đồng bằng Bắc Bộ có tới 32 giống lúa tẻ và 29 giống lúa nếp, vùng Thuận Quảng có 23 giống lúa tẻ và 5 giống lúa nếp… Trong thời kỳ phong kiến, nhất là triều đại nhà Trần, nhà Lê đã rất quan tâm đến vấn đề phát triển nông nghiệp, đê điều, thủy lợi… Vì vậy trong dân gian ngày hội mùa hay lễ mừng cơm mới ở đâu cũng là những ngày hội vui nhất trong năm. Nhưng dưới sự thống trị của phong kiến, đế quốc cái đói vẫn thường xuyên đe dọa cuộc sống của số đông dân cư là nông dân. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ “đồng bào nông thôn đóng góp nhiều nhất cho kháng chiến, hy sinh nhiều nhất cho Tổ quốc. Thế mà đồng bào nông dân lại là những người nghèo khổ nhất, vì họ thiếu ruộng” [8, tr.587]. Cho nên khi trở thành vị đứng đầu nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu chương trình hành động đầu tiên của Chính phủ là cứu đói và tăng gia sản xuất; tấm bằng khen đầu tiên được dành cho thành tích giữ đê chống lụt; những sắc lệnh đầu tiên là bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò; những văn bản ngoại giao đầu tiên phục vụ cho sự nghiệp kiến quốc là: “Sẵn sàng gửi 50 thanh niên Việt Nam ưu tú sang học hỏi kỹ nghệ canh nông ở Hoa Kỳ…” Về mối quan hệ và vai trò của phát triển nông nghiệp, nông thôn đối với các ngành kinh tế khác của nền kinh tế quốc dân đã được Hồ Chí Minh xác định :“Phải lấy nông nghiệp làm chính, nhưng phải toàn diện, phải chú ý các mặt công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, văn hóa, giáo dục, y tế … các ngành này phải lấy phục vụ nông nghiệp làm trung tâm” [7, tr.352]. Điều này đòi hỏi mọi chủ trương, đường lối, phương châm, kế hoạch, mục tiêu phát triển của công Nguyễn Văn Dự 9 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp nghiệp và các ngành kinh tế khác phải lấy nông nghiệp, nông thôn làm đối tượng phục vụ, phải có chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với nông nghiệp và nông thôn. Người nói: “Nông thôn tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm thì ngày càng giàu có. Nông thôn giàu có sẽ mua nhiều hàng hóa của công nghiệp sản xuất ra. Đồng thời sẽ cung cấp đầy đủ lương thực, nguyên liệu cho công nghiệp và thành thị. Như thế là nông thôn giàu có giúp cho công nghiệp phát triển. Công nghiệp phát triển lại thúc đẩy cho nông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa. Công nghiệp, nông nghiệp phát triển thì dân giàu nước mạnh”[22, tr.162]. Như vậy, Người không chỉ nhấn mạnh mối quan hệ hữu cơ giữa ngành công nghiệp với nông nghiệp mà còn chỉ rõ vấn đề có tính quy luật trong quá trình điều hành của Nhà nước, thể hiện ý chí của Đảng, nguyện vọng của nhân dân, là cơ sở để đoàn kết khối liên minh công nông. Sau khi giành được chính quyền trong Cách mạng tháng Tám, nhân dân ta bắt tay vào xây dựng xã hội mới trong điều kiện đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu lại phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cực kỳ gian khổ. Mặc dù phải tập trung chỉ đạo cuộc chiến đấu ngoài tiền tuyến, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đặc biệt chú ý đến xây dựng và phát triển nông nghiệp và nông thôn. Theo Hồ Chí Minh, nông nghiệp luôn có một vị trí hết sức đặc biệt đối với xã hội. Phát triển nông nghiệp là nhân tố đầu tiên, là cội nguồn của mọi vấn đề xã hội. Ngày 7 – 12 – 1945 ngay sau khi giành được chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trên báo “Tấc đất” số đầu tiên “Loài người ai cũng “dĩ thực vi tiên” (nghĩa là trước cần phải ăn), nước ta thì “dĩ nông vi bản” (nghĩa là nghề nông làm gốc). Dân muốn ăn no phải trồng trọt cho nhiều. Nước muốn giàu mạnh thì phải phát triển nông nghiệp. Vậy chúng ta không nên bỏ hoang một tấc đất nào hết. Chúng ta phải quý mỗi tấc đất như một tấc vàng”. Như vậy vị trí của nông nghiệp được đề cao do vấn đề lương thực, thực phẩm là vấn đề cực kỳ quan trọng đối với mỗi quốc gia. Vì lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu cơ bản hàng đầu của con người là vấn đề ăn, mặc. Đối với nước ta là một nước nông nghiệp, Hồ Chí Minh cho rằng “nghề nông là gốc”. Trong thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam ngày 1-1-1946, Hồ Chí Minh viết: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta Nguyễn Văn Dự 10 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp thịnh thì nước ta thịnh”. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến nông nghiệp và phát triển nông nghiệp. Trong các bài nói, bài viết Người luôn nhấn mạnh đến vai trò của nông nghiệp bằng nhiều từ khác nhau: Nông nghiệp là gốc, nông nghiệp là chính, nông nghiệp là mặt trận chính, nông nghiệp là mặt trân cơ bản, nông nghiệp là việc quan trọng nhất…Người viết: “có gì sung sướng bằng được góp phần đắc lực vào công cuộc phát triển nông nghiệp - nền tảng để phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa”. Trong khi lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh cho rằng vai trò của sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa đối với sự thành bại của kháng chiến. Nông nghiệp, nông thôn lúc bấy giờ có thể nói là toàn bộ hậu phương của cuộc kháng chiến, Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc đến câu châm ngôn “thực túc binh cường”. Ngay khi cuộc kháng chiến bắt đầu nổ ra, Hồ Chí Minh đã nhận định để kháng chiến chóng thành công thì phải tích cực phát triển nông nghiệp làm cơ sở, làm hậu phương cho tiền tuyến lớn. Từ năm 1949 Người đã chỉ rõ: “Mặt trận kinh tế gồm có công nghệ, buôn bán, nông nghiệp, ngành nào cũng quan trọng cả. Nhưng lúc này quan trọng nhất là nông nghiệp vì “có thực mới vực được đạo”. Có đủ cơm ăn, áo mặc cho bộ đội và nhân dân thì kháng chiến mới mau thắng lợi, thống nhất và độc lập mới thành công”. Sinh thời, ngay cả khi tuổi đã cao, Hồ Chủ tịch vẫn thường xuống nông thôn, gặp gỡ bà con trên đồng ruộng, động viên bà con tích cực tăng gia, chăn nuôi. Bác đã tát nước gầu sòng, đạp guồng đưa nước vào ruộng, hoàn toàn không có sự cách biệt giữa Chủ tịch nước với bà con nông dân địa phương. Trong những năm chống Mỹ ác liệt, Người đã viết thư khen nhiều xã viên, hợp tác xã nông nghiệp làm ăn giỏi. Người rất quan tâm đến thời vụ sản xuất. Báo Nhân Dân ngày 15-1-1967 đã đăng bài của T.L (Bác Hồ). “Phải cấy chiêm xong trước tết”. Người thưởng huy hiệu cho những nông dân xuất sắc, đồng thời Người cũng phê bình trên báo một số bộ, ngành, một số xã, Hợp Tác Xã làm ăn kém cỏi, đùn đẩy trách nhiệm, gây nên hệ quả là "dân cần quan không vội"! Tại Hội nghị cán bộ nghiên cứu Nghị quyết Trung ương 12 ( khoá 3) ngày 16 – 1 - 1966, Người nói: "Bác lên thăm nhà máy chè Phú Thọ, các đồng chí chuyên gia nói rất sẵn sàng dạy cho ta 20 cán bộ để làm thí điểm cách trồng chè cho tốt, nhà máy chè nghe như thế rất mừng. Nhà máy gửi báo cáo lên Bộ Nông Lâm. Ông Bộ Nông Lâm nói việc dạy học phải hỏi Bộ Giáo dục, chúng tôi không giải quyết. Lên Bộ Giáo Nguyễn Văn Dự 11 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp dục, thì Bộ Giáo dục nói đây là việc trồng chè, chúng tôi không giải quyết được. Gần 2 năm không giải quyết. Khi Bác lên thăm tình cờ các chuyên gia nói lại. Khi về Bác gặp ông nông lâm, Bác nói nhất định phải cho 20 cán bộ học cái này; ông nông lâm giải quyết. Thế là học được”. Cuối năm 1959 Bác viết bài "Tết trồng cây" kêu gọi toàn dân hưởng ứng. 10 năm sau trên báo Nhân Dân, 5 - 2 - 1969 lại đăng bài "Tết trồng cây" của T.L (Bác Hồ). Người biểu dương thành tích 10 năm nhân dân ta từ miền núi đến đồng bằng, ven biển đã trồng được hàng vạn hecta cây các loại; xã Đô Lương (Lạng Sơn) trong 5 năm (1964 – 1969) đã trồng được 270 ha rừng, đã bán cho Nhà nước và thị trường 2.000 m3 gỗ và củi. Nhờ có trồng cây, nên thuỷ lợi cũng tiến bộ, hơn 100ha ruộng trước kia bỏ hoá nay đã trở thành ruộng 5 tấn, hai năm 1967 – 1968 đóng góp nghĩa vụ lương thực được 271 tấn thóc, thu nhập của hợp tác xã năm 1965 được 16.250 đồng, năm 1967 đạt đến 50.240 đồng... Các địa phương phải học tập và thi đua với nơi có phong trào trồng cây khá. Bác còn nhắc chúng ta phải trồng cây cho cả đồng bào miền Nam nữa. Câu nói: "Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây” của Bác Hồ đã trở thành mục tiêu, phương châm hành động của cả nước. Ngày 15-5-1965, nhân dịp mừng 75 tuổi, Bác Hồ đã viết xong bản thảo Di chúc đầu tiên, trong đó có đoạn: “Nhân dân lao động ta (chủ yếu là nông dân - VAP chú thích) ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ… Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân… Sau khi tôi qua đời… tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi… Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn… Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm… Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và “lợi cho nông nghiệp” Tháng 5 – 1968, Bác lại viết tiếp vào dự thảo bản Di chúc: “Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta… Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp Nguyễn Văn Dự 12 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi đẩy mạnh sản xuất”(9). Năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết: “Quân và dân ta phải ăn no để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Vì vậy, sản xuất lương thực và thực phẩm là rất quan trọng”. Học tập và làm theo tư tưởng của Người, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Đó là những cơ hội khách quan do công cuộc đổi mới đem lại, còn điều kiện chủ quan của từng gia đình, từng tầng lớp xã hội có khả năng tiếp nhận, biến cơ hội thành hiện thực lại rất khác nhau. Nếu thiếu những giải pháp sớm tạo ra sự bình đẳng để nông dân, nhất là các hộ nghèo, thực sự nắm bắt được cơ hội vươn lên thì sẽ làm nảy sinh những phân hoá, bất công lớn mà hậu quả lâu dài sẽ không nhỏ. Hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc, về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và nói riêng về vấn đề nông nghiệp và nông thôn, mãi mãi là ngọn đèn soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. 1.3. Quan điểm của Đảng ta về xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt. Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các Nguyễn Văn Dự 13 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân. Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân. Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đàm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân. Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị xã hội bảo đảm an ninh quốc phòng; giữ gìn phát huy bản sác văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Thực tiễn của hơn 20 năm đổi mới đã chứng minh đường lối đúng dắn của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông thôn, nông dân gắn với sự phát triển đất nước. Nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp nông dân, xuất phát từ tình hình đặc điểm xã hội Việt Nam và yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong từng thời kỳ cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ( 2/1930) đã xác định phải “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản”. Để thực hiện được mục tiêu đó trước hết phải “xây dựng chính phủ công nông binh” và”thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân nghèo” ,”bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo”. Như vậy, trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác đinh vấn đề nông dân và ruộng đất là một trong những vấn đề cốt lõi của các mạng. Sự nghiệp giải phóng dân tộc chỉ có thể thắng lợi hoàn toàn khi giải quyết được vấn đề nông dân và ruộng đất. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam xem xét vấn đề nông dân một cách toàn diện, nghĩa là không dừng lại ở vấn đề chính trị mà gắn liền với vấn đề kinh tế, vấn đề ruộng đất và kinh tế nông nghiệp. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Nguyễn Văn Dự 14 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp khi xem xét về mặt chính trị của vấn dề nông dân là cơ sở để xây dựng khối liên minh công nông và trí thức, cơ sở để xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất trong kháng chiến chống Pháp. Sau khi gìành được độc lập dân tộc, liên minh công nông trí thức là nền tảng của chính quyền, là công cụ sắc bén trong công cuộc xây dựng và bảo về chủ nghĩa xã hội. Sau khi mền Bắc được giải phóng (1954), diện tích đất trồng trọt miền Bắc chỉ khoảng 2 triệu ha. Trong đó, hơn một nửa diện tích thuộc về địa chủ, phong kiến, nhà thờ…còn 44,5% thuộc về số hộ nông dân. Sau năm 1955, việc ban hành và thực thi chính sách nông nghiệp của Nhà nước, nông nghiệp miền Bắc bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ, sản phẩm hàng hoá tăng, đời sống nông dân được ổn định. 81 vạn ha ruộng đất đã được đưa về 2,1 triệu hộ nông dân, chính sách giảm thuế nông nghiệp góp phần thúc đấy kinh tế - xã hội phát triển. Tuy nhiên, phải thấy rằng, trong một thời gian dài, do phải tiến hành 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ phải thực hiện chế độ bao cấp, thực hiện tất cả cho tiền tuyến nên những chỉ đạo về nông nghiệp, nông thôn, nông dân cùng còn những hạn chế nhất định. Thực hiện biện pháp cải tạo xã hội chủ nghĩa, nông nghiệp chỉ còn tồn tại dưới hình thức sở hữu hợp tác xã và nông trường quốc doanh. Các nguyên tắc hợp tác hoá theo tư tưởng của Lênin và Hồ Chí Minh như: tự nguyện, quản lý dân chủ, đi từng bước vững chắc đã được thay thế bằng phương pháp tập thể hoá với quy mô lớn, tốc độ nhanh nhưng chưa phát huy hết tính tự nguyện,tính sáng tạo tích cực của nông dân. Do quá chú trọng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng nên chưa thật sự coi trọng công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế. Trong công tác quản lý còn nhiều thiếu sót, duy trì quá lâu mô hình kinh tế quan liêu bao cấp làm cho nền nông nghiệp Việt Nam chậm được phục hồi sau chiến tranh và rơi vào tình trạng khủng hoảng, đời sống của các tầng lớp nhân dân trước hết là nông dân vô cùng khó khăn. Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển đất nước. Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có mối quan hệ hữu cơ cần phải có sự nhận thức đúng đắn để đề ra đường lối chính sách đúng đắn nhằm phát triển toàn diện nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam. Thực tế cho thấy, không phải ngay từ đầu chúng ta đã nhận thức được một cách thấu đáo mà phải trải qua quá trình trải nghiệm thực tiễn, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để phát triển. Thực tiễn Nguyễn Văn Dự 15 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp khách quan này đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải đổi mới tư duy lý luận, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Đại hội lần thứ III của Đảng khẳng định ra sức phát triển nông nghiệp, vì muốn phát triển công nghiệp, muốn tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa phải có những điều kiện tiên quyết như lương thực, thực phẩm, lao động, v..v mà những điều kiện đó phụ thuộc vào sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn. Từ Đại hội V (1981), Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đặc biệt phải vượt qua cửa ải lương thực. Đại hội VI - bước ngoặt trong đổi mới tư duy của Đảng về chủ nghĩa xã hội nói chung, về nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Đại hội chỉ rõ trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên, trước mắt là trong kế hoạch 5 năm 1986-1990, phải thật sự tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Trong toàn bộ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội không được tách rời nông nghiệp với công nghiệp, không thể chỉ coi trọng nông nghiệp hoặc công nghiệp. Nhưng ở mỗi giai đoạn, trong từng chặng đường, vị trí của nông nghiệp và công nghiệp có khác nhau; trong chặng đường hiện nay phải tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã ra nghị quyết về: “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn”. Nghị quyết đã khẳng định: Trải qua các thời kỳ cách mạng từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn luôn khẳng định tầm quan trọng của vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn…lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu và là khâu đột phá. Nghị quyết V đã xác định một hệ thống quan điểm nhằm tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta trong giai đoạn mới: Đặt sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng hàng đầu. Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Gắn sản xuất với thị trường, mở rộng sản xuất đi đôi với mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ, dể nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Gắn phát triển kinh tế với phát triển văn Nguyễn Văn Dự 16 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp hóa - xã hội, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài; bảo vệ và phát triển tài nguyên, cải thiện môi trường sinh thái, xây dựng nông thôn mới. Đổi mới kinh tế đi đôi với đổi mới hệ thống chính trị trong nông thôn. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã xác định nền kinh tế quốc dân sẽ bao gồm nhiều ngành nghề, nhiều quy mô, nhiều trình độ công nghệ; phát triển nông – lâm - ngư nghiệp gắn với công nghệ chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Tiến trình đổi mới ở Việt Nam được bắt đầu từ đột phá nông nghiệp với chính sách cơ chế khoán, từ khoán sản phẩm trong nông nghiệp, lợi ích cá nhân của người nông dân được coi trọng và kinh tế hộ gia đình nông dân được xác định là đơn vị kinh tế cơ bản ở nông thôn. Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường để khơi dậy được tiềm năng sáng tạo ở nông thôn, giải phóng mọi năng lực sản xuất, tạo động lực thực sự cho nông dân bằng việc giải quyết hợp lý các quan hệ lợi ích trong nông nghiệp và nông thôn. Trước yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, thực trạng kinh tế - xã hội nông thôn đang đặt ra nhiều vấn đề bức xúc như: thiếu việc làm, thu nhập thấp, tỷ lệ đói nghèo còn cao, chênh lệch mức sống ngày càng tăng…hiện đang là những thách thức, cản trở cho sự phảt triển nhất là trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là vấn đề chiến lược cần được đặc biệt quan tâm như Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu: “Phát triển nông – lâm – ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế xã hội”. (1) Nhờ có đường lối, chính sách nông nghiệp đúng đắn nên đã phát huy được vai trò của nông nghiệp, nông thôn, nông dân đối với nền kinh tế quốc dân. Đóng góp vào tốc độ tăng trưởng GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước. Báo cáo phát triển do WB công bố tháng 12/2007 “Tăng cường nông nghiệp cho phát triển” đã khẳng định đối với một nước có nền kinh tế đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang đô thị hoá như Việt Nam, nông nghiệp vẫn được coi là yếu tố quan trọng trong việc xoá đói giảm nghèo và tăng nguồn thu nhập cho nông dân. Việt Nam là một nước xoá đói giảm nghèo nhanh nhất thế giới. Nông nghiệp ở Việt Nam còn mở đường cho các chính sách đổi mới kinh tế nói chung bắt nguồn từ khoán 100 (năm 1981) và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ( năm 1988). Nguyễn Văn Dự 17 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp Những quan điểm trên đây, phản ánh nhận thức mới, là bước phát triển tư duy lãnh đạo của Đảng trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta. Đại hội lần thứ VIII và các Nghị quyết Trung ương IV, Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị (Khóa VIII) tiếp tục cụ thể hóa hơn về nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Nghị quyết Trung ương IV (Khóa VIII) chỉ rõ : Phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hợp tác hóa, dân chủ hóa. Nghị quyết xác định đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lao động ở nông thôn, giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ nông sản; phát triển mạnh các hình thức kinh tế hợp tác, đổi mới hoạt động của các cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn; phát triển các cơ sở quốc doanh ở vùng sâu, vùng xa. Đại hội Đảng lần thứ IX đã đề ra chủ trương và giải pháp đồng bộ về vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Văn kiện Đại hội viết: “Đối với giai cấp nông dân, ra sức bồi dưỡng sức dân ở nông thôn và phát huy vai trò giai cấp nông dân trong sự nghiệp đổi mới, tập trung sự chỉ đạo và các nguồn lực cần thiết cho công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, phát triển nông thôn, thực hiện tốt chính sách về ruộng đất, phát triển nông nghiệp toàn diện, tiêu thụ nông sản hàng hoá, bảo hiểm sản xuất và bảo hiểm xã hội…Phát huy lợi thế từng vùng, giúp đỡ đồng bào khó khăn, phân bố dân cư theo quy hoạch, phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm, xoá đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, xây dựng nông thôn mới”. Hội nghị lần thứ Bảy của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: nông nghiệp, nông thôn, nông dân có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và là lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ gìn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái. Đảng ta khẳng định, trong mối quan hệ của nông nghiệp, nông dân, nông thôn thì nông dân là chủ thể của quá trình phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Xây dựng nông thôn mới gắn với việc xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản, phát triển toàn diện, hiện đại hoá nông nghiệp là then chốt. Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Nghị quyết xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết sau: Nguyễn Văn Dự 18 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp Nông nghiệp và kinh tế nông thôn là bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nông nghiệp đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho công nghiệp và xuất khẩu, tạo việc làm và thu nhập, ổn định đời sống cho đa số nhân dân. Nông thôn là môi trường sống, nơi bảo tồn và phát triển các giá trị truyền thống văn hoá dân tộc. Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tôc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Qua các thời kỳ cách mạng, giai cấp nông dân luôn là lực lượng hùng hậu nhất đi theo Đảng, là nền tảng chính trị của cách mạng, đóng góp sức người, sức của cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Phát triển nông nghiệp, nông thôn, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân là nhiệm vụ chiến lược, là cơ sở góp phần đảm bảo ổn định chính trị - xã hội, phát triển dất nước hài hoà và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta trong điều kiện đẩy mạnh công nghiêp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế có nhiều cơ hội cũng như những thách thức mới. Đảng cần phải xem xét đánh giá đúng tình hình và có những quyết sách mạnh mẽ giải quyết kịp thời những vấn đề đang đặt ra. Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta trong Nghị quyết là: “Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đạt mức tăng trưởng 3,5 – 4%/năm; bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài. Tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn tăng lên 2,5 lần so với hiện nay. Nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn, nhất là ở các vùng còn nhiều khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nguyễn Văn Dự 19 MSSV: 6088024 Luận văn tốt nghiệp Hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; xây dựng nông thôn mới bền vững theo hướng văn minh, giàu đẹp, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; đảm bảo điều kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa, thể dục thể thao ở hầu hết các vùng nông thôn gần với các đô thị trung bình…” Trong Nghị quyết của Đảng cũng chỉ đạo các cơ quan chức năng ở các cấp tổ chức quán triệt và thực hiện tuyên truyền, giáo dục, vận động sâu rộng trong toàn xã hội về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của nông nghiệp,nông dân, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; cụ thể hóa những chủ trương và giải pháp lớn, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị để triển khai các nội dung của Nghị quyết này, cũng như các Nghị quyết khác của Đảng và Nhà nước liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X cũng nêu rỏ tầm quan trọng của việc xây dựng các Chương trình mục tiêu Quốc gia trong đó Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới với nội dung chính là: xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ. Phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn phù hợp quy hoạch không gian xây dựng làng (ấp, thôn, bản), xã và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương; kết hợp giữa hỗ trợ của Nhà nước với phát huy nội lực của cộng đồng dân cư nông thôn. Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và tổ chức tốt đời sống văn hóa cơ sở. Xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu của nền nông nghiệp hiện đại, sản xuất hàng hóa gồm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp, thực hiện “mỗi làng một nghề”. Để thực hiện tốt Nghị quyết của Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam, sớm đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển cần thực hiện chiến lược công nghiệp hoá rút ngắn để chuyển từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Thực tế 20 năm đổi mới ở Việt Nam cho thấy tầm quan trọng của nông nghiệp đối với tăng trưởng kinh tế của cả nước. Định hướng về phát triển nông thôn phải bắt đầu từ đổi mới nhận thức về vai trò của nông thôn theo hướng phát triển toàn diện các ngành nghề, dịch vụ trên địa bàn nông thôn,chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn theo hướng phát triển toàn diện và vững chắc gắn với công nghiệp chế biến Nguyễn Văn Dự 20 MSSV: 6088024
- Xem thêm -