Tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý thiết bị dạy học tại trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp hải phòng trong bối cảnh hiện nay

  • Số trang: 108 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 58 |
  • Lượt tải: 1
tailieuonline

Đã đăng 39869 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐẶNG KIÊN TRUNG QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP- HƯỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÀ NỘI - 2011 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐẶNG KIÊN TRUNG QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP- HƯỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC Mã số: 60 14 05 Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS Đặng Quốc Bảo HÀ NỘI- 2011 HÀ NỘI - 2011 MỤC LỤC: MỞ ĐẦU. 1. Lý do chọn đề tài. 1 2.Mục đích nghiên cứu. 3 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu. 3 4. Giả thuyết khoa học. 4 5. Nhiệm vụ nghiên cứu. 4 6. Phạm vi nghiên cứu. 4 7. Phương pháp nghiên cứu. 4 8. Cấu trúc luận văn. 5 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC 7 1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề. 7 1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài. 13 1.3. Đặc trưng thiết bị dạy học tại các nhà trường 23 1.4. Nội dung của quản lý thiết bị dạy học trong các Trung tâm Giáo dục Kỹ 37 thuật tổng hợp – Hướng nghiệp trong bối cảnh hiện nay. 1.5. Tiểu kết chương 1. Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC 41 42 TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGHỀ PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP – HƯỚNG NGHIỆP HẢI PHÒNG 2.1. Khái quát về sự phát triển kinh tế giáo dục của Hải Phòng . 42 2.2. Tiến trình phát triển của Trung tâm GD KTTH-HN H¶i Phßng. 44 2.3. Thực trạng hoạt động giáo dục tại Trung tâm GD KTTH - HN Hải Phòng. 48 2.4. Thực trạng quản lý TBDH tại Trung tâm giáo dục KTTH - HN Hải Phòng. 61 2.5. Đánh giá chung và xác định nguyên nhân. 66 2.6. Tiểu kết chương 2. 68 Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC KTTH- HN HẢI PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY. 3.1. Nguyên tắc chọn lựa biện pháp. 69 3.2. Các biện pháp. 71 3.2.1. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của nhân tố “Thiết bị dạy học” 71 cho các lực lượng có trách nhiệm trong trung tâm. 3.2.2. Hoàn thiện công tác kế hoạch sử dụng, trang bị và phát triển thiết bị dạy 74 học. 3.2.3. Cải tiến tổ chức, bộ máy quản lý thiết bị dạy học . 76 3.2.4. Tăng cường giám sát đôn đốc việc thực hiện kế hoạch về quản lý thiết bị 77 dạy học . 3.2.5. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả việc thực hiện kế hoạch sử 79 3.2.6. Chú ý đào tạo bồi dưỡng cán bộ phụ trách thiết bị dạy học có nghiệp vụ. 80 3.2.7. Khai thác các nguồn vốn để mua sắm, hiện đại hoá thiết bị dạy học. 82 3.2.8. Xây dựng cơ chế quản lý nội bộ, tạo sự đồng thuận về đầu tư hiết bị dạy 84 dụng, trang bị và phát triển thiết bị dạy học. học. 3.3. Mối liên quan giữa các biện pháp . 85 3.4. Kiểm chứng sự nhận thức về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp. 87 3.5. TiÓu kÕt ch-¬ng 3. 91 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92 KẾT LUẬN. 92 KHUYẾN NGHỊ. 93 PHỤ LỤC 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Báo cáo của Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII được trình bày tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX có viết: “ Tăng cường cơ sở vật chất và từng bước hiện đại hoá nhà trường, lớp học, sân chơi, bãi tập, máy tính nối mạng internet, thiết bị học tập và giảng dạy hiện đại, thư viện ký túc xá...” và “ Đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tư duy sáng tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét , học vẹt, học chay” [10, tr. 12]. Thực tiễn giáo dục của các nước trên thế giới cũng như ở nước ta cho thấy không thể đào tạo con người phát triển toàn diện theo yêu cầu phát triển của xã hội nếu không có những cơ sở vật chất và thiết bị dạy học tương ứng. Thiết bị dạy học của trường học là những điều kiện vật chất cần thiết giúp học sinh nắm vững kiến thức, tiến hành lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, hoạt động văn nghệ và rèn luyện thân thể, bảo đảm thực hiện tốt phương pháp giáo dục và đào tạo mới. Chúng ta hãy thử hình dung việc dạy học mà không có đầy đủ sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy cho giáo viên. Và cũng thử hình dung việc dạy học khoa học tự nhiên mà không có phòng thí nghiệm, giáo dục kỹ thuật tổng hợp mà không có xưởng trường, không có thiết bị, giáo dục thể chất mà không có sân bãi và các dụng cụ thể dục thể thao. Việc giáo dục vệ sinh mà không có các phương tiện tối thiểu để nhà trường luôn sạch sẽ, giáo dục âm nhạc mà không có nhạc cụ thì thử hỏi chất lượng giáo dục của nhà trường sẽ như thế nào?. Tính chất, nguyên lý giáo dục - “Triết lý của giáo dục Việt Nam” được khẳng định trong Điều 3 - Luật Giáo dục 2005 [18, tr.3]: 1. Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. 1 2. Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Quan điểm giáo dục của Đảng từ Nghị quyết đã được cụ thể hóa trong Luật Giáo dục Việt Nam qua mục tiêu và triết lý giáo dục. Để thực hiện được mục tiêu theo triết lý đó, trong những năm đầu và những năm tiếp theo của thế kỷ XXI, chúng ta cần phát triển giáo dục và đào tạo, tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì đây là động lực thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững. Kinh nghiệm của một số nước phát triển và đang phát triển cho thấy, phát triển giáo dục là bí quyết thành công, là con đường ngắn nhất đi tắt, đón đầu trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mục đích của giáo dục hiện đại là đào tạo ra những con người phát triển toàn diện, là những người có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học và công nghệ, có đủ sức cạnh tranh trong quá trình phân công lao động quốc tế. Giáo dục cần đào tạo con người đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường lao động và nghề nghiệp cũng như cuộc sống, có khả năng hòa nhập và cạnh tranh quốc tế, đặc biệt là: Năng lực nhận thức; năng lực hành động; tính sáng tạo, năng động; tính tự lực và trách nhiệm; năng lực cộng tác làm việc; năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp và khả năng học tập suốt đời... Từ những yêu cầu mang tầm vĩ mô ở trên đối với giáo dục đào tạo nói chung, mỗi đơn vị, cơ sở giáo dục cụ thể nói riêng cũng không thể đứng ngoài những đòi hỏi đó. Mỗi một cơ sở giáo dục phải đặt ra cho mình những yêu cầu hết sức cụ thể, những mục tiêu rõ ràng cần đạt đến, những biện pháp phù hợp, linh hoạt để đạt được hiệu quả cao nhất trong mọi hoạt động của đơn vị mình, đặc biệt là nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đáp ứng nhu cầu cấp bách của phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, phải tiến hành đồng bộ nhiều hoạt động giáo dục, đặc biệt là các hoạt động quản lý. Trong đó quản lý thiết bị dạy học là tác động có mục đích của người quản lý nhằm xây dựng, phát triển 2 và sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết bị dạy học , phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục và đào tạo. Vấn đề quản lý nhà trường, quản lý cơ cở vật chất và thiết bị dạy học đã có nhiều công trình nghiên cứu. Các tác giả như: Đặng Quốc Bảo [1], Nguyễn Đức Chính [8], Đặng Xuân Hải [14], Nguyễn Thị Mỹ Lộc [17], Nguyễn Quốc Chí [6], Trần Khánh Đức [12], Nguyễn Thị Phương Hoa [15],...các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả nói trên đã xây dựng hệ thống lý luận cốt lõi cho việc vận dụng khoa học quản lý vào nhà trường. Tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng, hoạt động dạy nghề phổ thông và định hướng nghề nghiệp cho học sinh được thực hiện từ nhiều năm nay, đã có những đóng góp nhất định cho ngành giáo dục - đào tạo của thành phố trong công tác hướng nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực, song trên thực tế vẫn còn nhiều hạn chế. Cho đến nay đã có các công trình khoa học của tác giả Nguyễn Quang Dũng, Vũ Văn Ngôn nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động dạy- hướng nghiệp nghề cho học sinh phổ thông, tuy nhiên vấn đề quản lý thiết bị dạy học chưa được nghiên cứu sâu và một cách có hệ thống. Do vậy việc xây dựng được các biện pháp quản lý thiết bị dạy học trong hoạt động giáo dục nghề phổ thông góp phần nâng cao chất lượng học nghề tại Trung tâm giáo dục KTTH - HN Hải Phòng đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu. Do đó chúng tôi chọn hướng nghiên cứu với tên đề tài: “Quản lý thiết bị dạy học tại Trung tâm Giáo dục kỹ thuật Tổng hợp- Hướng nghiệp Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay”. 2.Mục đích nghiên cứu. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất biện pháp quản lý thiết bị dạy học chất nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng. 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu. 3.1.Khách thể nghiên cứu. Thiết bị dạy học tại Trung tâm Giáo dục KTTH – HN. 3.2.Đối tượng nghiên cứu. 3 Thiết bị dạy học tại Trung tâm Giáo dục KTTH – HN Hải Phòng. 4. Giả thuyết khoa học. Đề xuất và triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý thiết bị dạy học trong hoạt động giáo dục nghề phổ thông chắc chắn chất lượng của hoạt động giáo dục nghề phổ thông tại Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp Hải Phòng sẽ được nâng cao, đáp ứng được nhu cầu đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu. - Xác định cơ sở lý luận của quản lý thiết bị dạy học trong hoạt động giáo dục nghề phổ thông tại Trung tâm KTTH - HN. - Đánh giá thực trạng quản lý thiết bị dạy học trong hoạt động giáo dục nghề phổ thông tại Trung tâm KTTH - HN Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời xác định được các nguyên nhân của các thực trạng trên. - Đề xuất một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục nghề phổ thông tại Trung tâm KTTH - HN Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay. 6. Phạm vi nghiên cứu. Cơ sở vật chất của nhà trường gồm trường sở, thiết bị dạy học, tài sản vật chất của nhà trường. Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung đi sâu vào “Thiết bị dạy học”. 7. Phương pháp nghiên cứu. 7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết. - Nghiên cứu các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dạy nghề phổ thông. - Nghiên cứu lý luận về công tác quản lý thiết bị dạy học trong hoạt động giáo dục nghề phổ thông. - Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến công tác quản lý thiết bị dạy học trong hoạt động giáo dục nghề phổ thông. 7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn. 4 - Phương pháp tổng kết thực tiễn: tổng kết các kinh nghiệm quản lý thiết bị dạy học trong hoạt động giáo dục nghề phổ thông tại trung tâm KTTH - HN. - Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: nhằm thu thập thông tin từ đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên của trung tâm KTTH - HN về thực trạng các biện pháp quản lý thiết bị dạy học trong hoạt động nghề phổ thông. Phương pháp này cũng được sử dụng để đánh giá các giải pháp được đề xuất. - Phương pháp quan sát: Thu thập thông tin về thực trạng quản lý thiết bị dạy học trong hoạt động nghề phổ thông tại Trung tâm KTTH - HN Hải Phòng 7.3. Nhóm phương pháp xử lý thông tin gồm: - Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến chuyên gia về các lĩnh vực liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài. + Sử dụng thống kê toán học. + Mô hình hoá, sử dụng phần mềm tin học. Các phương pháp này được sử dụng trong quá trình xử lí các thông tin, xử lí các kết quả điều tra, kết quả khảo nghiệm. - Phương pháp khảo nghiệm : khảo nghiệm để minh chứng tính khả thi của các giải pháp được đưa ra trong luận văn . 8. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn được trình bày trong 3 chương. Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thiết bị dạy học tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng. Chương 3: Biện pháp quản lý thiết bị dạy học tại Trung tâm Giáo dục KTTH - HN Hải Phòng. 5 KÍ HIỆU VIẾT TẮT. CSVC Cơ sở vật chất GV Giáo viên CNH- HĐH Công nghiệp hoá- hiện đại hoá GD Giáo dục GD& ĐT Giáo dục và Đào tạo GD KTTH-HN Giáo dục Kỹ thuật Tổng hợp- Hướng nghiệp HS Học sinh KTTH-HN Kỹ thuật Tổng hợp- Hướng nghiệp KTXH Kinh tế xã hội NV Nhân viên PP Phương pháp PPDH Phương pháp dạy học PTKTDH Phương tiện kĩ thuật dạy học QLGD Quản lí giáo dục SGK Sách giáo khoa SP Sư phạm TBDH Thiết bị dạy học TBKT Thiết bị kĩ thuật THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông TN-XH Tự nhiên- xã hội TT Thông tin XHCN Xã hội chủ nghĩa 6 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC. 1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới. Giáo dục trung học phổ thông không chỉ có mục tiêu chuẩn bị nguồn cho giáo dục đại học mà chủ yếu là chuẩn bị cho học sinh - những con người trưởng thành - bước vào cuộc sống lao động xã hội . Do đó học sinh phổ thông dù học lên đại học hay sớm đi vào cuộc sống lao động nghề nghiệp, họ đều cần được trang bị những tri thức khoa học, kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng lao động nghề nghiệp, năng lực sáng tạo, để có thể làm tốt được các nhiệm vụ trò mà họ sẽ đảm nhận trong tương lai. Trên thực tế, khi khoa học - kỹ thuật phát triển, quy trình công nghệ thay đổi, người lao động thường không có khả năng để thích ứng kịp thời . Trong khi đó, số học sinh phổ thông rời ghế nhà trường với vốn "văn hóa chay" thì cơ hội để hội nhập vào cuộc sống lao động - xã hội sẽ rất hạn chế . Xuất phát từ thực tiễn như vậy, đã có nhiều nhà giáo dục đưa ra những hình thức gắn giáo dục với lao động nghề nghiệp, với cuộc sộng . Vào giữa thế kỷ 19 (năm 1848), ở Pháp xuất hiện cuốn sách "Hướng nghiệp chọn nghề" . Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp . Ngay khi đó, người ta đã nhận thấy rằng hệ thống nghề nghiệp đã phức tạp, sự chuyên môn hóa vượt lên hẳn so với giai đoạn sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp. Trên cơ sở đó, cuốn sách đã khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên học sinh đi vào " Thế giới nghề nghiệp " nhằm sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động trẻ tuổi Vấn đề dạy học lao động nghề nghiệp đã được nhiều nhà giáo dục học nổi tiếng thuộc tổ chức nghiên cứu về lao động, kỹ thuật và kinh tế trong hoạt động dạy học của Cộng hòa liên bang Đức (nay là nước Đức thống nhất) (GATWU.BRD) nghiên cứu . Các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học lao động nghề nghiệp . Hoạt động 7 dạy học lao động - kỹ thuật - kinh tế không chỉ được xem là quan trọng đối với những môn học khác, mà còn được coi là bộ phận cấu thành cơ bản của giáo dục trung học phổ thông ... bởi vì nó tạo điều kiện cho học sinh phát triển thành những con người trưởng thành trong cuộc sống lao động - xã hội . Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học sư phạm ở viện Hàn lâm khoa học giáo dục - Cộng hòa dân chủ Đức (APW-DDR) như Heinz Prankiewicz, Ulrich Viets, D. Marchneider đã đề cập đến các vấn đề cơ sở khoa học sư phạm của tổ chức hoạt động dạy học lao động nghề nghiệp cho học sinh . Các tác giả đã đưa ra các phương thức : " Phối hợp chặt chẽ giữa Trung tâm kỹ thuật tổng hợp và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho học sinh " . Magumi Nishino ở viện nghiên cứu giáo dục Nhật Bản đã nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng tri thức và những kỹ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết cho học sinh phổ thông . Theo tác giả, học sinh trung học phổ thông phải được bồi dưỡng tri thức và kỹ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và có khả năng lựa chọn ngành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân. Đã từ lâu, giáo dục Nhật Bản đã chú ý vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kỹ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông . Chính vì vậy, ở Nhật Bản, trong 30 năm qua (1952 - 1982) nhiều cuộc cải cách giáo dục đã được tiến hành với mục đích đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng các yêu cầu phát triển các ngành kinh tế cụ thể của đất nước . Jacques Delors, chủ tịch ủy ban quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỷ XXI của UNESCO khi phân tích "Những trụ cột của giáo dục" đã viết :"Học để biết, học để làm việc, học để làm người và học để chung sống “, đó là bốn trụ cột mà ủy ban đã trình bày và minh họa như những nền tảng của giáo dục [21, tr.6] Theo tác giả vấn đề học nghề của học sinh phổ thông là một căn bản không thể thiếu được trong giáo dục : " Học để làm việc " là trụ cột thứ hai [21, tr.8]. 8 Tác giả đã nhấn mạnh việc học sinh có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học - Năm 1994 Uỷ ban Cải cách giáo dục Hàn Quốc trực thuộc Tổng thống đã đưa ra đề án cải cách giáo dục cho thế kỷ 21. Mục tiêu mà Uỷ ban này đưa ra là tạo một xã hội mà việc học tập có thể được tiến hành ở bất cứ đâu, vào bất cứ lúc nào, nhằm khai thác tối đa kỹ thuật thông tin hiện đại. Một vấn đề mới ở bậc giáo dục trung học phổ thông của Hàn Quốc là cho phép học sinh được tự do chuyển đổi từ trung học phổ thông sang học nghề, và ngược lại . Đây là biện pháp kích thích hứng thú học nghề của học sinh. - Singapo rất chú trọng giáo dục tư chất cần thiết cho học sinh - công dân tương lai. Tư chất đó là kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, cách suy nghĩ linh hoạt, khả năng làm việc học tập, thích ứng với những thay đổi nhanh của xã hội trong thế kỉ. Trong những thập kỉ 70-80 của thế kỷ 20, các nước ASEAN đã chú ý đến chiến lược giáo dục ưu tiên phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cạnh tranh kinh tế quốc tế. Các nước như: Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Philippin….đã nhận thấy nhà trường phổ thông có chiều hướng xa rời cuộc sống. Họ đã kịp thời điều chỉnh, tăng thời lượng giáo dục kỹ thuật, lao động trong chương trình giáo dục phổ thông - đặc biệt là phổ thông trung học nhằm thích ứng với sự phân luồng và phân bố lao động . Chiến lược gắn kết chương trình giáo dục phổ thông với chương trình giáo dục chuyên nghiệp trên một nền kiến thức văn hoá hợp lí của các nước ASEAN đã có tác dụng rèn luyện tư duy lôgíc, tư duy biện chứng, tư duy kinh tế, kỹ thuật, quản lý của học sinh. Đây là các yếu tố góp phần phát triển tích thích ứng nhanh, khả năng tự tìm việc làm cho người lao động trong cơ chế thị trường. Nhìn chung những công trình nghiên cứu về hoạt động dạy học lao động chuẩn bị nghề nghịêp ở nước ngoài đều chú ý việc cải cách mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ sở vật chất - kỹ thuật, thiết bị dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lao động chuẩn bị nghề nghiệp cho học sinh phổ thông . Như vậy, về 9 thực chất các công trình nghiên cứu đã nêu ở phần trên đều đề cập tới hoạt động dạy học lao động nghề nghiệp cho học sinh phổ thông (dạy nghề cho học sinh phổ thông) . Tuy nhiên trong các công trình này còn chưa đề cập đến việc tìm kiếm các giải pháp quản lý thiết bị dạy học có hiệu quả để dạy nghề phổ thông cho học sinh trung học . Dạy nghề phổ thông được coi là một bộ phận cấu thành của quá trình giáo dục đào tạo, là một trong các định hướng hoạt động của nhà trường. Song phương hướng này chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi lãnh đạo nhà trường, các nhà quản lý cơ sở giáo dục biết tổ chức các mặt hoạt động một cách đồng bộ, cùng tác động vào người học, đặc biệt là tổ chức và quản lý quá trình dạy trong đó có công tác quản lý TBDH là một thành tố không thể tách rời trong hoạt động giáo dục tại Trung tâm giáo dục KTTH- HN. 1.1.2. Những nghiên cứu của Việt nam về vấn đề quản lý TBDH Hiện nay cơ sở vật chất và thiết bị dạy học được xem như một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, là hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ thuật cần thiết được giáo viên và học sinh sử dụng để hoạt động dạy và học, giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Cùng với sự phát triển của kinh tế- xã hội, phát triển khoa học kỹ thuật, yêu cầu của xã hội về việc đào tạo con người ngày càng cao, yêu cầu con người phát triển toàn diện, hài hoà, đáp ứng yêu cầu phát triển của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thì cơ sở vật chất và thiết bị dạy học của trường học ngày càng phong phú, phức tạp và nhiều mặt. Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình giáo dục, góp phần vào quyết định chất lượng của nhà trường. Thực tiễn giáo dục của các nước trên thế giới cũng như ở nước ta cho thấy không thể đào tạo con người phát triển toàn diện theo yêu cầu phát triển của xã hội nếu không có những cơ sở vật chất và thiết bị dạy học tương ứng. Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định [10, tr. 9]: 10 “Con người và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo. Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn. Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ. Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà kinh doanh, nhà quản lý. Chính sách sử dụng lao động và nhân tài phải tận dụng mọi năng lực, phát huy mọi tiềm năng của tập thể và cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Mục tiêu của Giáo dục Việt Nam được ghi rõ trong Điều 2 - Luật Giáo dục 2005 [18, tr. 3]: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo các quan điểm giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lê Nin nhằm đào tạo lớp người lao động mới được trang bị đầy đủ kiến thức giữa thực tế và lý luận. Người nói : " Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường : - Học đi với lao động - Lý luận đi với thực hành - Cần cù đi với tiết kiệm " . [19, tr. 55] Trong bài báo " Học hay, cày giỏi ", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến một yếu tố mới của giáo dục . Đó là " Việc cung cấp cho học sinh những tri thức 11 cơ bản về kỹ thuật sản xuất công nghiệp và nông nghiệp ", "những ngành sản xuất chủ yếu" trong xã hội . Đó cũng chính là nội dung của giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp trong hoàn cảnh nước ta lúc bấy giờ . Các tác giả như: Đặng Quốc Bảo [1], Nguyễn Đức Chính [8], Đặng Xuân Hải [14], Nguyễn Thị Mỹ Lộc [17], Nguyễn Quốc Chí [6], Trần Khánh Đức [12], Nguyễn Thị Phương Hoa [15],...các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả nói trên đã xây dựng hệ thống lý luận cốt lõi cho việc vận dụng khoa học quản lý vào nhà trường Những năm gần đây các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học đã đề cập nhiều đến vấn đề dạy nghề cho học sinh phổ thông ở các khía cạnh khác nhau . Các tác giả thống nhất đưa ra vai trò của giáo dục nghề nghiệp là: - Góp phần điều chỉnh việc chọn nghề của học sinh theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế. - Giáo dục ý thức chính trị và lí tưởng nghề nghiệp cho người lao động. - Giáo dục nghề nghiệp gắn với việc học tập, làm chủ công nghệ mới. - Giáo dục nghề nghiệp chuẩn bị cho con người năng động tích ứng với thị trường. Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng, giáo dục nghề nghiệp cho học sinh phổ thông bao gồm các nội dung: - Giáo dục và tuyên truyền nghề. - Chuẩn bị cho học sinh có ý thức nghề. - Học các kỹ năng cơ bản của nghề . - Tư vấn nghề. - Nghiên cứu nhân cách nghề nghiệp cho học sinh. - Sử dụng tốt CSVC và TBDH. Từ những phân tích trên có thể rút ra những nhận xét sau đây : Các công trình khoa học khác nhau về lĩnh vực này ở trong và ngoài nước đều quan tâm đến hoạt động dạy học lao động chuẩn bị nghề nghiệp cho học sinh 12 phổ thông. Thực chất của vấn đề là hoạt động dạy nghề cho học sinh phổ thông nhằm chuẩn bị cho đa phần học sinh phổ thông trung học, sau khi tốt nghiệp, dễ dàng hòa nhập với cuộc sống lao động nghề nghiệp trong nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia . Tuy nhiên các công trình khoa học kể trên đều tập trung vào việc đổi mới nội dung, phương pháp, sử dụng tối ưu cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho hoạt động dạy học kỹ thuật ứng dụng (nghề phổ thông) cho học sinh phổ thông nhưng chưa có các công trình nghiên cứu về các biện pháp cụ thể trong việc quản lý thiết bị dạy học tại Trung tâm Giáo dục kỹ thuật Tổng hợp- Hướng nghiệp. Nhưng các công trình khoa học khác nhau này ở trong nước và ngoài nước rất có giá trị về mặt phương pháp luận và lý luận đối với việc thực hiện viết đề tài luận văn về quản lý thiết bị dạy học tại Trung tâm Giáo dục kỹ thuật Tổng hợpHướng nghiệp Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay. 1.2 . Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.2.1. Quản lý giáo dục- Quản lý nhà trường. 1.2.1.1 Khái niệm quản lý. Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, từ khi con người biết hợp sức với nhau lại để tự vệ hoặc lao động để kiếm sống thì bên cạnh lao động chung của mọi người đã xuất hiện như một tất yếu khách quan, những hoạt động tổ chức phối hợp điều khiển hoạt động của mọi người nhằm thực hiện mục tiêu chung đã định. Về vấn đề này K.Marx đã viết: Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thể hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần ở một chừng mực nhất định đến sự quản lý xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá thể và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động riêng rẽ của nó. Do vậy có thể hiểu lao động xã hội và quản lý không tách rời nhau và quản lý lao động điều khiển lao động chung. Khi lao động xã hội đạt tới một quy mô phát triển nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một chức năng riêng biệt. Từ đó trong xã hội hình thành một bộ phận trực 13 tiếp sản xuất, một bộ phận khác chuyên quản lý. Và mối quan hệ giữa hai bộ phận này chính là mối quan hệ quản lý. Trong các tài liệu về quản lý đã có nhiều tác giả đưa ra các định nghĩa khác nhau. Theo từ điển Việt Nam (Viện ngôn ngữ học – NXB TP HCM). Quản lý và tổ chức điều hành, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan, là trông coi, giữ gìn và theo dõi thực hiện công việc. Tóm lại : “ Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra ” [6, tr. 9]. Theo M.P.Follet, quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác, là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến Nhìn chung tuy các tác giả diễn đạt định nghĩa quản lý theo các cách khác nhau nhưng đều có cái chung là : - Có chủ thể quản lý và người bị quản lý. - Là hoạt động có mục đích, có kế hoạch. - Có tác động qua lại giữa người quản lý và người bị quản lý. Nói đến quản lý người ta nghĩ đến ai quản lý ai, ở trong tổ chức nào, nhiệm vụ, chức năng của tổ chức đó. Nói đến tổ chức là nói đến cơ cấu bộ máy, tổ chức về nhân sự và tổ chức hành chính (cơ chế phối hợp hoạt động). Như vậy quản lý bao giờ cũng thực hiện trong một tổ chức cụ thể. Trong tổ chức hành chính có sự phân định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, quyền lợi của từng bộ phận, của từng cá nhân; quy định các mối quan hệ chấp hành, quan hệ phối hợp thực hiện, quan hệ kiểm tra giám sát. Như vậy quản lý thực chất là điều hành tổ chức hoạt động theo đúng chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận, từng cá nhân làm cho bộ máy vận hành ổn định, phát triển, thực hiện các mục tiêu quản lý. 1.2.1.2 Một số quan điểm trong quản lý 14 Dựa trên những quan điểm quản lý khác nhau sẽ dẫn đến cách tổ chức thực hiện các mục tiêu quản lý khác nhau. -Quan điểm hiệu quả: Người quản lý phải cân nhắc, tính mức chi phí thấp nhất để có kết quả cao nhất. -Quan điểm kết quả: Người quản lý có thể huy động hết tiềm lực, bằng mọi cách để đạt bằng được kết quả mong muốn. -Quan điểm đáp ứng: Người quản lý có phản ứng linh hoạt để giải quyết các vấn đề đột xuất, các biến động bất thường để đạt được kết quả mong muốn. -Quan điểm phù hợp: Người quản lý điều hành hệ thống hoạt động hợp quy luật theo các chuẩn mực pháp luật và xã hội. -Quan điểm linh hoạt: Người quản lý biết vận dụng lý luận để giải quyết các tình huống quản lý trước những biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội và những tiến bộ của khoa học công nghệ. Muốn vậy người quản lý phải có “kỹ năng kỹ thuật”, biết kỹ thuật để chỉ đạo điều hành về mặt công nghệ, có “kỹ năng làm việc với con người” để khai thác được tiềm năng trí tuệ của tập thể, phân công đúng người, đúng việc đồng thời đối xử công bằng, bảo đảm được lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân; có kỹ năng lý luận để có tầm nhìn xây dựng chiến lược phát triển, đổi mới, cải tiến nâng cao chất lượng hiệu quả quản lý. 1.2.1.3 Các chức năng quản lý +Nghiên cứu về chức năng quản lý, một số tác giả nước ngoài nnhư: Paul Hersey, Henri Fayol, V.G. Afxiep, D M Kruk cũng như tác giả Đặng Quốc Bảo [1, tr.7] và các nhà quản lý khác đã đưa ra các chức năng sau : kế hoạch hoá(Planing-P); tổ chức (Organizing-O); chỉ đạo (Leading-L); kiểm tra(Controling-C) và thông tin( Information-I). Có thể tóm lược lại trong công thức và sơ đồ sau: M(managenment)= POLCI Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa chức năng quản lý 15 P C I O L (Nguồn: [1, tr. 7] +Tổ chức UNESCO cũng đã chú ý đến các yếu tố hoàn cảnh, các điều kiện đầu vào trước khi xây dựng kế hoạch và đưa ra 4 chức năng: -Kế hoạch hoá (dự kiến phân công, phối hợp các nguồn lực, lập kế hoạch (Thời gian hoạt động). -Tổ chức phân công giao nhiệm vụ -Triển khai thực hiện, giám sát, điều chỉnh hoạt động -Kiểm tra đánh giá kết quả -Xác định nhu cầu xã hội, phân tích các điều kiện đầu vào đề xuất chính sách chất lượng, thực chất là xây dựng mục tiêu và tiêu chí đánh giá phù hợp với yêu cầu và điều kiện đã có. -Xây dựng kế hoạch chỉ rõ làm gì, ai làm, làm thế nào và các chuẩn cần đạt. -Tổ chức thực hiện, phân công giao trách nhiệm (phân cấp quản lý) các điều kiện thực hiện, các chuẩn cần đạt cho các bộ phận cá nhân thực hiện, tự giám sát công việc của mình đến kết quả cuối cùng. -Kiểm tra đánh giá: Cán bộ quản lý giám sát các bộ phận; cán bộ quản lý bộ phận giám sát hoạt động cá nhân, mỗi cá nhân tự giám sát kết quả hoạt động 16
- Xem thêm -