Tài liệu Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển kinh tế du lịch tỉnh lào cai

  • Số trang: 30 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
hoavinh

Tham gia: 24/04/2016

Mô tả:

Phát triển kinh tế du lịch tỉnh Lào Cai : Luận văn ThS. Kinh tế: 60.31.01/Nguyễn Thị Lan Phương ; Nghd. : TS. Đinh Văn Thông MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến. Hội đồng Lữ hành và Du lịch quốc tế (World Travel and Tourism Council – WTTC) đã công nhận du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới, vượt trên cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp. Đối với một số quốc gia, du lịch là nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất trong ngoại thương. Tại nhiều quốc gia khác, du lịch là một trong những ngành kinh tế hàng đầu. Du lịch đã nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nước trên thế giới. Để phát triển du lịch thì việc khai thác tiềm năng du lịch có hiệu quả là rất cần thiết. Thực tiễn cho thấy các nước có nền công nghiệp du lịch phát triển như Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Thụy Sĩ… đã có nhiều thành công trong việc khai thác tiềm năng du 1 lịch. Đối với những nước đang phát triển, nhất là những nước còn nghèo và nhỏ như Việt Nam thì việc khai thác tiềm năng du lịch tuy đã có cố gắng nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Vì vậy, du lịch vẫn chưa thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân. Lào Cai là một tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam, vị thế của Lào Cai là tiềm năng thiên phú cho du lịch. Từ Lào Cai, khách thập phương có thể du lịch sang Trung Quốc vào sâu nội địa Việt Nam và đi các nước ASEAN. Lào Cai có nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú cùng nhiều truyền thống văn hóa giàu bản sắc của các dân tộc được bảo lưu phong phú đầy hấp dẫn đan xen như lễ hội xuống đồng, hội múa xòe, hội xuân Đền Thượng tại thành phố Lào Cai…Lào Cai còn tập hợp nhiều di tích văn hóa như quần thể hang động Mường Vi, đền Bảo Hà, khu bãi đá khắc cổ Sapa, tòa lâu đài trên cao nguyên Bắc Hà…là những điều kiện và di vật thuận lợi để phát triển nhiều loại hình du lịch. Trong những năm qua, du lịch Lào Cai đã có những phát triển nhất định, bước đầu khẳng định được tầm quan trọng của kinh tế du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, so với tiềm năng thì những thành tựu đạt được còn rất 2 khiêm tốn. Đặc biệt trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì việc đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch ở Lào Cai đang đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Điều đó đặt cho du lịch Lào Cai phải đánh giá đúng thực trạng của ngành và phải có những giải pháp đúng hướng để khai thác triệt để tiềm năng sẵn có và xây dựng chiến lược phát triển phù hợp, nhằm góp phần thúc đẩy ngành du lịch Lào Cai phát triển bền vững, hòa nhập với trào lưu phát triển du lịch của khu vực và trên thế giới, thực hiện đúng vai trò của ngành du lịch trong xây dựng và phát triển của tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Phát triển kinh tế du lịch tỉnh Lào Cai” làm đề tài luận văn cho mình. 2. Tình hình nghiên cứu Trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, vấn đề du lịch và KTDL đã được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu ở các mức độ và dưới các góc độ khác nhau. Đáng lưu ý có các công trình liên quan đến đề tài như: Các công trình ngoài nước có: + Đổng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình cùng với tập thể giáo sư và giảng viên khoa Du lịch Đại 3 học Hải Dương, Thanh Đảo, Trung Quốc hợp soạn với cuốn sách Kinh tế du lịch và Du lịch học, Nxb Trẻ 2000. Đây là công trình nghiên cứu khoa học có hệ thống về hoạt động du lịch từ thực tiễn của Trung Quốc, nêu lên nhiều mặt tương đối phù hợp với điều kiện hoạt động du lịch Việt Nam, từ đó có thể rút ra được những bài học để đưa du lịch Việt Nam phát triển theo đúng chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay. + Robert Lanquar, với cuốn sách Kinh tế du lịch, người dịch Phạm Ngọc Uyển, Bùi Ngọc Chưởng, Nxb Thế giới, Hà Nội 2002. Giới thiệu cột mốc lịch sử của công nghiệp du lịch và đi sâu phân tích những ảnh hưởng của du lịch đến kinh tế, những biến số kinh tế vĩ mô, những công cụ và phương tiện phân tích kinh tế học du lịch, kinh tế học về kinh doanh du lịch và qua đó nhấn mạnh sự cần thiết phải tiếp cận theo hệ thống hiện đại. Ở trong nước có những tác giả viết về lĩnh vực du lịch và liên quan đến lĩnh vực kinh tế du lịch như: + Nguyễn Hồng Giáp, với cuốn Kinh tế du lịch, Nxb Trẻ, 2002 4 + GS.TS. Nguyễn Văn Đính, TS.Trần Thị Minh Hòa với cuốn Giáo trình Kinh tế du lịch, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Nxb Lao động Xã hội. + Lê Văn Thắng, Trần Anh Tuấn, Bùi Thị Thu, “Giáo trình du lịch và môi trường”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Những cuốn sách nêu trên đề cập đến những vấn đề cơ bản sau: - Trên cơ sở khái lược chung nhất những khái niệm về du lịch, sản phẩm du lịch, cách nhìn nhận KTDL từ nhiều góc độ khác nhau của các học giả trong và ngoài nước để giúp cho độc giả những kiến thức khái quát, cơ bản như khái niệm về du lịch, lịch sử hình thành, xu hướng phát triển của du lịch, ý nghĩa kinh tế - xã hội của du lịch, các loại hình kinh doanh du lịch, hiệu quả KTDL...Đồng thời, các tác giả cũng đề cập đến những vấn đề có liên quan đến một số mặt hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch và hiệu quả KTDL, tổ chức và quản lý ngành du lịch ở Việt Nam. Trên cơ sở đó đưa ra những nội dung để xác định vị trí của ngành du lịch, các thành phần chủ yếu của sản phẩm du lịch và các đơn vị hoạt động du lịch để đi đến 5 những vấn đề KTDL chính thống theo hướng nghiên cứu và quan điểm của tác giả. - Giới thiệu chung về tài nguyên môi trường du lịch nói chung và tài nguyên môi trường Du lịch Việt Nam nói riêng, những tác động của hoạt động du lịch tới tài nguyên và môi trường. Trên nhiều tạp chí có nhiều bài viết nêu lên những thành tựu của ngành du lịch Việt Nam, đề ra mục tiêu và nhiệm vụ của ngành du lịch. Tiêu biểu như: Đón xuân nhìn lại 5 năm du lịch Việt Nam, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 1+2/2004; Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 2/2005; Đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 15/2009. Các tác giả đã khái quát những mặt hoạt động, những thành tựu đã đạt được của ngành du lịch Việt Nam. Đồng thời chỉ ra những mặt tồn tại, yếu kém trong ngành và xác định mục tiêu, nhiệm vụ cho ngành du lịch trong thời gian tới. Cùng với xu hướng phát triển du lịch cả nước, ở phạm vi tỉnh Lào Cai nói riêng cũng đã có một số công trình nghiên cứu về du lịch như: + Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2002),“Đề án phát triển kinh tế du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2001-2005-2010” 6 + Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, quyết định số 660/QĐ-UB ngày 3/11/2004, “Quy hoạch phát triển du lịch Lào Cai giai đoạn 2005-2010 và định hướng 2020”. + Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Lào Cai (2009),“Kế hoạch triển khai giải pháp cấp bách thu hút khách du lịch quốc tế và thúc đẩy du lịch nội địa đến Lào Cai năm 2009”. Tuy nhiên, những đề tài trên mới chỉ nghiên cứu một khía cạnh nào đó về du lịch và KTDL như xác định sản phẩm du lịch chính của địa phương, phân vùng, xác định tuyến điểm du lịch đầu tư… Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống về phát triển KTDL cũng như phân tích và đánh giá sâu thực trạng phát triển KTDL tỉnh Lào Cai. Do đó, đề tài được nghiên cứu với mong muốn góp một phần nhỏ bé giải quyết vấn đề khai thác tiềm năng du lịch một cách hợp lý và có hiệu quả nhằm thúc đẩy sự phát triển KTDL ở tỉnh Lào Cai. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  Mục đích: Trên cơ sở hệ thống và khái quát lại những lý luận chung về các khái niệm du lịch, KTDL và phát triển KTDL, đồng thời tiếp cận dưới góc độ kinh tế 7 chính trị theo quan điểm, tư tưởng, lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tác giả nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển KTDL tỉnh Lào Cai, đề xuất một số quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch ở Lào Cai, góp phần thúc đẩy kinh tế du lịch Lào Cai phát triển trong những năm tới.  Nhiệm vụ: Từ mục đích trên các nhiệm vụ cụ thể được xác định là: + Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về du lịch, kinh tế du lịch và phát triển kinh tế du lịch. + Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển kinh tế du lịch tỉnh Lào Cai trong thời gian qua, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân. + Đưa ra quan điểm, định hướng và đề xuất một số giải pháp có khả năng thực thi nhằm thúc đẩy sự phát triển KTDL của tỉnh Lào Cai từ nay đến năm 2015 và những năm tiếp theo. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng phát triển của kinh tế du lịch tỉnh Lào Cai trong thời gian qua. 8  Phạm vi nghiên cứu: + Địa bàn nghiên cứu: Tỉnh Lào Cai + Thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển của kinh tế du lịch trên địa bàn tỉnh trong những năm gần đây. 5. Phương pháp nghiên cứu - Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hóa khoa học tạm thời gạch bỏ những yếu tố thứ yếu để tìm hiểu bản chất bên trong của các hiện tượng kinh tế du lịch cũng như nghiên cứu sự phát triển của một ngành kinh tế. - Luận văn cũng đã sử dụng một cách có hệ thống các phương pháp cụ thể trong quá trình nghiên cứu như: Phương pháp thống kê, lập bảng biểu, phân tích, so sánh, tổng hợp và khảo sát thực tế… 6. Bố cục của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch và phát triển kinh tế du lịch. Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Lào Cai. 9 Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế du lịch tỉnh Lào Cai. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH 1.1. DU LỊCH VÀ CÁC LĨNH VỰC KINH DOANH TRONG DU LỊCH 1.1.1. Khái niệm về du lịch Từ việc đưa ra và phân tích các định nghĩa, khái niệm khác nhau về du lịch, nên tách thuật ngữ du lịch thành hai phần để định nghĩa nó. Du lịch có thể được hiểu như sau: Thứ nhất, “du lịch là sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng.” Thứ hai, “du lịch là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, 10 nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh.” 1.1.2. Sản phẩm du lịch và tính đặc thù của nó  Sản phẩm du lịch: “Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó.”  Đặc thù của sản phẩm du lịch Một là, tính tổng hợp. Hai là, tính đồng thời của việc sản xuất và tiêu thụ. Ba là, tính không thể dự trữ. Bốn là, tính không thể chuyển dịch. 1.1.3. Các loại hình du lịch Dựa vào các tiêu thức phân loại khác nhau có thể phân du lịch thành các loại hình du lịch khác nhau. 1.1.4. Các lĩnh vực kinh doanh trong du lịch Kinh doanh lữ hành; Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch; Kinh doanh vận chuyển khách du lịch; Kinh doanh các dịch vụ du lịch khác. Ngoài ra còn có một số hoạt động kinh doanh bổ trợ như kinh doanh các loại hình dịch vụ vui chơi, giải trí… 11 1.2. KINH TẾ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH 1.2.1. Kinh tế du lịch 1.2.1.1. Khái niệm kinh tế du lịch Kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế có tính đặc thù mang tính dịch vụ, nó “phản ánh bước tiến mới của lực lượng sản xuất trong quá trình tổ chức khai thác các tài nguyên du lịch của đất nước thành sản phẩm du lịch nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, tổ chức buôn bán, xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ cho khách du lịch, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Ở các quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau thì có mục đích, tính chất và chiến lược phát triển kinh tế du lịch khác nhau.” 1.2.1.2. Đặc điểm cơ bản của kinh tế du lịch Thứ nhất, nói đến KTDL tức là đề cập đến các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch, trong đó loại hình dịch vụ là chủ yếu. Thứ hai, trong điều kiện thị trường, việc thực hiện thông suốt hoạt động KTDL được quyết định bởi sự điều hòa nhịp nhàng giữa hai phía cung và cầu du lịch. Thứ ba, quá trình phát triển KTDL gắn liền với quá trình vận động phát triển của LLSX và khả năng 12 liên kết rộng rãi của các quốc gia dân tộc. Thứ tư, hoạt động kinh doanh của KTDL mang tính thời vụ là chủ yếu. 1.2.2. Phát triển kinh tế du lịch 1.2.2.1. Khái niệm phát triển kinh tế du lịch “Phát triển kinh tế du lịch là mở rộng quy mô và năng lực sản xuất, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực nhằm nâng cao số lượng, chất lượng hàng hóa và dịch vụ du lịch để tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, bảo vệ môi trường, thúc đẩy phân công lao động, bảo tồn và làm phong phú thêm các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã định”. 1.2.2.2. Điều kiện để phát triển kinh tế du lịch Một là, tài nguyên du lịch. Hai là, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ kinh doanh du lịch và cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội. Ba là, điều kiện về kinh tế. Bốn là, yếu tố dân cư và lao động. Năm là, nhân tố quốc phòng, an ninh, chính trị, xã hội. Sáu là, đường lối, chính sách phát triển KTDL. 1.2.2.3. Vai trò của phát triển kinh tế du lịch đối với đời sống kinh tế - xã hội Du lịch là một trong những ngành kinh tế mang lại nhiều giá trị tích cực đối với đời sống kinh 13 tế - xã hội của mỗi quốc gia nói chung và của mỗi địa phương nói riêng. 1.3. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG Ở NƯỚC TA. 1.3.1. Khái quát tình hình phát triển của ngành du lịch Việt Nam 1.3.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế du lịch của một số địa phương  Bài học kinh nghiệm cho phát triển KTDL ở tỉnh Lào Cai Thông qua việc đánh giá các thành tựu, hạn chế cũng như nguyên nhân dẫn đến các hạn chế của du lịch Việt Nam và từ việc phân tích, tổng hợp khái quát một số kết quả đạt được về phát triển KTDL của Thủ đô Hà Nội, Tỉnh Phú Thọ, Tỉnh Ninh Bình đã giúp cho Lào Cai có được nhiều bài học kinh nghiệm: Một là, Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch phải được quan tâm chỉ đạo. Hai là, Quản lý Nhà Nước về du lịch cần tăng cường trên tất cả các lĩnh vực. Ba là, Xây dựng cơ chế, chính sách ưu tiên đầu tư và phát triển du lịch phù hợp. Chú trọng đào tạo, bối dưỡng và nâng cao trình độ cho nguồn nhân lực du lịch và giáo dục du lịch toàn dân. Bốn 14 là, phải chú trọng công tác xúc tiến, quảng bá, tuyên truyền và hợp tác, đầu tư về du lịch. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH Ở TỈNH LÀO CAI 2.1. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH LÀO CAI 2.1.1. Giới thiệu khái quát về tỉnh Lào Cai Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới thuộc miền núi phía Bắc Việt Nam, là cửa ngõ thông thương với tỉnh Vân Nam và vùng Tây Nam – Trung Quốc. Vị thế của Lào Cai là tiềm năng thiên phú cho du lịch. Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên cũng như đặc điểm kinh tế - xã hội riêng của mình, đã tạo cho Lào Cai có một nguồn tài nguyên du lịch phong phú, độc đáo để phát triển kinh tế du lịch của địa phương. 2.1.2. Nguồn tài nguyên du lịch của tỉnh Lào Cai 2.1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên Đặc điểm điều kiện tự nhiên đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loại hình du lịch với những địa danh nổi tiếng như Sa Pa, cao nguyên đá vôi Bắc Hà, Phan Xi Păng, cửa khẩu quốc tế Lào Cai,… 2.1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn 15 Với những nét riêng về văn hóa - xã hội đã tạo cho Lào Cai có một nguồn tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo như những di tích lịch sử văn hoá, kiến trúc nghệ thuật, những sản phẩm thủ công, những giá trị văn hóa phi vật thể như văn nghệ dân gian, lễ hội, ẩm thực…thể hiện bản sắc văn hóa của Lào Cai. 2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỈNH LÀO CAI 2.2.1. Cơ cấu tổ chức và quản lý Nhà nước về du lịch UBND tỉnh đã chỉ đạo việc hợp nhất các bộ phận QLNN về du lịch thành Sở VHTT&DL, đồng thời thành lập Trung tâm thông tin du lịch Lào Cai và hệ thống 2 nhà du lịch tại Sa Pa, Bắc Hà. Tỉnh không ngừng tăng cường công tác quản lý cơ sở KDDL, ban hành Quy chế quản lý lữ hành quốc tế qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai, Quy chế quản lý du lịch tại huyện Sa Pa, đảm bảo các hoạt động du lịch diễn ra sôi nổi, đúng pháp luật. 2.2.2. Tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực du lịch Tỉnh đã thu hút được nhiều doanh nghiệp lớn đầu tư vào lĩnh vực khách sạn, khu vui chơi giải trí, trong đó có 12 doanh nghiệp trong và ngoài nước 16 với tổng số vốn đầu tư là trên 800 tỷ đồng. Giai đoạn 2006 – 2010, tổng số vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng và vui chơi giải trí trong toàn tỉnh ước đạt 1.220.522 triệu đồng. 2.2.3. Tình hình xúc tiến, quảng bá và liên kết, hợp tác du lịch Hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng với mức kinh phí ước đạt 12,557 tỷ đồng (chủ yếu từ nguồn xã hội hóa và các tổ chức phi chính phủ). Bên cạnh đó, tỉnh còn tăng cường liên kết hợp tác phát triển du lịch với các tổ chức trong và ngoài nước. 2.2.4. Thực trạng nguồn lao động trong ngành du lịch Đến hết năm 2009 số lao động trực tiếp trong ngành du lịch là 3.200 người, lao động gián tiếp là 5.000 người. Trong giai đoạn 2006 – 2010, nguồn lực dành cho công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch đạt 6,824 tỷ đồng. Nguồn lao động du lịch trên địa bàn tỉnh hiện nay còn thiếu về số lượng so với yêu cầu, còn nhiều bất cập và hạn chế về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ ngoại ngữ. 2.2.5. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 2.2.5.1. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội 17 Lào Cai là một trong số ít tỉnh miền núi có hệ thống giao thông vận tải đa dạng. Hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc đã đảm bảo cung cấp cho nhu cầu tại thành phố và các thị trấn. Song nhìn chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội vẫn còn thiếu đồng bộ, nhất là khu vực nông thôn, vùng cao, vùng xa. 2.2.5.2. Tình hình phát triển của hệ thống cơ sở kinh doanh du lịch  Cơ sở kinh doanh lưu trú: Hệ thống cơ sở kinh doanh lưu trú phát triển với tốc độ nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng, thu hút được nhiều thành phần kinh tế tham gia, với nhiều loại hình lưu trú khác nhau. Đến nay, toàn tỉnh có 335 cơ sở lưu trú với 3.296 phòng. Trong đó, có 20 khách sạn đạt chất lượng từ 2 sao đến 4 sao với trên 600 phòng. Ngoài ra còn có 80 nhà nghỉ lưu trú tại gia ở các thôn bản phát triển du lịch cộng đồng. Năm 2009 doanh thu lưu trú tăng lên 71.816 triệu đồng tăng 18,1% so với năm 2005 và tăng 5% so với năm 2008.  Cơ sở kinh doanh lữ hành: Tính đến nay toàn tỉnh có 36 doanh nghiệp, chi nhánh hoạt động trong lĩnh vực này với nhiều thành phần kinh tế, trong đó có 10 doanh nghiệp 18 kinh doanh lữ hành quốc tế và 26 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa. Doanh thu lữ hành trong thời gian qua có sự tăng trưởng nhanh với mức tăng trưởng bình quân là 14,8%/năm.  Phương tiện vận chuyển khách du lịch: Toàn tỉnh hiện có 10 hợp tác xã, 13 công ty, 6 doanh nghiệp, 3 hãng taxi với trên 1.200 đầu xe các loại. Đồng thời, hiện nay có 5 cặp xe ô tô giường nằm cao cấp chạy suốt từ Lào Cai – Hà Nội và ngược lại, cùng với nhiều tàu chất lượng cao. Doanh thu vận chuyển khách trong những năm gần đây đã tăng lên mạnh, hằng năm nó đóng góp một phần không nhỏ vào tổng doanh thu du lịch trên địa bàn tỉnh.  Hệ thống cơ sở kinh doanh các dịch vụ du lịch khác: + Cơ sở ăn uống: Doanh thu ăn uống chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu du lịch và đạt mức độ tăng trưởng cao, đặc biệt là giai đoạn 2006 – 2009. + Các cơ sở thương mại và các cơ sở thể thao và vui chơi, giải trí Nhìn chung còn chưa phong phú, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch. 2.2.6. Số lượng du khách và doanh thu du lịch 19 2.2.6.1. Tình hình tăng trưởng và đặc điểm nguồn khách Du khách đến Lào Cai trong những năm gần đây đã tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và cơ cấu khách. Tốc độ tăng trưởng lượng khách bình quân giai đoạn 2001 - 2009 đạt 14,2 %/năm. 2.2.6.2. Doanh thu du lịch Thu ngân sách từ phát triển kinh tế du lịch giai đoạn 2006 – 2009 bình quân đạt gần 15 tỷ đồng/năm. Thu nhập xã hội từ du lịch của tỉnh Lào cai có mức gia tăng khá lớn, doanh thu do du lịch mang lại được thể hiện qua hình sau: 600000 450000 400000 500000 400000 300000 250000 300000 200000 200000 150000 Triệu đồng Lượt khách 350000 Khách nội địa Khách quốc tế Doanh thu 100000 100000 50000 0 0 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Năm Hình 2.2. Lượng khách và doanh thu từ du lịch thời kỳ 2000-2009 Nguồn: Sở VHTT&DL Lào Cai (2010) 20
- Xem thêm -