Tài liệu Luận văn thạc sĩ dạy học hợp tác chương hàm số bậc nhất và bậc hai lớp 10 trung học phổ thông

  • Số trang: 113 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 101 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39837 tài liệu

Mô tả:

 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC           BÙI NGUYÊN THẢO         DẠY HỌC HỢP TÁC CHƯƠNG "HÀM SỐ BẬC NHẤT VÀ BẬC HAI" LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG           LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN       HÀ NỘI – 2015 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC         BÙI NGUYÊN THẢO       DẠY HỌC HỢP TÁC CHƯƠNG "HÀM SỐ BẬC NHẤT VÀ BẬC HAI" LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG       LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC (BỘ MÔN TOÁN) Mã số: 60 14 01 11                        Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Lê Minh HÀ NỘI - 2015 LỜI CẢM ƠN Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm ơn  Ban  Giám  hiệu  cùng  toàn  thể  các  thầy  cô  giáo  giảng dạy  tại  trường  Đại  học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, chỉ dẫn tác giả trong  suốt quá trình học tập và nghiên cứu.  Tác  giả  xin  bày  tỏ  lòng  biết  ơn  chân  thành  và  sâu  sắc  tới  PGS.  TS.  Hoàng Lê Minh người Thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong  suốt quá trình thực hiện luận văn này.    Tác  giả  xin  chân  thành  cảm  ơn  các  thầy  cô  giáo,  các  em  học  sinh  Trường  THPT  Mai  Châu  B  đã  nhiệt  tình  giúp  đỡ  tác  giả  hoàn  thành  thực  nghiệm sư phạm tại trường.    Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã  luôn động viên và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và thực hiện luận  văn này.    Luận văn đã  thu được  những  kết  quả  nghiên  cứu  bước  đầu.  Mặc  dù  đã có rất nhiều cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những mặt còn  hạn  chế.  Kính  mong  n h ậ n   được  sự  góp  ý  của  các  nhà  khoa  học,  các  thầy  giáo,  cô giáo và các bạn đồng nghiệp.  Xin chân thành cảm ơn!                                                                  Hà Nội, ngày 18 tháng 11 năm 2014                                                                          Tác giả        Bùi Nguyên Thảo i  DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ DH  Dạy học  DHHT  Dạy học hợp tác  ĐC  Đối chứng  GV  Giáo viên  HĐ  Hoạt động  HS  Học sinh  HT  Học tập  PP  Phương pháp  PPDH  Phương pháp dạy học  SGK  Sách giáo khoa  TN  Thực nghiệm  THPT  Trung học phổ thông  ii  MỤC LỤC Trang Lời cảm ơn ...................................................................................................... i  Danh mục các chữ viết tắt .............................................................................. ii  Mục lục ......................................................................................................... iii  Danh mục các bảng ........................................................................................ v  Danh mục các hình, biểu đồ ........................... Error! Bookmark not defined.  MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1  CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .................................... 6  1.1. Tổng quan về dạy học hợp tác ................................................................. 6  1.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy học hợp tác ........................................ 6  1.1.2. Tình huống dạy học hợp tác ................................................................ 10  1.1.3.  Tổ chức dạy học hợp tác .................................................................... 13  1.2. Dạy học nội dung chương Hàm số bậc nhất và bậc hai trong chương  trình lớp 10 Trung học phổ thông ................................................................. 21  1.2.1.  Vị trí, yêu cầu của nội dung chương Hàm số bậc nhất và bậc hai lớp  10 Trung học phổ thông ............................................................................... 21  1.2.2.  Khó khăn và thuận lợi khi dạy học chương Hàm số bậc nhất và bậc  hai lớp 10 THPT ........................................................................................... 25  1.3. Khảo  sát  nhu  cầu  và  sự  hiểu  biết  của  GV  và  HS  trường  THPT  Mai  Châu  và  THPT  Mai Châu  B huyện  Mai  Châu  tỉnh  Hòa  Bình  về  dạy  học  hợp tác ......................................................................................................... 26  1.3.1. Nhu cầu và sự hiểu biết của GV trường THPT Mai Châu và THPT  Mai Châu B huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình về dạy học hợp tác .................. 27  1.3.2. Nhu cầu và sự hiểu biết của HS trường THPT Mai Châu  và THPT  Mai Châu B huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình về dạy học hợp tác .................. 30  Kết luận chương 1 ........................................................................................ 32  CHƯƠNG 2: DẠY HỌC HỢP TÁC CHƯƠNG HÀM SỐ BẬC NHẤT VÀ BẬC HAI LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ................................ 33  iii  2.1. Thiết kế một số tình huống dạy học hợp tác chương Hàm số bậc nhất  và bậc hai lớp 10 Trung học phổ thông ......................................................... 33  2.1.1. Thiết kế tình huống dạy học hợp tác về các đặc điểm và tính chất của  hàm số .......................................................................................................... 33  2.1.2. Thiết kế tình huống dạy học hợp tác dạng bài toán luyện tập vẽ đồ  thị hàm số ..................................................................................................... 46  2.1.3. Thiết kế tình huống dạy học hợp tác dạng bài toán xác định hàm số ... 51  2.1.4. Thiết kế tình huống dạy học hợp tác dạng bài toán về các điểm đặc  biệt của đồ thị hàm số ................................................................................... 61  2.2. Thiết kế một số giáo án minh họa dạy học hợp tác trong chương "Hàm  số bậc nhất và bậc hai" lớp 10 Trung học phổ thông .................................... 71  2.2.1. Giáo án 1. Bài Hàm số (tiết 2) ............................................................ 71  2.2.2. Giáo án 2. Bài tập Ôn tập Chương II (tiết 2) ....................................... 77  Kết luận chương 2 ........................................................................................ 84  CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM .............................................. 85  3.1. Mục đích và nội dung thực nghiệm ........................................................ 85  3.1.1. Mục đích thực nghiệm ........................................................................ 85  3.1.2. Nội dung thực nghiệm ........................................................................ 85  3.2. Tổ chức thực nghiệm ............................................................................. 85  3.2.1. Kế hoạch, thời gian thực nghiệm ........................................................ 85  3.2.2. Phương pháp thực nghiệm .................................................................. 86  3.3. Kết quả thực nghiệm ............................................................................. 87  3.3.1. Kết quả về kiến thức môn học ............................................................ 87  3.3.2. Kết quả về kỹ năng hợp tác ................................................................. 88  Kết luận chương 3 ........................................................................................ 91  KẾT LUẬN ................................................................................................. 92  DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 93  PHỤ LỤC .................................................................................................... 95    iv  DANH MỤC CÁC BẢNG TT Tên bảng Trang Bảng 1.1. Ý kiến của GV về các yếu tố của DHHT ...................................... 27  Bảng 1.2. Ý kiến của GV về kỹ năng làm việc nhóm của HS ....................... 28  Bảng 1.3. Kết quả điều tra thái độ của GV đối với PP DHHT ...................... 29  Bảng 1.4. Kết quả khảo sát về thái độ của HS đối với DHHT ....................... 30  Bảng 1.5. Kết quả khảo sát về hiểu biết của HS về trách nhiệm cá nhân đối  với nhóm ..................................................................................... 30  Bảng 1.6. Kết quả khảo sát về các kỹ năng giao tiếp của HS trong quá trình  học hợp tác .................................................................................. 30  Bảng 3.1. Kết quả phân loại điểm của HS trước thực nghiệm. ...................... 87  Bảng 3.2. Kết quả phân loại điểm của HS sau thực nghiệm. ......................... 88    v  MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài   Bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI do UNESCO xác định là: "Học để  biết-  Học  để  làm-  Học  để  tự  khẳng  định  mình-  Học  để  cùng  chung  sống".  Mục tiêu giáo dục của thế giới cho thấy  giáo dục không chỉ cung cấp kiến  thức mà còn phải hình thành cho người học những kỹ năng, thái độ để họ có  thể sống và làm việc trong xã hội sau khi hoàn thành chương trình học phổ  thông. Dạy học không chỉ đơn thuần có nhiệm vụ cung cấp cho HS những tri  thức khoa học, mà còn phải giúp hình thành và phát triển ở họ những năng  lực, kỹ năng làm việc hợp tác, khả năng giao tiếp, nhận biết vấn đề... Để làm  được  điều  đó,  ngoài  nội  dung  học  tập  có  vai  trò  quan  trọng  ra  thì  những  PPDH  tích  cực  mà  người  GV  lựa  chọn  cũng  vô  cùng  quan  trọng.  Vì  mỗi  PPDH tích cực sẽ giúp hình thành ở người học những năng lực, kỹ năng và  PP học tập và làm việc khác nhau. Sự phát triển xã hội và đổi mới đất nước  trong thời kỳ hội nhập đang đòi hỏi cấp bách nâng cao chất lượng giáo dục  và đào tạo. Mục tiêu giáo dục trong thời đại mới không chỉ dừng lại ở việc  truyền thụ những kiến thức, kỹ năng có sẵn cho HS  mà điều đặc biệt quan  trọng là phải bồi dưỡng cho HS năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn  đề.  Nghị  quyết  Trung  ương  2  khoá  VIII  đã  khẳng  định:  "Phải đổi mới PP giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của HS. Từng bước áp dụng các PP tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS...". Tích cực triển khai chương trình hành động thực hiện  Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ VIII, Ban chấp  hành Trung ương khóa IX về " Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo". Từ nhu cầu đổi mới PPDH, định hướng đổi mới PPDH trong giai đoạn  hiện nay là: DH cần hướng vào việc tổ chức cho HS học tập trong hoạt động  và bằng hoạt động.   1    PPDH tích cực là thuật ngữ chỉ các PPDH có thế mạnh trong phát huy  tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. PPDH tích cực hướng tới việc hoạt  động hoá, tích cực hoá HS. Các dấu hiệu đặc trưng cơ bản của PPDH tích cực  gồm:  Dạy  và học  thông qua tổ  chức các hoạt động học tập  của  HS; Dạy và  học  chú  trọng  rèn  luyện  PP  tự  học;  Tăng  cường  học  tập  cá  thể,  phối  hợp  với học tập hợp tác; Kết  hợp đánh giá  của GV  với tự  đánh giá  của  HS.  HS  không chỉ được truyền thụ kiến thức mà cần phải tăng cường khả năng giao  tiếp, năng lực hợp tác. Do xã hội càng phát triển, xuất hiện nhiều công nghệ  mới phức tạp hơn thì một người không thể giải quyết hết tất cả các công việc  được, mà cần phải có cộng sự, cần có người hợp tác. Và khi một việc làm có  nhiều người tham gia thì để nhóm hoạt động một cách hiệu quả đòi hỏi phải  có một khả năng tổ chức hoạt động nhóm. Theo PP DHHT, GV tổ chức cho  HS hình thành các nhóm học tập nhỏ. Mỗi thành viên trong nhóm học tập này  vừa  có  trách  nhiệm  tự  học  tập  vừa  có  trách  nhiệm  giúp  đỡ  các  thành  viên  trong  nhóm  để  cùng  hoàn  thành  mục  đích  học  tập  chung  của  cả  nhóm.  PP  DHHT tạo môi trường thuận lợi giúp cho HS có cơ hội phát biểu, trao đổi và  học tập lẫn nhau, cùng nhau tìm hiểu kiến thức mới. Khi HS tham gia học tập  hợp tác theo nhóm sẽ thúc đẩy quá trình học tập, tăng tính chủ động của tư  duy, sự sáng tạo và khả năng ghi nhớ  phát triển năng lực xã hội, đồng thời  tăng hứng thú học tập với người học, giúp HS phát triển các kỹ năng giao tiếp  bằng ngôn ngữ, giúp HS phát triển tư duy hội thoại, nâng cao lòng tự trọng, ý  thức trách nhiệm và sự tự tin của người học, giúp thúc đẩy những mối quan hệ  cạnh tranh mang tính tích cực trong học tập.    DHHT  là  ý  tưởng  đã  có  từ  rất  lâu  đời. Ngay  từ  đầu  thế  kỷ  thứ  nhất,  Marco  Fabio  Quintilian cho  rằng  người  học  sẽ có rất lợi nếu biết nói những  điều  mình hiểu cho người khác cùng hiểu. Đến thế kỷ thứ  XVII,  Jan  Amôt  Komenxki  (1592  -  1670)  tin  rằng  HS  sẽ  học  tốt  từ  việc dạy cho bạn bè và  học từ bạn bè của mình... Các nhà giáo dục tiên tiến đều  đã  nói  đến  lợi  ích  của việc học tập hợp tác tạo ra một môi trường học tập thuận lợi.   2  Những năm gần đây, với xu thế đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt  động  của  HS,  cùng  với  trào  lưu  hội  nhập  quốc  tế,  các  nhà  nghiên  cứu  giáo  dục nước ta đã nhận thấy cần phải tổ chức cho HS học tập hợp tác. Hiện nay  đã có một số đề tài nghiên cứu về DHHT như luận án Tiến sĩ của Hoàng Lê  Minh  (2007)  về  đề  tài  "Tổ chức DHHT trong môn Toán ở trường THPT",  Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Triệu Sơn (2007) về đề tài “Phát triển khả năng học hợp tác cho sinh viên sư phạm toán một số trường đại học miền núi nhằm nâng cao chất lượng của người được đào tạo”; luận văn Thạc sĩ của Nguyễn  Trung Dũng (2008) về đề tài "Xây dựng và tổ chức các tình huống DHHT ở trường THPT (trong Hình học lớp 11 Ban cơ bản)"... Vì vậy, nghiên cứu tổ  chức DHHT trong môn Toán ở trường THPT có tính khả thi.    Gần  đây  với  xu  hướng  đổi  mới  PPDH  theo  hướng  phát  huy  tính  tích  cực của người học, cùng với trào lưu phát triển của xã hội trên thế giới, người  ta nhận thấy rằng cần phải tổ chức dạy cho HS cách hợp tác. Hầu hết các GV  đều  cho  rằng:  dạy  học  hợp  tác  không  những  phát  huy  được  tính  chủ  động  sáng  tạo  cho  HS  mà  còn  rèn  luyện  cho  các  em  nhiều  kỹ  năng  sống  rất  cần  thiết  cho  hiện  tại  cũng  như  tương  lai,  đó  thực  sự  là  một  PPDH  hiệu  quả.  Nhưng làm thế nào để phát huy được ưu điểm của PP này trong điều kiện cụ  thể ở Việt Nam thì  còn  là  một  câu  hỏi  nan  giải.  Các  tác  giả  nghiên  cứu  về  PP  này  còn  hạn  chế  và  quan  tâm đến nhiều vấn đề khác nhau. Ta cần hiểu  rằng vận dụng PP DHHT không chỉ đơn giản là áp  dụng  một  cách  máy  móc  việc  ghép  nhóm  HS  với  nhau  để  tiến  hành  quá  trình  dạy học,  nó  còn  tuỳ  thuộc vào  môn học, điều kiện  học, đối tượng HS, tính chất bài học và năng  lực  sư  phạm  của  từng  GV.  Bởi  vậy,  việc  nghiên  cứu  và  vận  dụng  tổ  chức  cho  HS  học  tập  hợp  tác  trong  quá  trình  dạy  học  môn  Toán  ở  trường  Phổ  thông luôn là vấn đề mới mẻ và cần thiết. Sự mong muốn của GV là vừa giúp  HS học tập tốt vừa nâng cao được năng lực xã hội. Tuy nhiên không ít GV  hiểu về PP DHHT chưa thấu đáo, lúng túng trong việc vận dụng nên hiệu quả  dạy học chưa cao.   3  Trong chương trình Đại số 10, chương Hàm số bậc nhất và bậc hai là  một chương quan trọng, nền tảng. Có những kiến thức về hàm số HS đã học  từ lớp 7 và lớp 9, được ôn tập lại, có những kiến thức mới được học và sẽ là  nền tảng để HS tiếp tục học tập thêm về hàm số ở lớp 11 và 12. Khi dạy học  chương này, GV gặp những khó khăn nhất định trong việc tổ chức các hoạt  động học tập cho HS, HS cũng gặp không ít khó khăn trong việc chiếm lĩnh  kiến thức, rèn luyện kỹ năng.    Xuất phát từ những lí do trên cũng như mong muốn được tìm hiểu sâu  hơn về nội  dung Hàm số  bậc nhất và bậc  hai,  mong  muốn quá trình  dạy và  học  đạt  kết  quả  tốt  hơn  nữa,  nên  đề  tài  được  chọn  là:  Dạy học hợp tác chương "Hàm số bậc nhất và bậc hai" lớp 10 Trung học phổ thông. 2. Mục đích nghiên cứu Tìm ra những cách thức vận dụng DHHT chương Hàm số bậc nhất và  bậc hai lớp 10 THPT nhằm mục đích vừa nâng cao hiệu quả dạy học vừa rèn  luyện các kỹ năng hợp tác và bồi dưỡng năng lực xã hội cho HS.  3. Nhiệm vụ nghiên cứu   Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn DHHT.   Thiết kế một số tình huống DHHT. Xây dựng một số giáo án minh họa  DHHT chương Hàm số bậc nhất và bậc hai lớp 10 THPT.  TN  sư phạm  đánh giá tính khả thi, tính phù hợp và tính hiệu  quả  của  các  đề  xuất  về  việc  sử  dụng  PP  DHHT  trong  dạy  học  chương  Hàm  số  bậc  nhất và bậc hai lớp 10 THPT. 4. Đối tượng nghiên cứu Nội dung chương Hàm số bậc nhất và bậc hai lớp 10 THPT.  5. Giả thuyết khoa học  Nếu GV vận dụng DHHT chương Hàm số bậc nhất và bậc hai một cách  hợp lý thì vừa nâng cao hiệu quả dạy học, vừa rèn luyện kỹ năng hợp tác và  bồi dưỡng năng lực xã hội cho HS.  4  6. Phạm vi nghiên cứu   DHHT chương Hàm số bậc nhất và bậc hai lớp 10 THPT.  HS lớp 10 trường THPT Mai Châu B huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình. 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài Ý nghĩa lý luận: Minh họa cho lý luận về dạy học bằng PP DHHT. Ý nghĩa thực tiễn: Xây dựng một số giáo án DHHT có tính khả thi và  mang lại hiệu quả trong giảng dạy chương Hàm số bậc nhất và bậc hai lớp  10 THPT.  8. Phương pháp nghiên cứu   PP nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu cơ sở lý luận DHHT cho HS THPT.   PP điều tra quan sát: Dự giờ, quan sát việc dạy của GV và học của HS  lớp 10 chương Hàm số bậc nhất và bậc hai lớp 10 THPT. Lập phiếu điều tra  khảo sát nhu cầu và sự hiểu biết của GV và HS về PP DHHT.          PP thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm có lớp ĐC và  lớp TN để kiểm tra hiệu quả và tính khả thi của đề tài.  9. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn  dự kiến được trình bày theo 3 chương:  Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN  Chương 2: DẠY HỌC HỢP TÁC CHƯƠNG "HÀM SỐ BẬC NHẤT  VÀ BẬC HAI" LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG  Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM  5  CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1. Tổng quan về dạy học hợp tác 1.1.1. Quan niệm về phương pháp dạy học hợp tác Theo Hoàng Lê Minh [22]: “PP DHHT là cách thức hoạt động và giao lưu hợp tác của thầy gây nên hoạt động và giao lưu hợp tác của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học về kiến thức và kỹ năng xã hội”.  GV có trách nhiệm hướng dẫn HS, tạo cho HS hứng thú, giúp HS nắm  bắt và hiểu kiến thức để đưa họ tới đích. GV cần có những hiểu biết về kiến  thức, kinh nghiệm, phẩm chất, phương pháp sư phạm để hướng dẫn HS chứ  không phải truyền thụ tri thức một chiều, giúp HS ghi nhớ máy móc.  Việc dạy đòi hỏi GV phải chọn một hình thức dạy học và quản lý lớp  học  trong  quá  trình  dạy.  Một  trong  4  trụ  cột  của  giáo  dục  thế  kỉ  XXI  do  UNESCO  đề  xướng  là  “học  để  sống  cùng  nhau”.  Trên  tầm  vĩ  mô,  thế  giới  ngày  càng  thu  hẹp  khoảng  cách  không  gian  nhờ  vào  công  nghệ  thông  tin;  nhiều giá trị nhân bản phổ biến đã trở thành nét chung của nhiều dân tộc.    Theo  Nguyễn  Hữu  Châu  [5]  có  hai  kiểu dạy  -  học  toán:  "Kiểu dạy và học toán truyền thống và kiểu dạy- học toán giao tiếp, văn hóa, xã hội".  Kiểu dạy  -  học toán  truyền thống: GV giảng giải, làm  mẫu, đưa ví  dụ  trên  bảng,  phát  phiếu  học  tập,  chọn  lựa  các  bài  tập  đơn  giản;  HS  lẫn  lộn, lúng túng chỉ một số thực hiện được theo GV, nghe thụ động hoặc thờ  ơ, không đưa ra chiến lược và chính kiến cá nhân.   Kiểu  dạy  -  học  toán  giao  tiếp,  văn  hóa,  xã  hội:  GV  trao  nhiệm  vụ  nhận thức cho mỗi cá nhân hoặc nhóm, theo dõi hoạt động của cá nhân hoặc  nhóm; giải thích hỗ trợ; HS chia sẻ thông tin, giải thích cho bạn, hỏi bạn, hỏi  GV, cùng làm việc để tìm lời giải.   DHHT là PPDH thuộc kiểu dạy - học toán giao tiếp, văn hóa, xã hội nó  tỏ ra có hiệu quả đặc biệt trong dạy học toán. Sự hợp tác và tương tác xã hội  6  giữa các nhóm HS động viên HS hỗ trợ việc học của nhau. Trong môi trường  hợp tác được thiết kế tốt, HS có điều kiện để nói và trao đổi những ý tưởng  toán với nhau, kiểm tra lại việc biết hiểu, trợ giúp nhau để tiếp tục giải quyết  bài  toán.  Học  tập  mang  tính  hợp  tác  là  một  chiến  lược  giảng  dạy  trong  đó  người dạy sẽ  tổ  chức  cho  người  học  thành  những  nhóm  nhỏ  để  thực  hiện  các  hoạt động  như thảo luận, đóng vai, giải quyết vấn đề… Mỗi thành viên  không chỉ có trách nhiệm thực hiện các hoạt động của nhóm mà còn phải có  trách  nhiệm  hợp  tác,  giúp  đỡ  các  thành  viên  trong  nhóm  hoàn  thành  các  nhiệm  vụ  được  giao.  Học  tập  hợp  tác  phức  tạp  hơn  học  cá  nhân,  các  thành  viên phải biết đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, giải quyết mâu thuẫn và  khẳng định rèn kỹ năng học cá nhân, học tranh đua, học tập hợp tác trở thành  một mục tiêu kép trong dạy học.   Theo  Hoàng  Lê  Minh [22]: "Quan điểm khi tổ chức DHHT ở trường THPT là kết hợp giữa DHHT, học tranh đua và tư duy độc lập của cá nhân. Trong đó tư duy độc lập cá nhân là nền tảng cơ bản, bối cảnh hợp tác là môi trường dạy học và ý thức thi đua là động lực". Tác giả chỉ ra rằng người học  không chỉ nỗ lực một mình mà còn có  điều  kiện  thể  hiện  ý  kiến  riêng  trong  quá  trình  học tập  hợp  tác.  Đề  tài  định  hướng  tổ  chức  DHHT  trong  dạy  và  học  bộ  môn  Toán  ở  trường  THPT,  quy  trình  tổ  chức  giờ  học  hợp tác,  các  biện pháp  sư phạm nhằm nâng  cao  hiệu quả của PP  DHHT.  Tác  giả đã nêu  cách tổ chức, thiết kế giờ học hợp tác trong môn Toán ở trường THPT và có  minh hoạ cụ thể. Đây là công trình nghiên cứu vận dụng PP DHHT vào dạy  và học môn toán ở trường THPT,  với  đầy  đủ  các  dạng  bài  lên  lớp  toán  học.  Kết  quả  nghiên  cứu  là  tài liệu  tham  khảo  bổ  ích  không  chỉ  cho  GV  dạy  toán  mà  còn  thiết  thực  cho những ai quan tâm đến đổi mới PPDH, đặc biệt  là PP DHHT.    DHHT là hình thức tổ chức hoạt động học tập có sự phụ thuộc lẫn nhau  của các thành viên trong nhóm để cùng làm việc hướng đến mục đích chung  là nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo. Học hợp tác (cooperative learning) là  7  một quan điểm học tập rất phổ biến ở các nước phát triển và đem lại hiệu quả  giáo dục cao. Học hợp tác là một định hướng giáo dục mà trong đó HS cùng  làm việc trong những nhóm nhỏ gồm nhiều HS khác nhau và được xây dựng  một  cách  cẩn  trọng.  Quan  điểm học  tập này  yêu cầu  sự tham gia, đóng góp  trực tiếp  của HS vào  quá trình học tập, đồng thời yêu cầu HS phải làm việc  cùng  nhau  để  đạt  được  kết  quả  học  tập  chung.  HS  học  bằng  cách  làm  (learning  by  doing)  chứ  không  học  chỉ  bằng cách nghe GV giảng (learning  by listening). Quan điểm học tập này tạo nên môi  trường  học tập  giữa thầy-  trò,  trò-  trò,  HS  sẽ  là  trung  tâm  của  quá  trình  DH và  GV không độc  chiếm  diễn đàn. Đồng thời quan điểm học tập này thể hiện tính dân chủ và dựa trên  nguyên tắc tương hỗ bình đẳng kiểu học hợp tác đang được  áp  dụng  có  hiệu  quả ở tất cả các bậc học và xuất hiện trong  trong  các môn học ở nhiều nước  trên thế giới.  Quan  điểm  học  tập  này  yêu  cầu  sự  tham  gia,  đóng góp  trực  tiếp  của người học vào quá  trình  học tập, đồng thời  yêu  cầu  người học phải  làm việc cùng nhau để đạt được kết quả học tập chung. Học hợp tác  là  việc  dùng  các  nhóm  nhỏ  HS  trong  dạy  học,  sao  cho  các  thành  viên  trong  nhóm  cùng nhau  làm  việc,  học  tập  để  đạt  được các  nội  dung toán  và  các  kỹ năng  xã  hội.  Các  em  HS  cùng  nhau làm việc hướng đến mục đích chung. HS cần  phải học cách để điều hành có hiệu quả môi trường học tập này.   DHHT  là  một  chiến  lược  dạy -  học  tích  cực,  trong đó  các  thành viên  tham gia hoạt động  và  học  tập  cùng  nhau  trong  các  nhóm  nhỏ  (mỗi  nhóm  gồm  các  thành viên  có trình độ và khả năng khác nhau) nhằm mục đích phát  triển sự hiểu biết và chiếm lĩnh một nội dung học tập nào đó; được xây dựng  dựa trên những  đặc điểm và  nguyên  tắc học tập hợp tác. Trong  DHHT  điều  đặc biệt là phải có sự hợp tác giữa người dạy và người học, giữa những người  học với nhau. Trong DHHT, người học sẽ được chia thành những nhóm nhỏ  để thực hiện các hoạt động học tập như thảo luận, đóng vai, giải quyết vấn đề,  là chủ thể tích cực trong việc lĩnh hội kiến thức, kỹ năng thông qua sự hợp tác  với GV và sự hợp tác giữa HS với nhau trong quá trình học, từ đó đạt được  8  mục  tiêu  cá nhân, đồng  thời  góp  phần tạo  ra  sự  thành  công  của  nhóm.  Mỗi  thành  viên  không  chỉ  có  trách  nhiệm  thực  hiện  các  hoạt  động  chung  của  nhóm  mà  còn  phải  có  trách  nhiệm  hợp tác,  giúp  đỡ  các  thành viên trong  nhóm  hoàn  thành  các  nhiệm  vụ  được  phân  công.  GV  là  người  hướng dẫn,  theo  dõi,  giám  sát,  giúp  đỡ  HS  củng  cố  kiến  thức  cũ,  tiếp  thu  kiến thức  mới, phát triển kỹ năng học tập hợp tác và là người trọng tài khoa học.   Theo Bùi Văn Nghị [23]: “PP DHHT dựa trên nguyên lý về mối liên  hệ  phổ  biến  và  quan  hệ  biện  chứng  giữa  cá  nhân  và  tập  thể.  Mọi  sự  vật,  hiện tượng  đều  tồn tại trong  những  mối liên  hệ,  tác  động  lẫn  nhau  không  ngoại trừ một lĩnh vực nào. Cá nhân tồn tại trong tập thể với tư cách là đơn  vị cấu thành của cái toàn thể, biểu hiện bản sắc của mình qua hoạt động tập  thể, nhưng không hòa tan vào tập thể. Cá nhân không tồn tại một cách đích  thực nếu không gắn với một tập thể nhất định. Giữa cá nhân và tập thể cần  kết hợp hài hòa giữa lợi ích, nhu cầu, sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau  trên cơ sở nguyên tắc, ý thức, trách nhiệm về nghĩa vụ và hành vi của mỗi  cá nhân trước tập thể”.    Như vậy, nghiên cứu về DHHT có thể tiếp cận từ nhiều góc độ khác  nhau.  Tuy  nhiên,  có  một  số  nét  chung mà  tất cả các cách tiếp  cận đều  đề  cập tới: Người học đều được học tập trong nhóm; hợp tác cùng nhau giải quyết nhiệm vụ chung. Trong  một môi trường học mà  HS ngồi cùng nhau  theo  các  nhóm  nhỏ  và  giải  các  bài  toán  theo  từng  cá  nhân,  hoặc  để  một  người  làm  toàn  bộ  công  việc  thì  không  phải  là  hợp  tác.  Sự  hợp  tác  đích  thực  trong  quá  trình  học  tập  đòi  hỏi  sự  hướng  dẫn  của  GV,  giúp  các  em  hiểu được sự vận hành của nhóm, phát triển những kỹ năng hợp tác mà các  em cần, và học toán  khi  làm  việc theo nhóm.  Học hợp tác đích thực  luôn  khuyến khích sự thiết lập một mối quan hệ sâu sắc giữa các thành viên của  nhóm. HS trong các nhóm làm việc có hiệu quả luôn học cách để lắng nghe  ý tưởng của người khác, thảo luận, phản biện, đưa ra và chấp nhận những  phê bình có tính xây dựng từ bạn bè.  9   Từ những khái niệm về DHHT, từ kết quả nghiên cứu những đặc trưng  của nhóm  học tập hợp  tác,  chúng tôi quan niệm  rằng:  DHHT là một PPDH trong đó mỗi HS được học tập trong một hay nhiều nhóm có sự hợp tác giữa các thành viên, giữa các nhóm với sự tổ chức, thiết kế các giờ học hợp tác của GV để tăng thêm hứng thú học tập, giúp phát triển về kiến thức và kỹ năng xã hội, thúc đẩy những mối quan hệ cạnh tranh mang tính tích cực trong học tập.  1.1.2. Tình huống dạy học hợp tác 1.1.2.1. Khái niệm tình huống dạy học hợp tác Tình huống DHHT là tình huống dạy học xác định rõ mục tiêu học của  từng HS. Thực chất, đó là một tình huống gợi vấn đề, tạo ra các hoạt động học  tập hợp tác cho HS.    Nội  dung  gợi  mở  nhiều  hướng  suy  nghĩ  khác  nhau,  khối  lượng  kiến  thức  lớn  mà  cần  giải  quyết  trong  thời  gian  ngắn  có  thể  thiết  kế  tình  huống  DHHT. Một tình huống DHHT phải thỏa mãn ba điều kiện sau đây:  - Tình huống phải có tác dụng gợi ra vấn đề;  - HS nhận thấy nhu cầu hợp tác, trao đổi, sự hợp tác có thể sẽ mang lại  kết quả tốt;  - Tạo môi trường học tập hợp tác, có mối quan hệ mật thiết giữa vai trò  của cá nhân với vai trò tập thể.   Có 3 kiểu tình huống trong DHHT trong môn Toán.  - Tình huống hành động hợp tác: Thể hiện chức năng điều khiển hành  động để thực hiện những quyết định của cá nhân và tập thể. Có tác động qua  lại của HS với môi trường bằng hành động mà lời lẽ nếu có không đóng vai  trò quan trọng hàng đầu.  - Tình huống thảo luận bằng diễn đạt: Thể hiện chức năng tạo phương  tiện giao lưu, trao đổi thông tin trong nhóm thảo luận học tập. HS có nhu cầu  diễn đạt trong quá trình tác động qua lại với môi trường. Có sự giao tiếp của  người học hợp tác, có vị trí phi đối xứng của HS trên bình diện phương tiện  10  hành động, môi trường và bình diện thông tin, có phản hồi từ môi trường và  người đang giao lưu.  -  Tình  huống  thống  nhất  xác  định  kiến  thức:  Thể  hiện  chức  năng  tạo  phương tiện kiểm chứng để xác nhận hay bác bỏ kiến thức trong quá trình HS  giao  lưu  với  nhau  và  tác  động  qua  lại  với  môi  trường.  HS  vừa  đề  xuất  vừa  phản bác để đi đến kết luận cuối cùng.   Khi xây dựng tình huống DHHT, phải tạo ra cơ hội để HS suy nghĩ, sau  đó  cùng  thảo  luận  để  khẳng  định  vấn đề,  rèn luyện  tư  duy  hội  thoại  có  phê  phán. Cùng một nội dung, có thể thiết kế nhiều tình huống DHHT khác nhau;  song phải vừa sức, có tác dụng  gợi  động cơ,  thu hút được sự chú ý  của  HS  nhằm tạo được hứng thú học tập, phát triển tư duy và một số kỹ năng cho HS  khi trình bày, diễn đạt một vấn đề.  1.1.2.2. Quy trình thiết kế tình huống DHHT Trong  thiết  kế  tình  huống  DHHT  cần  thể  hiện  được  ý  định  của  GV  trong việc định hướng, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập của HS; chỉ  ra được các hoạt động học tập cho HS, đề xuất các phương hướng giải quyết  vấn đề. Có thể thiết kế các tình huống DHHT theo quy trình bốn bước [27]:   Bước 1: Xác định mục tiêu dạy học: đó là mục tiêu của việc chiếm lĩnh  tri thức, rèn luyện cách học và cách giao tiếp cho HS.   Bước 2: Chọn những nội dung có tác dụng hình thành nhu cầu học tập  hợp tác cho HS, tạo tình huống tranh luận tập thể.   Bước 3: Giao nhiệm vụ cụ thể cho từng HS. Có thể thông qua các phiếu  học tập, sử dụng máy chiếu để thiết kế tình huống dạy học... Dự kiến các cách  suy nghĩ khác nhau của HS và hướng giải quyết; Dự kiến những mâu thuẫn  trong  khi  thảo  luận  nhóm,  cách  hướng  dẫn  HS  thảo  luận  nhóm;  Chuẩn  bị  những câu hỏi phụ gợi ý cho HS trong thảo luận; Dự kiến các cách đánh giá  kết quả học tập của HS.  11   Bước 4: Tổ chức học tập hợp tác: Nhiệm vụ chính của HS là vận dụng  kĩ năng hợp tác và kĩ năng tư duy hội thoại có phê phán để tìm ra kiến thức.  Tổng hợp, kết luận vấn đề và phát triển vấn đề.  Nội dung DH phải được GV thiết kế thành các nhiệm vụ học tập hợp  tác cụ  thể, đây  là  công  việc  rất quan  trọng  ảnh hưởng trực tiếp tới sự thành  công  của  quá  trình  dạy  học.  Học  tập  hợp  tác  chỉ  nảy  sinh  khi  mà  HS  giải  quyết  nhiệm  vụ  học  tập  gặp  phải  chướng  ngại,  khó  khăn  chưa  giải  quyết  được. Họ có nhu cầu hợp tác để được hỗ trợ, chia sẻ, giúp đỡ hay phối hợp để  hoàn thành. Do vậy đòi hỏi GV phải có kiến thức, có kỹ năng thiết kế nhiệm  vụ,  có  nghệ  thuật  sư  phạm  trong  việc  “uỷ thác”  các  tri  thức  cần  dạy  vào  nhiệm vụ học tập của HS, tạo ra môi trường hợp tác, tạo ra những thách thức  tư duy, nhu cầu ham muốn giải quyết vấn đề của HS. Trong quá trình thiết kế  nhiệm vụ, GV  phải thấu  hiểu HS  phải dự đoán trước được những khó khăn  vướng mắc của HS trong quá trình giải quyết nhiệm vụ; dự đoán được các kỹ  năng hiện có của HS để giao nhiệm vụ phù hợp và kích thích sự phát triển;  xác định nhiệm vụ sẽ đồng nhất hay khác nhau giữa các nhóm; dự kiến thời  gian hoàn thành nhiệm vụ và phương thức tổ chức hoạt động của HS để có thể  hoàn thành nhiệm vụ.   Đặc biệt, chú ý khi thiết kế nhiệm vụ hợp tác phải: Một, đạt được yêu cầu có mức độ khó đối với cá nhân có năng lực, nhưng vừa sức đối với sự hợp tác của nhóm và đòi hỏi phải phát huy cao độ tính tương trợ, phụ thuộc  lẫn nhau giữa các thành viên. Hai, tăng dần độ khó các nhiệm vụ trong quá  trình DH nhằm đòi hỏi sự tương trợ, giúp đỡ, hợp tác giữa HS - HS trong quá  trình DH. Việc giao và biểu đạt nhiệm vụ hợp tác cũng không kém phần quan  trọng.  GV  cần  có  nghệ  thuật  sư  phạm  kết  hợp  với  khả  năng  khai  thác  tính  năng của công nghệ thông tin và các phương tiện kỹ thuật để biến nhiệm vụ  hợp tác thành nhu cầu, hứng  thú cần giải quyết vấn  đề của HS, có như  vậy  mới đảm bảo sự thành công trong dạy học.  12   Mấu chốt nhất của tình huống DHHT là việc thiết kế các “phiếu học tập  hợp tác” cho HS. Phiếu học tập hợp tác khác với phiếu bài tập, không phải là  phiếu kiểm tra mà phải là phiếu giúp HS tự học nhưng không phải là tự học cá  nhân mà là tự học trong nhóm HS. Phiếu học tập hợp tác phải kịch tính, có  vấn đề và có chỉ dẫn phong phú về nội dung và cấp độ. 1.1.3. Tổ chức dạy học hợp tác 1.1.3.1. Các điều kiện dạy học hợp tác có hiệu quả Để học tập hợp tác có hiệu quả cần đảm bảo các điều kiện: mục đích  học  tập  được  xác  định  rõ  ràng,  ý  thức  trách  nhiệm  cao  của  các  thành  viên  tham  gia;  sự  phụ  thuộc  một  cách  tích  cực  giữa  các  thành  viên;  hình  thành  được động cơ hợp tác, có  sự phân  công  nhiệm  vụ hợp  lý giữa các nhóm và  giữa các thành viên trong nhóm; có sự phối hợp các nhiệm vụ, đánh giá trong  các nhóm và kỹ năng giao tiếp trong nhóm nhỏ.   Ngoài ra, khi tổ chức DHHT, GV cần lưu ý đến đến một số vấn đề  - Giao nhiệm vụ vừa sức: GV cần giao những nhiệm vụ khả thi cho HS  và chia những nhiệm vụ nhỏ để HS thường xuyên hoàn thành nhiệm vụ. Nếu  HS không bao giờ thành công trong những nhiệm vụ được giao, HS sẽ chán  nản và sớm bỏ cuộc. Mỗi sự thành công trong những nhiệm vụ học tập trước  sẽ tạo động cơ cho HS trong việc thực hiện nhiệm vụ hiện tại. Tuy nhiên để  tăng hiệu quả học tập, người GV cần tăng dần về mức độ khó trong mỗi lần  giao nhiệm vụ, điều đó đồng nghĩa với công việc bớt nhàm chán, tạo hứng thú  cho HS.   -  Động viên, khen thưởng kịp thời: Người GV nên hết sức lưu ý đến  việc khen thưởng bằng nhiều cách khác nhau. Nhiều nghiên cứu cho thấy HS  đòi hỏi được ban thưởng hoặc “củng cố” cho việc học, các em được thúc đẩy  bởi  một hi vọng có một  phần thưởng dưới dạng  nào đó  ( ví dụ  như  một lời  khen  hoặc  một  lời  tò  mò  được  thỏa  mãn),  việc  học  sẽ  không  diễn  ra  nếu  không có nó. Việc khen thưởng lại càng có ý nghĩa với một nhóm hợp tác vì  một  em  trong  nhóm  được  khen  thưởng  có  nghĩa  là  thành  viên  đó  đã  mang  13 
- Xem thêm -