Tài liệu Luận văn phát triển du lịch tỉnh hà tĩnh

  • Số trang: 151 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 154 |
  • Lượt tải: 4
tailieuonline

Đã đăng 39907 tài liệu

Mô tả:

LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS. TS Lê Thông, người thầy đã nhiệt tình, tận tâm trong quá trình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng sau đại học, tập thể thầy cô giáo khoa Địa lý Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu. Và tôi cũng xin cảm ơn những người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã khích lệ, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập. Xin trân trọng cảm ơn.!. Hà Nội, tháng 10 năm 2014 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hồng Tình MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài ...................................................................................... 1 2. Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài ................................................ 2 3. Lịch sử nghiên cứu của đề tài ................................................................... 3 4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu ................................................... 5 5. Đóng góp chủ yếu của đề tài .................................................................... 8 6. Cấu trúc luận văn ..................................................................................... 8 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH 9 1.1 Cơ sở lí luận .......................................................................................... 9 1.1.1 Một số khái niệm cơ bản.................................................................. 9 1.1.2 Vai trò của du lịch ......................................................................... 16 1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch............................ 18 1.1.4 Một số hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch cấp tỉnh ........................ 26 1.1.5 Các tiêu chí đánh giá hoạt động du lịch ........................................ 27 1.2 Cơ sở thực tiễn .................................................................................... 31 1.2.1 Tổng quan về phát triển du lịch Việt Nam..................................... 31 1.2.2 Tổng quan về phát triển du lịch ở vùng Bắc Trung Bộ ................... 36 CHƯƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ TĨNH .......................................................... 45 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch tỉnh Hà Tĩnh ................. 45 2.1.1. Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ .................................................... 45 2.1.2 Tài nguyên du lịch ......................................................................... 46 2.1.3. Cơ sở hạ tầng ............................................................................... 79 2.2 Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Hà Tĩnh ........................................... 87 2.2.1 Khái quát chung ............................................................................ 87 2.2.2 Hoạt động du lịch theo ngành........................................................ 88 2.2.3 Các hình thức TCLT du lịch tỉnh Hà Tĩnh ....................................... 100 CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH HÀ TĨNH ĐẾN NĂM 2020 ...................................................................... 116 3.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển .................................. 116 3.1.1 Quan điểm .................................................................................. 116 3.1.2 Mục tiêu....................................................................................... 117 3.1.3. Định hướng................................................................................. 117 3.2 Các giải pháp phát triển du lịch tỉnh Hà Tĩnh .................................... 123 3.2.1 Giải pháp về quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch ............. 123 3.2.2 Giải pháp về vốn đầu tư .............................................................. 125 3.2.3 Giải pháp về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ......................... 126 3.2.4. Giải pháp khoa học và công nghệ............................................... 126 3.2.5. Giải pháp tuyên truyền, quảng bá du lịch ................................... 127 3.2.6 Các giải pháp khác ...................................................................... 129 KẾT LUẬN ............................................................................................... 132 TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 134 PHỤ LỤC DANH MỤC BẢN ĐỒ, BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Bản đồ 1. Bản đồ hành chính tỉnh Hà Tĩnh 2. Bản đồ các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến phát triển du lịch tỉnh Hà Tĩnh 3. Bản đồ các nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến phát triển du lịch tỉnh Hà Tĩnh 4. Bản đồ thực trạng phát triển du lịch tỉnh Hà Tĩnh Bảng Bảng 1.1 Lượng khách du lịch đến vùng du lịch Bắc Trung Bộ giai đoạn 2000 - 2012 ...............................................................................................41 Bảng 2.1 Một số lễ hội tiêu biểu trên địa bàn Hà Tĩnh ......................................... 66 Bảng 2.2: Tổng thu và cơ cấu thu nhập từ hoạt động du lịch Hà Tĩnh giai đoạn 2000 - 2012 ................................................................................................. 93 Biểu đồ Biểu đồ 1.1: 1. Cơ cấu khách quốc tế đến Việt Nam theo quốc tịch năm 2013 ........................33 2. Cơ cấu khách quốc tế đến Việt Nam theo mục đích năm 2013 .......................33 Biểu đồ 1.2 Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch nội địa giai đoạn 2000 – 2012 ......................................................................................34 Biểu đồ 2.1 Cơ cấu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2000 – 2012 .........................84 Biểu đồ 2.2 Hiện trạng khách du lịch đến Hà Tĩnh giai đoạn 2000– 2012 ......... 88 Biểu đồ 2.3 Doanh thu ngành du lịch Hà Tĩnh giai đoạn 2001 – 2012 ................ 92 Biểu đồ 2.4 Cơ cấu doanh thu du lịch tỉnh Hà Tĩnh 2012 .................................... 93 Biểu đồ 2.5 Lao động trong ngành du lịch Hà Tĩnh giai đoạn 2000 – 2012 ....... 98 Sơ đồ Sơ đồ 1.1 Sơ đồ mô tả các khái niệm về khách du lịch [29] ....................... 13 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Từ xa xưa du lịch đã là một hoạt động đáp ứng sở thích, nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan, tìm hiểu, khám phá của con người. Song hành cùng với sự phát triển xã hội, đến nay du lịch không còn là một hiện tượng đơn lẻ mà đã trở thành một hiện tượng có tính phổ biến trong xã hội và ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống của mọi tầng lớp dân cư. Đối với nhiều quốc gia, du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp tỉ trọng lớn trong cơ cấu GDP. Mặt khác, du lịch còn góp phần phát triển kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa xã hội vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế chậm phát triển, bảo vệ môi trường sinh thái. Đối với kinh tế, du lịch được xem như là ngành “công nghiệp không khói”, tạo điều kiện thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn. Mặc khác, du lịch còn giúp cho người lao động phục hồi, tăng cường khả năng, hiệu quả công việc sau thời gian nghỉ ngơi. Đối với xã hội, du lịch là “giấy thông hành của hòa bình” tạo điều kiện để con người xích lại gần nhau, thắt chặt tình hữu nghị thân ái, giữ gìn, khôi phục, tôn tạo các bản sắc văn hóa dân tộc. Đối với môi trường, sinh thái phát triển du lịch có thể tạo nguồn kinh phí, cơ hội cho các hoạt động bảo vệ môi trường sinh thái; lôi kéo sự tham gia của cộng động địa phương, giáo dục diễn giải làm thay đổi nhận thức thái độ, hành vi của con người theo hướng tích cực. Tuy nhiên, việc phát triển du lịch nếu không có những quy hoạch, định hướng đúng đắn cũng có thể làm nảy sinh một số vấn đề ảnh hưởng đến tài nguyên, tác động tiêu cực lên môi trường. Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc vùng kinh tế và cũng là vùng du lịch Bắc Trung Bộ, nối hai cầu đất nước, là cửa ngõ ra biển của nước bạn Lào. Ngoài những lợi thế về tự nhiên: bãi biển trong sạch, chan hòa ánh nắng, hệ động thực vật đa dạng phong phú, nhiều loài đặc hữu của khu vực Bắc Trường Sơn 1 như Sao la, Mang lớn, Chà vá chân nâu, Vượn Má vàng…Hà Tĩnh còn là mảnh đất huyền thoại về truyền thống đấu tranh giữ nước với Ngã ba Đồng Lộc, núi Nài anh hùng…, là mảnh đất của biết bao “nhân kiệt”, của lễ hội, làng nghề truyền thống. Tất cả những điều đó tạo nên tiềm năng đặc trưng, khả năng hấp dẫn và cạnh tranh trong xu thế phát triển và hội nhập du lịch của khu vực và cả nước. Tuy nhiên, một thực tế hiện nay là du lịch tỉnh Hà Tĩnh vẫn chưa thực sự phát triển, chỉ ở giai đoạn hình thành, nhiều tiềm năng vẫn chưa được đưa vào khai thác và hoạt động, hiệu quả kinh tế - xã hội do du lịch mang lại vẫn chưa cao. Xuất phát từ thực tế trên, nhận thấy việc tiến hành kiểm kê tài nguyên, phân tích thực trạng và tìm ra các giải pháp phát triển du lịch tỉnh Hà Tĩnh là một việc làm cấp thiết. Chính vì lẽ đó, tôi quyết định chọn đề tài “Phát triển du lịch tỉnh Hà Tĩnh” để nghiên cứu, với mong muốn góp phần tìm ra hướng đi khẳng định vai trò của ngành du lịch Hà Tĩnh trong thời gian tới. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài 2.1 Mục tiêu: Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch ở Việt Nam và trên thế giới, đề tài tập trung đánh giá các nhân tố ảnh hưởng và phân tích thực trạng hoạt động du lịch ở tỉnh Hà Tĩnh. Từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển hoạt động du lịch nhằm mang lại hiệu quả cao và bền vững trong tương lai. 2.2 Nhiệm vụ - Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch vận dụng nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. - Kiểm kê, đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch dưới góc độ địa lý học và phân tích thực trạng du lịch ở tỉnh Hà Tĩnh. 2 - Đề xuất các giải pháp góp phần phát triển du lịch có hiệu quả và bền vững trong tương lai. 2.3 Giới hạn nghiên cứu - Về nội dung: Đề tài tập trung đánh giá tài nguyên du lịch và thực trạng hoạt động du lịch theo hai khía cạnh ngành và lãnh thổ (các tuyến, điểm, cụm với sản phẩm đặc trưng). - Về phạm vi lãnh thổ: Giới hạn phạm vi nghiên cứu là địa giới hành chính tỉnh Hà Tĩnh (gồm 10 huyện, 1 thị xã, 1 thành phố). Tuy nhiên, vấn đề phát triển du lịch ở tỉnh Hà Tĩnh còn được phân tích trong mối quan hệ với các tỉnh thuộc vùng du lịch Bắc Trung Bộ và với cả nước. - Về thời gian: Đề tài tập phân tích và nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn từ 2000 – 2012, định hướng đến năm 2020. 3. Lịch sử nghiên cứu của đề tài 3.1 Trên thế giới Từ khi du lịch xuất hiện và khẳng định vai trò, vị trí của mình trong đời sống kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, khu vực; du lịch và ngành địa lý du lịch đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới dưới nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau. Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô (trước đây) như Mukhina (1973), E.D Xmirnova, V.B Nhefedova…xác định các vùng thích hợp cho mục đích nghỉ dưỡng, đánh giá và thành lập bản đồ tài nguyên du lịch tự nhiên, nhân văn. Bên cạnh đó, còn có các nghiên cứu về đánh giá tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích du lịch của các nhà địa lí 3 Mỹ như Bohart (1971), nhà địa lí người Anh H.Robison (1976), nhà địa lí người Canada Vonfo (1966)….[Dẫn theo 22]. 3.2 Ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu về địa lí du lịch chủ yếu được thực hiện từ thập kỉ 80 của thế kỉ XX trở lại đây và tập trung vào các hướng chính: phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, tổ chức lãnh thổ du lịch, đánh giá tài nguyên du lịch, thực trạng hoạt động du lịch… Nhiều công trình đánh giá về tài nguyên du lịch đã được thực hiện, tiêu biểu như: Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông (1993), Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam, Chương trình du lịch biển KT-03-18, Hà Nội; Địa lý du lịch Việt Nam, (2010) Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), NXB Giáo dục VN; Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam,(2000) Phạm Trung Lương (chủ biên), NXB Giáo dục. Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu, quy hoạch du lịch quốc gia và các vùng, như: “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến 2020, tầm nhìn 2030”, (2012) Tổng cục du lịch, Bộ văn hóa thể thao du lịch; “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” (2012) Tổng cục du lịch, Bộ văn hóa thể thao du lịch; “Việt Nam các vùng kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm”,(2012) Lê Thông, Nguyễn Quý Thao (đồng chủ biên), NXBGD. Một số luận văn thạc sĩ địa lý học chuyên ngành địa lý du lịch ở khoa Địa lý trường đại học sư phạm Hà Nội gắn với đề tài phát triển du lịch ở một số địa phương như: “Phát triển du lịch thành phố Móng Cái trong thời xu thế nhập”, Thái Thị Ba, ĐHSP Hà Nội 2011, “Phát triển du lịch tỉnh KonTum trong xu thế hội nhập”, Thái Huỳnh Anh Chi, ĐHSP Hà Nội 2010, Phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang trong xu thế hội nhập”, Chung Lê Dung, ĐHSP Hà 4 Nội 2010, Phát triển du lịch tỉnh Hưng Yên trong xu thế hội nhập”, Phạm Thủy Quỳnh, ĐHSP Hà Nội 2011 …. Ở Hà Tĩnh ngành du lịch chỉ mới bắt đầu phát triển nên chưa có nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt là về vấn đề phát triển du lịch tỉnh Hà Tĩnh dưới góc độ địa lý học. Đáng chú ý có Luận văn thạc sĩ địa lý học: “Tổ chức lãnh thổ du lịch Hà Tĩnh”, Nguyễn Quốc Lập, ĐHSP Hà Nội 2009. 4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 4.1 Quan điểm nghiên cứu - Quan điểm hệ thống: Quan điểm này cho rằng, mỗi đối tượng nghiên cứu được coi là một hệ thống có nhiều yếu tố cấu thành, có mối quan hệ mật thiết với nhau. Khi nghiên cứu một đối tượng phải đặt nó trong mối tương quan với các đối tượng khác, với các yếu tố trong hệ thống cao hơn cũng như với cấp phân vị thấp hơn. Như vậy, theo quan điểm này xét về mặt lãnh thổ, du lịch tỉnh Hà Tĩnh được xem là một phân hệ trong hệ thống lãnh thổ du lịch của vùng Bắc Trung Bộ; xét về khía cạnh ngành, là một bộ phận trong hệ thống kinh tế - xã hội của toàn tỉnh. Đồng thời, nó bao gồm các cấp phân vị thấp hơn là các điểm, tuyến, cụm, khu du lịch. Chỉ cần một thay đổi nhỏ của phân hệ sẽ tác động đến hoạt động, phát triển chung của toàn hệ thống. - Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Theo quan điểm này hệ thống lãnh thổ du lịch được xem là hệ thống xã hội được tạo thành bởi các thành tố như tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người, có mối quan hệ qua lại mật thiết, gắn bó với nhau một cách hoàn chỉnh theo từng sự phân công chức năng. Việc nghiên cứu, xác định, đánh giá các nguồn lực du lịch thường được nhìn nhận trong mối quan hệ về mặt không gian lãnh thổ. Bên cạnh đó, đối tượng lãnh thổ du lịch còn được xem như một hệ thống mở, có mối quan hệ chặt chẽ với lãnh thổ khác. Trên quan điểm này, khi đánh giá tài nguyên du lịch tỉnh Hà Tĩnh phải xem xét cả tài nguyên du lịch tự 5 nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn, quá trình khai thác phải tìm hiểu nhiều khía cạnh: doanh thu, lao động, lượng khách… Quan điểm này cho phép, chúng ta có thể nhìn nhận, đánh giá các đối tượng du lịch một cách toàn diện, từ đó đề ra các giải pháp phù hợp. - Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Mỗi hiện tượng địa lí kinh tế xã hội đều trải qua các thời kì phát sinh, phát triển, thay đổi hoặc suy vong. Sự phát triển của du lịch cũng không nằm ngoài quy luật đó. Hà Tĩnh là tỉnh có bề dày lịch sử và có nền văn hóa lâu đời. Những đặc điểm này đã đang được khai thác cho phát triển du lịch. Sử dụng quan điểm lịch sử, để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, diễn biến quá trình khai thác, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm để có được những nhận định, những phương án, những dự báo chính xác và giúp cho việc phát triển du lịch trên địa bàn mang tính hiệu quả và bền vững. - Quan điểm phát triển bền vững Quan điểm này đòi hỏi, sự phát triển của du lịch phải được xem xét trên cả ba khía cạnh: kinh tế, xã hội, môi trường. Phát triển du lịch phải gắn với việc bảo vệ và tôn tạo nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bền vững. Việc khai thác các nguồn tài nguyên, tổ chức các hoạt động du lịch đạt hiệu quả kinh tế đòi hỏi phải quan tâm bảo vệ cảnh quan môi trường, giữ gìn và tôn tạo các giá trị văn hóa, quan tâm đến lợi ích của cộng đồng địa phương. Cần có những biện pháp tổ chức, quản lý chặt chẽ để ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên và văn hóa – xã hội của địa bàn tỉnh từ hoạt động du lịch. 4.2 Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thu thập, phân tích, xử lý tài liệu Phương pháp này cho phép kế thừa, tích lũy thành tựu của quá khứ. Tổng quan tài liệu có được cho phép tiếp cận với những kết quả nghiên cứu trong quá khứ, cập nhật những vấn đề trong và ngoài nước. Việc phân loại, 6 phân nhóm và phân tích dữ liệu sẽ giúp cho việc phát hiện những vấn đề trọng tâm và những khía cạnh cần cần tiếp cận của vấn đề. Trên cơ sở những tài liệu thu thập được và những kết quả phân tích, việc tổng hợp sẽ giúp định hình một tài liệu toàn diện và khái quát về chuyên đề nghiên cứu. - Phương pháp nghiên cứu thực địa Đây là phương pháp đặc trưng của Địa lí học. Phương pháp này giúp ta tiếp cận một cách chủ động, trực quan, kiểm tra, đánh giá một cách xác thực để có được tầm nhìn toàn diện về đối tượng nghiên cứu; tránh được những kết luận chủ quan, thiếu cơ sở thực tiễn và có cơ hội để so sánh, kiểm chứng độ chính xác của những tư liệu thu thập trong phòng. Trong quá trình thực hiện đề tài đòi hỏi phải tiến hành nhiều đợt thực địa khác nhau tới các điểm du lịch, khu du lịch, tuyến du du lịch…trên địa bàn toàn tỉnh. - Phương pháp bản đồ - GIS Có thể nói, bản đồ là điểm khởi đầu và cũng là điểm kết thúc của hoạt động nghiên cứu trong khoa học địa lí. Phương pháp này cho ta thấy sự phân bố không gian của đối tượng, cho phép khai thác các thông tin trên hệ thống bản đồ đã được xây dựng, các kết quả nghiên cứu của đề tài lên bản đồ. Theo mục tiêu nghiên cứu, đề tài sẽ xây dựng hệ thống bản đồ hành chính, bản đồ các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến phát triển du lịch, bản đồ các nhân tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến phát triển du lịch, bản đồ thực trạng, du lịch tỉnh Hà Tĩnh. Hệ thống bản đồ được xây dựng bằng việc sử dụng kĩ thuật GIS với sự hổ trợ đắc lực của công nghệ thông tin nhằm có được kết quả nhanh chóng, chính xác và hữu ích. - Phương pháp chuyên gia Phương pháp chuyên gia là phương pháp quan trọng được vận dụng thông qua việc xin ý kiến chỉ đạo, góp ý về nội dung và phương pháp nghiên cứu. Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sẽ tham khảo ý kiến của các cán bộ, các nhà nghiên cứu trong vấn đề khai thác các giá trị văn hóa, tự nhiên và định hướng quy 7 hoạch – tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh nhà từ các cơ quan: sở văn hóa thể thao du lịch, trường đại học sư phạm Hà Nội, viện nghiên cứ du lịch… 5. Đóng góp chủ yếu của đề tài - Kế thừa, bổ sung và hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch, để vận dụng cụ thể vào địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. - Làm rõ được những thuận lợi và khó khăn của các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch ở tỉnh Hà Tĩnh. - Nêu được bức tranh hoạt động du lịch dưới góc độ địa lý học theo ngành và các hình thức tổ chức lãnh thổ ở địa bàn giai đoạn 2000 – 2012. - Đưa ra được một số giải pháp phát triển du lịch nhằm góp phần phát triển du lịch hiệu quả và bền vững. 6. Cấu trúc luận văn Luận văn gồm các phần: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục. Trong đó, phần nội dung của luận văn được trình bày trong ba chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Hà Tĩnh. Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch Hà Tĩnh đến năm 2020, tầm nhìn 2030. 8 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.1 Cơ sở lí luận 1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1.1.1 Du lịch Du lịch xuất hiện từ xa xưa và trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong xã hội hiện đại. Nó ảnh hưởng rộng rãi tới đời sống kinh tế xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới. Cùng với sự phát triển của du lịch, khái niệm du lịch được rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu, phát biểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận, và cho đến nay nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất. Theo một số học giả, du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Tonos” nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này được Latinh hóa thành “Turnur” và sau đó thành “Tour” (tiếng Pháp), nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn “Touriste” là người dạo chơi. Theo Robert Langquar (năm 1980), từ “Tourism” (du lịch) lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh khoảng năm 1800 và được quốc tế hóa nên nhiều nước đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa. Một số học giả khác lại cho rằng du lịch không phải xuất phát từ tiếng Hy Lạp mà từ tiếng Pháp “le tour”, có nghĩa là cuộc hành trình tới nơi nào đó và quay trở lại, sau đó từ gốc này ảnh hưởng ra phạm vi toàn thế giới. [29]. Nguồn gốc của thuật ngữ du lịch vẫn còn chưa thống nhất gây tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu tuy nhiên họ đều cho rằng thuật ngữ này có nghĩa gốc là: cuộc hành trình, dạo chơi tới một nơi nào đó và có sự quay trở lại. Bản chất phức tạp, đa chiều của hoạt động du lịch, sự khác biệt về ngôn ngữ, góc độ tiếp cận nên các nhà khoa học đã đưa ra nhiều quan niệm không giống nhau về khái niệm du lịch. Có thể thấy về sự biến đổi nhận thức thông qua một số khái niệm du lịch tiêu biểu sau đây: 9 Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện tại nước Anh: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lí thuyết và thực hành của các cuộc giải trí”. Năm 1930, Glusman người Thụy Sĩ định nghĩa: “Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm, mà ở đó họ không có chổ cư trú thường xuyên” [29]. Năm 1941, hai giáo sư người Thụy Sĩ là Hunziker và Krapt đã khái quát: “Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại và lưu trú của những người ngoài địa phương – những người không có mục đích định cư và không liên quan tới bất cứ hoạt động kiếm tiền nào” [14]. Quan niệm này đã được Hiệp hội quốc tế các chuyên gia về du lịch (AIEST) thừa nhận, phản ánh tương đối đầy đủ và bao quát hơn các quan niệm của các nhà khoa học trước đó, là một khái niệm làm cơ sở để xác định người đi du lịch, cơ sở hình thành về cầu du lịch sau này. Tuy nhiên quan niệm này mới chỉ được giải thích ở hiện tượng đi du lịch, chưa làm rõ được đặc trưng và các mối quan hệ của hiện tượng du lịch. Du lịch thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau. Các nhà kinh tế, tiếp cận du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà phải gắn chặt với hoạt động kinh tế. Theo nhà kinh tế Kalfiotis, du lịch là sự di chuyển tạm thời của các cá nhân hay tập thể từ nơi này đến nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức, do đó tạo nên các hoạt động kinh tế [15]. Các quan niệm trên, tiếp cận du lịch dưới góc độ một hiện tượng, một hoạt động với các yếu tố tách biệt. Các nhà nghiên cứu du lịch sau này đã cố gắng xem xét du lịch một cách toàn diện hơn, tiếp cận du lịch một cách tổng hợp. Theo M.Coltman, du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, nhà kinh 10 doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch. Theo quan điểm của Robert W.Mc.Intosh, Charles R.Goeldner, J.R Brent Ritcie, du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình thu hút và đón tiếp khách du lịch [15]. Quan điểm này xem khách du lịch là phân hệ trung tâm, làm nảy sinh các hoạt động, các mối quan hệ và làm thỏa mãn mục đích của các chủ thể tham gia vào các hoạt động và các mối quan hệ đó. Không chỉ các nhà kinh tế, các chuyên gia nghiên cứu về du lịch thuộc các lĩnh vực khác cũng thấy kinh tế là yếu tố không thể thiếu được trong khái niệm du lịch. Năm 1985, trong “Cơ sở địa lí du lịch và dịch vụ tham quan”, nhà địa lí Bêlarut – I.I. Piojnik đã đưa ra một khái niệm tương đối đầy đủ: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa” [29]. Tổ chức du lịch thế giới UNWTO cũng đưa ra định nghĩa: “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí hay mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm”. Luật du lịch Việt Nam năm 2005, điều 4, chương I, định nghĩa: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [39]. 11 Như vậy, có thể thấy có sự biến đổi trong nhận thức về nội dung của khái niệm du lịch. Khái niệm du lịch có thể hiểu bao gồm hai nội dung chính: là một hiện tượng, một hoạt động xã hội của con người bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí....Ngoài ra, du lịch còn là một hoạt động kinh tế với sự tham gia của khách du lịch, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương nơi đón khách và dân cư sở tại. 1.1.1.2 Khách du lịch Khái niệm “Khách du lịch” hay du khách, xuất hiện lần đầu tại Pháp vào cuối thế kỉ XVIII: “Khách du lịch là người thực hiện cuộc hành trình lớn” [29]. Tới nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về khách du lịch. Nhà kinh tế học Josef Stander định nghĩa: “Khách du lịch là những hành khách đi lại, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh tế” [dẫn theo 29]. Nhà nghiên cứu người Bungari – Khadginicolov cho rằng: “Khách du lịch là người hành trình tự nguyện, với những mục đích hòa bình. Trong cuộc hành trình của mình, họ đi qua những chặng đường khác nhau và thay đổi một hoặc nhiều lần nơi cư trú của mình” [ dẫn theo 29]. Mặc dù có nhiều khái niệm về khách du lịch nhưng các khái niệm này còn phiến diện, chưa đầy đủ, mới chỉ dừng lại ở việc phân tích động cơ du lịch, không gắn hoạt động du lịch với các chức năng kinh tế xã hội. Theo Tổ chức du lịch thế giới, khách du lịch là những người có các đặc trưng: là người đi khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình; không theo đuổi mục đích kinh tế; đi khỏi nơi cư trú từ 24 giờ trở lên; khoảng cách tối thiểu từ nhà tới điểm đến tùy theo quan niệm của từng nước [15]. Điểm chung nhất đối với các nước trong cách hiểu khái niệm về khách du lịch là: Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến nơi nào đó, quay trở lại với mục đích khác nhau, loại trừ mục đích 12 làm công và nhận thù lao ở nơi đến; có thời gian lưu lại ở nơi đến từ 24h trở lên (hoặc có sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm) nhưng không quá thời gian một năm. Khách du lịch là những người tạm thời ở tại nơi họ đến du lịch với các mục tiêu như nghỉ ngơi, kinh doanh, hội nghị hoặc thăm gia đình. Ở nước ta, luật du lịch năm 2005 định nghĩa: “Khách du lịch là những người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” [29]. Khách du lịch được chia thành hai nhóm cơ bản là khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa. Sơ đồ 1.1 Sơ đồ mô tả các khái niệm về khách du lịch [29] Người du hành (Traveller) Được thống kê là khách đi du lịch (visitor) Du Khách (Tourist) Khách có thời gian đi du lịch ít nhất là 24 giờ Không tính vào thống kê du lịch Khách tham quan (Excursionist-Day visitor) Khách có thời gian đi du lịch dưới 24 Khách quá cảnh - Những người làm việc để nhận thù lao - Những người làm việc ở vùng biên giới - Nhân viên đại sứ quán, lãnh sự quán -Nhân viên của lực lượng quân sự - Dân di cư - Dân tỵ nạn -Người nhập cư…. a. Khách quốc tế Năm 1989, tại hội nghị quốc tế về du lịch được tổ chức ở Lahay (Hà Lan), Ủy ban thống kê của Liên hợp quốc đưa ra khái niệm khách du lịch quốc tế: “Khách du lịch quốc tế là những người trên đường đi thăm một hoặc một số nước khác với nước mà họ cư trú thường xuyên với mục đích của 13 chuyến đi là tham quan, thăm viếng, nghỉ ngơi với thời gian 3 tháng, nếu trên 3 tháng phải được phép gia hạn. Khách du lịch không được làm bất cứ việc gì để được trả thù lao tại nước đến do ý muốn của du khách hay do yêu cầu của nước sở tại, sau khi kết thúc đợt tham quan hay lưu trú, phải rời khỏi nước đến tham quan để về nước thường trú của mình hoặc đi đến một nước khác”. Hiện nay trên thế giới, nhiều nước sử dụng khái niệm này. Như vậy, có thể hiểu: khách du lịch quốc tế là khách du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến du lịch thuộc phạm vi lãnh thổ của hai hoặc nhiều quốc gia khác nhau. Luật du lịch Việt Nam, năm 2005, điều 34, chương V định nghĩa: “Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch” [39]. b. Khách du lịch nội địa Khách du lịch nội địa được phân biệt với khách du lịch quốc tế ở chổ nơi đến của họ cũng chính là nước mà họ cư trú thường xuyên. Họ cũng được phân biệt với những người lữ hành trong nước ở mục đích chuyến đi và thời gian lưu trú. Tuy nhiên khái niệm khách du lịch nội địa được xác định không giống nhau ở các nước khác nhau về khoảng cách chuyến đi và thời gian lưu trú. Theo luật du lịch Việt Nam: Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam [39]. 1.1.1.3. Sản phẩm du lịch Theo Nguyễn Minh Tuệ: “Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách dựa trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng” [29]. 14 Các nhà kinh tế du lịch xem xét sản phẩm du lịch dưới góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, hợp thành bởi nhiều bộ phận kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu phong phú, đa dạng của du khách trong chuyến đi du lịch. Do đó, sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách; được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng nguồn lực là: Cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó . Luật du lịch Việt Nam, định nghĩa: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” [39]. Như vậy, sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. 1.1.1.4. Tài nguyên du lịch Nếu như khách du lịch là chủ thể của du lịch thì tài nguyên du lịch là khách thể của du lịch, là cơ sở quan trọng để phát triển du lịch. Trong Cơ sở địa lý dịch vụ và du lịch (1985) I.I Pirojnik cho rằng “Tài nguyên du lịch là những tổng thể, tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng giúp cho việc phục hồi, phát triển thể lực, tinh lực, khả năng lao động và sức khỏe của con người mà chúng được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để tạo ra dịch vụ du lịch gắn liền với nhu cầu ở thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế - kĩ thuật cho phép” [dẫn theo 29]. Luật du lịch Việt Nam quy định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [39]. 15 Mặc dù cách tiếp cận đối với tài nguyên du lịch vẫn có sự khác nhau giữa các tác giả nghiên cứu, nhưng các khái niệm về tài nguyên du lịch đều đã đề cập tới sức hấp đẫn đối với du khách của các yếu tố tự nhiên, văn hóa - lịch sử. 1.1.1.5. Các loại hình du lịch Các hoạt động du lịch rất phong phú và đa dạng vì vậy có nhiều cách phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau. Các nhà nghiên cứu du lịch thường phân loại dựa trên một số tiêu chí sau: + Theo mục đích chuyến đi: du lịch thuần túy (tham quan, giải trí, khám phá, nghỉ dưỡng…), du lịch kết hợp (du lịch tôn giáo, du lịch học tập nghiên cứu…) + Theo tài nguyên du lịch: du lịch được phân thành hai hình thức cơ bản là du lịch văn hóa và du lịch sinh thái. + Theo lãnh thổ hoạt động: du lịch trong nước, du lịch quốc tế. + Theo vị trí địa lí: du lịch biển, du lịch núi, du lịch đô thị, du lịch đồng quê. + Theo thời gian của cuộc hành trình (độ dài chuyến đi): du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày. +Theo việc sử dụng các phương tiện giao thông: du lịch xe đạp, du lịch ô tô, du lịch máy bay, du lịch tàu hỏa, du lịch tàu thủy. + Theo hình thức tổ chức: du lịch có tổ chức theo đoàn, du lịch cá nhân, du lịch gia đình. 1.1.2 Vai trò của du lịch Du lịch từ một hiện tượng riêng lẻ đã trở thành một hoạt động phổ biến không thể thiếu được trong đời sống kinh tế xã hội. Chính vì thế du lịch ngày càng có vai trò to lớn đối với kinh tế, xã hội và môi trường. 1.1.2.1. Đối với kinh tế - Du lịch là ngành kinh tế quan trọng, phát triển với tốc độ cao, đóng góp ngày càng lớn vào tổng sản phẩm trong nước GDP của các quốc gia. Đối 16
- Xem thêm -