Tài liệu Luận văn đánh giá bất bình đẳng giới trong thu nhập của người lao động ở khu vực đô thị việt nam

  • Số trang: 78 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 577 |
  • Lượt tải: 2
sakura

Tham gia: 10/08/2015

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM ---------------------------- TẠ HOÀNG ANH ĐÁNH GIÁ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ VIỆT NAM Chuyên ngành : Kinh tế phát triển Mã số : 60.31.01.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN TIẾN DŨNG TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013 LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, chưa được công bố nội dung ở bất kì đâu; các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận án được chú thích nguồn gốc rõ ràng, trung thực. Tôi xin cam đoan chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi. MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA ....................................................................................................... LỜI CAM ĐOAN......................................................................................................... MỤC LỤC.................................................................................................................... DANH MỤC BẢNG .................................................................................................... DANH MỤC HÌNH ..................................................................................................... DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT.............................................................................. MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 1. Đặt vấn đề............................................................................................................1 2. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................2 3. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu ..................................................2 4. Kết cấu của đề tài.................................................................................................3 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN ...........................5 1.1. Bất bình đẳng giới trong thu nhập .....................................................................5 1.1.1. Một số khái niệm ........................................................................................5 1.1.2. Tác động của bất bình đẳng giới trong thu nhập đối với sự phát triển kinh tế xã hội ...............................................................................................................6 1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới trong thu nhập ......................7 1.2. Mô hình thực nghiệm ........................................................................................9 1.2.1. Mô hình Mincer (1974) ..............................................................................9 1.2.2. Phương pháp phân tích Oaxaca ...............................................................10 1.2.3. Các nghiên cứu thực nghiệm trong thời gian gần đây...............................13 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU..............................15 2.1. Dữ liệu nghiên cứu..........................................................................................15 2.2. Các khái niệm và mô tả biến số .......................................................................15 2.3. Xử lý số liệu....................................................................................................17 2.3.1 Trích dữ liệu ..............................................................................................17 2.3.2 Kiểm định dữ liệu ......................................................................................19 2.3.3 Cách thức ước lượng .................................................................................21 2.4 Quy trình phân tích ..........................................................................................23 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG THU NHẬP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM.......................................................................25 3.1 Tổng quan về bất bình đẳng trong thu nhập ở Việt Nam ...................................25 3.2 Cấu trúc thu nhập của người lao động cả nước và ở khu vực Thành thị ............26 3.2.1 Phân bố lao động ......................................................................................26 3.2.2 Trình độ.....................................................................................................27 3.3.3 Thành phần kinh tế....................................................................................28 3.3 Sự khác biệt trong thu nhập của người lao động ở khu vực thành thị................28 CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG.................................................................33 4.1 Mô hình ước lượng ..........................................................................................33 4.1.1 Mô hình Mincer.........................................................................................33 4.1.2 Mô hình phân tích Oaxaca ........................................................................34 4.2 Kết quả hồi quy hàm thu nhập Mincer..............................................................35 4.2.2 Kết quả mô hình ........................................................................................36 4.2.3 Đánh giá sự chênh lệch trong tiền lương của người lao động theo giới .....40 CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ ..............................................................44 5.1 Kết luận ...........................................................................................................44 5.2 Kiến nghị .........................................................................................................45 5.3 Điểm mới - Hạn chế và hướng nghiên cứu mới cho đề tài ................................46 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................48 DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1: Các nghiên cứu thực nghiệm về bất bình đẳng giới theo thu nhập..............13 Bảng 2.1: Bảng tổng hợp thông tin trích lọc các biến số.............................................18 Bảng 3.1: Phân bố lao động trên 6 vùng địa lý ...........................................................26 Bảng 3.2: Phân bố lao động theo trình độ...................................................................27 Bảng 3.3: Phân theo thành phần kinh tế của người lao động ......................................28 Bảng 4.1: Dấu kỳ vọng và ý nghĩa của các hệ số trong các hàm hồi qui .....................33 Bảng 4.2: Tổng hợp kết quả mô hình hồi quy theo phương pháp OLS .......................36 Bảng 4.3: Tổng hợp kết quả mô hình hồi quy theo phương pháp 2SLS ......................38 Bảng 4.4: Tổng hợp phương pháp phân tích sự khác biệt trong thu nhập giữa hai phương pháp Oaxaca (1973) và Neumark (1988).......................................................42 DANH MỤC HÌNH Hình 2.1: Tính toán các giá trị dựa theo thống kê mô tả của box ................................20 Hình 2.2: Kết hợp giữa biểu đồ histogram và box plot ...............................................21 Hình 2.3: Sơ đồ các bước thực hiện phân tích trong nghiên cứu.................................24 Hình 3.1: Hệ số phân tán Gini của Việt Nam giai đoạn 2002 – 2010 ..........................25 Hình 3.2: Thu nhập người lao động ở thành thị theo giới tính và nhóm tuổi...............29 Hình 3.3: Thu nhập người lao động nữ theo nhóm tuổi và bằng cấp chuyên môn.......30 Hình 3.4: Thu nhập người lao động nam theo nhóm tuổi và bằng cấp chuyên môn ....30 Hình 3.5: Thu nhập người lao động ở các khu vực kinh tế phân theo giới tính ...........31 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT BTB&DH Bắc Trung bộ và Duyên hải CMKT Chuyên môn kỹ thuật ĐTNN Đầu tư nước ngoài MN Miền núi NLTHS Nông lâm thủy hải sản TCTK Tổng cục thống kê TIẾNG ANH Ý NGHĨA TIẾNG VIỆT CEDAW Convention on the Elimination of all Forms of Discrimination against Women Công ước Xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ LIF Lower Inner Fence Phía dưới rào trong LOF Lower Outer Fence Phía dưới rào ngoài OLS Ordinary Least Square Bình phương thông thường tối thiểu VHLSS Vietnam Household Living Standard Survey) Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam VIF Variance Inflation Factor Hệ số khuếch đại phương sai UIF Upper Outer Fence Phía trên rào trong UOF Upper Outer Fence Phía trên rào ngoài 2SLS 2 Stages Least Square Bình phương tối thiểu 2 giai đoạn 1 MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, Việt Nam đã dành được nhiều thành tựu về tăng trưởng kinh tế. Trong báo cáo phát triển con người năm 2010 của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam được đứng vào nhóm 10 quốc gia trên thế giới có những tiến bộ nhất về thu nhập. Bản thân sự tiến bộ về tăng trưởng kinh tế chưa đủ lực để tạo nên những bước đột phá về mặt xã hội cho con người. Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận các vấn đề về phát triển con người ở Việt Nam ngày càng cải thiện. Song song với việc thực hiện đổi mới nền kinh tế, Việt Nam đã có những chính sách phù hợp đảm bảo quyền bình đẳng cho phụ nữ và nam giới và đã có những tiến bộ đáng kể nhằm giảm khoảng cách về giới trong lĩnh vực y tế và giáo dục cũng như cải thiện tình hình của phụ nữ nói chung. Bên cạnh những thành tựu đạt được, bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn phải đứng trước nhiều vấn đề lớn cần giải quyết trong đó bất bình đẳng giới trong thu nhập là một trong những thách thức lớn nhất, lâu dài và khó khăn nhất. Hơn thế, cùng với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ngày càng mở rộng, những thách thức của bình đẳng giới cũng đang biến đổi song hành với sự biến đổi của cơ cấu thị trường lao động nhằm đáp ứng quá trình tăng trưởng kinh tế với tốc độ như hiện nay. Trong khi sự tăng trưởng mang đến các cơ hội mới về gia tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống thì đồng thời cũng tạo ra vấn đề bất bình đẳng giới. Vấn đề này được thể hiện trong việc tiếp cận các nguồn lực sản xuất và cơ hội đào tạo đã hạn chế khả năng cạnh tranh của phụ nữ và củng cố thêm những nguyên nhân tạo nên sự cách biệt về thu nhập giữa lao động nam và lao động nữ trên thị trường lao động. Việc tiếp cận các cơ hội việc làm, các nguồn lực sản xuất, cũng như các dịch vụ chất lượng cao về giáo dục, y tế…ở khu vực đô thị là thuận lợi và dễ dàng hơn so với khu vực nông thôn. Do vậy, vấn đề bất bình đẳng giới trong thu nhập của người lao động sẽ thể hiện rõ nét hơn ở các đô thị. 2 Trước thực trạng như trên, rất cần thiết phải có những tính toán, phân tích chính xác, đầy đủ hơn về bất bình đẳng trong thu nhập để có thể dự đoán được xu thế cũng như đưa ra được những chính sách, thể chế và chương trình cho phù hợp nhằm đảm bảo cho phụ nữ có thể được hưởng lợi ngang bằng với nam giới trong điều kiện kinh tế đô thị phát triển nhanh chóng như hiện nay. Đề tài: “Đánh giá bất bình đẳng giới trong thu nhập của người lao động ở khu vực đô thị Việt Nam” cũng nhằm mục đích làm sáng tỏ vấn đề này. 2. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của đề tài nghiên cứu là đánh giá, đo lường mức độ khác biệt về thu nhập giữa lao động nam và lao động nữ ở khu vực đô thị và tìm ra các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng có ý nghĩa đến bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đề xuất một số kiến nghị nhằm hướng đến thực hiện bình đẳng giới trong thu nhập của người lao động. 3. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu a. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu nhập từ công việc chính của các cá nhân người lao động làm công ăn lương được hưởng hàng tháng trong vòng 12 tháng trước thời gian điều tra, và các yếu tố ảnh hưởng đến mức lương của lao động nam và nữ ở khu vực đô thị Việt Nam. Thu nhập ở đây bao gồm tiền lương, tiền công và các khoản nhận được khác ngoài tiền lương tiền công như: tiền lễ, tết, trợ cấp xã hội, tiền lưu trú đi công tác (kể cả các khoản nhận được bằng tiền và giá trị hiện vật được quy đổi) (TCTK, 2010). b. Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu này tìm hiểu về mức độ bất bình đẳng giới trong thu nhập và tìm câu trả lời cho câu hỏi được đặt ra là: Có sự phân biệt đối xử trong khoảng cách thu nhập của người lao động ở khu vực đô thị Việt Nam hay không? Các yếu tố chủ yếu nào ảnh hưởng có ý nghĩa đến bất bình đẳng giới trong thu nhập ở khu vực đô thị Việt Nam? c. Phạm vi nghiên cứu 3 Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự bất bình đẳng giới trong thu nhập ở đô thị Việt Nam năm 2010. Các yếu tố này bao gồm a) các yếu tố kinh tế: đặc điểm cá nhân người lao động như độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân...; b) các yếu tố liên quan đến việc làm của người lao động: kinh nghiệm và trình độ nghề nghiệp, khả năng tiếp cận việc làm trong khu vực chính thức, trình độ giáo dục, nhóm ngành nghề. d. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu này sử dụng bộ số liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2010 (VHLSS 2010) của Tổng cục Thống kê. Ngoài phương pháp mô tả thống kê, diễn dịch so sánh, nghiên cứu này dựa vào phương pháp định lượng bằng mô hình kinh tế lượng - hồi qui hàm thu nhập Mincer và kết hợp phương pháp phân tích của Oaxaca (1973), đồng thời kết quả này được đối chiếu với phương pháp tách biệt theo đề xuất của Neumark (1988). Mục tiêu của phương pháp nhằm tách biệt khoảng cách thu nhập giữa hai giới thành hai phần: phần có thể giải thích được dựa trên các đặc tính như trình độ giáo dục hay thâm niên lao động, và cấu phần “không thể giải thích được”, hay là sự phân biệt đối xử giới trên thị trường lao động. 4. Kết cấu của đề tài Phần mở đầu trình bày bối cảnh và tính cần thiết của đề tài, mục tiêu, đối tượng nghiên cứu cũng như phương hướng, cách thức và các bước thực hiện để tìm ra kết quả và các kết luận về bất bình đẳng giới trong thu nhập ở khu vực đô thị Việt Nam. Chương 1 trình bày tổng quan lý thuyết về giới, bất bình đẳng giới và những tác động của bất bình đẳng giới đến kinh tế xã hội đồng thời trình bày sơ lược những phương pháp tính toán, phân tích và đánh giá về bất bình đẳng giới trong thu nhập. Chương 2 trình bày diễn dịch toán học mô hình hồi quy hàm thu nhập Mincer và phương pháp phân tách Oaxaca đồng thời trình bày phương pháp chọn mẫu và cách thức tính toán các biến giải thích. Chương 3 sẽ đưa ra những đánh giá tổng quan về thực trạng bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam nói chung và ở khu vực đô thị Việt Nam nói riêng thông 4 qua phân tích các số liệu thống kê về dân số, lao động, thu nhập, giáo dục và việc làm… qua đó phân tích sơ bộ các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập. Chương 4 trình bày kết quả ước lượng và tính toán các hệ số hồi quy, khoảng cách thu nhập và các hệ số từ mô hình phân tách Oaxaca. Chương 5 tóm tắt lại những phát hiện chính của nghiên cứu từ chương 2 đến chương 4. Từ đó tác giả đưa ra những gợi ý chính sách và hạn chế của đề tài nghiên cứu. Phần phụ lục 21 trang bao gồm những bảng biểu thống kê từ dữ liệu hoặc các số liệu trích dẫn từ các nguồn khác, cũng như tất cả các tính toán kiểm định được thực hiện trong đề tài. Nội dung phần phụ lục sẽ minh dẫn toàn bộ quá trình tính toán và thực hiện đề tài. 5 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN Chương 1 trình bày tổng quan lý thuyết về giới, bất bình đẳng giới và những tác động của bất bình đẳng giới đến kinh tế xã hội đồng thời trình bày những phương pháp tính toán, phân tích và đánh giá về bất bình đẳng giới trong thu nhập. Chương này sẽ trình bày rõ dạng toán học của mô hình hồi quy thu nhập Mincer (1974) và phương pháp phân tách khác biệt đối xử của Oaxaca (1994). Phần cuối chương 1 trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về bất bình đẳng giới trong thu nhập đã được thực hiện trên thế giới và ở Việt Nam. 1.1. Bất bình đẳng giới trong thu nhập 1.1.1. Một số khái niệm Giới: là một thuật ngữ xã hội học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quan hệ xã hội giữa nam và nữ. Giới đề cập đến việc phân công lao động, phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể. Giới được hình thành qua quá trình học tập và giáo dục, không đồng nhất, khác nhau ở mỗi nước, mỗi địa phương, thay đổi theo thời gian, theo quá trình phát triển kinh tế xã hội. Lợi ích giới: là những lợi ích của phụ nữ và nam giới mà khi được áp dụng sẽ biến đổi thực tế phân công lao động giới theo hướng tiến bộ, góp phần nâng cao bình đẳng giới. Bình đẳng giới: theo công ước CEDAW năm 1978 bình đẳng giới là tình trạng (điều kiện sống, sinh hoạt, làm việc...) mà trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như nhau, họ có cơ hội bình đẳng để tiếp cận, sử dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích cho mình, phát hiện và phát triển tiềm năng của mỗi giới nhằm cống hiến cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ sự phát triển đó. Như vậy, bất bình đẳng giới hay thuật ngữ “phân biệt đối xử với phụ nữ” có nghĩa là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính làm ảnh hưởng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hoá việc phụ nữ được công nhận, thụ hưởng, hay thực hiện các quyền con người và những tự do cơ bản trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự và các lĩnh vực khác trên cơ sở bình đẳng nam nữ bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào. 6 Bất bình đẳng giới trong thu nhập: xét riêng trong lĩnh vực lao động thì sự bất bình đẳng giới thể hiện ở sự phân biệt trong việc tiếp cận các cơ hội, sự phân biệt đối xử trong công việc và nghề nghiệp cũng như sự phân biệt trong việc thừa hưởng các thành quả lao động giữa lao động nam và lao động nữ. Đề tài này tập trung nghiên cứu và đi sâu vào vấn đề bất bình đẳng trong việc tiếp cận các cơ hội kinh tế, cụ thể ở đây là bất bình đẳng giới trong thu nhập. Nó đề cập tới mối quan hệ phân phối thu nhập và giới. Theo đó sự bất bình đẳng giới trong thu nhập là phân biệt trong thu nhập được hưởng của lao động nam và lao động nữ mặc dù có cùng các đặc tính năng lực và năng suất lao động như nhau. 1.1.2. Tác động của bất bình đẳng giới trong thu nhập đối với sự phát triển kinh tế xã hội Theo Ngân hàng Thế Giới (2001), bất bình đẳng giới trong thu nhập vừa là một trong những căn nguyên gây ra nghèo đói vừa là yếu tố cản trở lớn đối với phát triển kinh tế. Tình trạng bất bình đẳng giới trong thu nhập dẫn đến người phụ nữ bị hạn chế khả năng tái tạo sức lao động, hạn chế cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng, giáo dục và đào tạo là những nguyên nhân làm cho tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và bà mẹ cao hơn, sức khoẻ gia đình bị ảnh hưởng và trẻ em ít được đi học hơn, đặc biệt là trẻ em gái. Bên cạnh những cái giá phải trả mang tính cá nhân đó, bất bình đẳng giới trong thu nhập còn làm giảm năng suất trong các nông trại và doanh nghiệp, do đó hạn chế tiềm năng xóa đói giảm nghèo và duy trì tiến bộ kinh tế. Bằng cách cản trở quá trình tích lũy vốn con người, hạn chế quyền tiếp cận các nguồn lực sản xuất, quyền tham gia vào các hoạt động sản xuất dẫn đến không hiệu quả trong phân bổ các nguồn lực xã hội. Thu nhập thấp hơn nam giới còn là nguyên nhân hạn chế khả năng sáng tạo cũng như động lực cải tiến và nâng cao năng suất lao động ở người phụ nữ. Giải quyết bất bình đẳng giới trong thu nhập là tạo quyền cho phụ nữ bị thiệt thòi và thay đổi các quan hệ và cơ cấu bất bình đẳng. Phụ nữ và nam giới được coi là có vị thế bình đẳng nghĩa là để phát huy hết khả năng và thực hiện các nguyện vọng của mình; để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực xã hội và thành quả phát triển; được bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. 7 1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới trong thu nhập 1.1.3.1. Yếu tố phi kinh tế Theo Ngân hàng Thế Giới (2001), bất bình đẳng giới thường xuất phát từ những quan niệm sai lầm và cố hữu về vai trò giới. Theo đó nam giới thường tập trung vào vai trò sản xuất, làm kinh tế và có thu nhập nên được xã hội coi trọng, họ có quyền tham gia việc ngoài xã hội, thực hiện chức năng sản xuất, gánh vác trách nhiệm và quản lý xã hội, có toàn quyền chỉ huy định đoạt mọi việc lớn trong gia đình. Trong khi phụ nữ đảm nhận vai trò tái sản xuất và cộng đồng, chăm sóc và tái tạo sức lao động, ví dụ như việc nội trợ, việc chăm sóc con cái, chăm nom người ốm và các hoạt động cải thiện cộng đồng. Đây là các việc không tạo ra thu nhập và thường do người phụ nữ phải đảm nhận, ít được xã hội đánh giá đúng mức. Quan niệm bất bình đẳng giới truyền thống hay định kiến giới qua quá trình xã hội hóa về giới đã có những biến chuyển tích cực hơn song vẫn là rào cản gây khó khăn cho phụ nữ trong tiếp cận công việc, tiếp cận các hoạt động kinh tế- xã hội và là nguyên nhân tạo nên bất bình đẳng giới trong thu nhập. 1.1.3.2. Các yếu tố kinh tế Nhóm yếu tố đặc điểm người lao động: nhóm này bao gồm những yếu tố liên quan mặt thể chất và giới tính gồm: độ tuổi, tình trạng hôn nhân, sức khoẻ. Borjas (2005) qua các bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy thu nhập của một người phụ thuộc vào tuổi tác của người đó. Tiền lương tương đối thấp đối với người lao động trẻ, tăng lên khi họ trưởng thành và tích lũy được vốn con người, rồi có thể giảm nhẹ đối với những người lao động lớn tuổi. Đặc biệt, thu nhập của những lao động nam trẻ thường tăng nhanh hơn thu nhập của người nữ trẻ. Tình trạng hôn nhân tác động đến thu nhập của lao động nam và lao động nữ tương tự nhau: khi đã lập gia đình và có con cái do những nhu cầu cuộc sống phát sinh làm tăng nhu cầu làm việc để kiếm thêm thu nhập ở cả nam giới và phụ nữ. Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa hai giới: do áp lực chăm sóc gia đình đè nặng trách nhiệm lên người phụ nữ làm hạn chế cơ hội tham gia sản xuất và làm thu nhập của họ thấp hơn nam giới. 8 Sức khỏe cũng là một trong những yếu tố tạo nên khoảng cách thu nhập giữa nam và nữ. Những đặc điểm giới tính quy định thể trạng khác nhau ở nam và nữ, những khác biệt này dẫn đến sự phân chia công việc trong đó sự tập trung của phụ nữ vào một số ngành nghề tương đối ít làm cho mức lương của những việc phụ nữ làm không tránh khỏi sụt giảm và gây ra khác biệt tiền lương giữa nam và nữ. Nhóm yếu tố giáo dục - đào tạo: đây là nhóm yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động. Công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, kỹ năng phức tạp có mức lương cao hơn nhiều so với các công việc mang tính giản đơn. Do vậy người được tiếp cận với nền giáo dục cao hơn sẽ có cơ hội tìm kiếm công việc có thu nhập cao hơn. Borjas (2005) đã trình bày mối quan hệ giữa thu nhập và số năm đi học của một người bằng “đường tiền lương theo học vấn” thể hiện mối quan hệ giữa mức lương mà doanh nghiệp sẳn sàng trả theo số năm đi học. Đường cong này lồi theo số năm đi học. Theo Mincer (1974), sự đầu tư của cá nhân được đo bằng sự tiêu tốn thời gian. Chi phí thời gian cộng với số tiền chi trực tiếp cho việc đi học được xem là tổng chi phí đầu tư. Vì những chi phí này, việc đầu tư sẽ không diễn ra nếu như không có khả năng đem lại những khoản thu nhập lớn hơn trong tương lai. Mô hình ước lượng suất sinh lợi từ giáo dục của Mincer cũng thể hiện quan hệ giữa thu nhập với số năm đi học, số năm kinh nghiệm… theo đó một năm đi học tăng thêm sẽ mang lại cho người lao động một khoản thu nhập tăng thêm nhất định. Nhóm yếu tố lao động, công việc: nhóm này bao gồm các yếu tố: ngành nghề, chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, tổ chức làm việc. Theo Borjas (2005) Thông thường người lao động làm việc trong ngành nông nghiệp được trả lương thấp hơn những người làm trong ngành công nghiệp và dịch vụ do yêu cầu về kỹ năng, trình độ của ngành này thấp. Bản thân trong cùng một ngành nghề thì thu nhập của người lao động còn phụ thuộc vào chuyên môn (loại hình công việc) và kinh nghiệm công tác của người lao động do những công việc phức tạp được trả lương cao hơn những công việc giản đơn và những người có thời gian tiếp xúc với công việc dài hơn thì có khả năng hoàn thành công việc nhanh và tốt hơn những người ít kinh nghiệm nên được trả lương cao hơn. 9 Bất bình đẳng giới trong thu nhập còn xuất phát từ sự phân biệt có tính nghề nghiệp giữa nam và nữ trên thị trường lao động. Borjas (2005) đã giải thích dựa trên giả thiết về sự tập trung theo nghề, cho rằng phụ nữ muốn chọn riêng những nghề nhất định. Sự tập trung theo nghề này không nhất thiết là kết quả phân biệt đối xử của người sử dụng lao động mà do môi trường xã hội. Sự tập trung theo nghề này làm hạn chế cơ hội tiếp cận việc làm và gây ra khác biệt tiền lương giữa nam và nữ. Loại hình tổ chức cũng là một trong những yếu tố tác động đến sự khác biệt thu nhập giữa nam và nữ. Những tổ chức chịu sự chi phối chặt chẽ của pháp luật, thực thi tốt các chính sách bình đẳng giới người phụ nữ sẽ nhận được mức thu nhập bình đẳng hơn và ngược lại. Nhóm yếu tố địa lý: 6 vùng địa lý từ đồng bằng Sông Hồng đến đồng bằng Sông Cửu Long. Thu nhập được trả cho người lao động phải đảm bảo cho cuộc sống của bản thân họ và gia đình. Do mức sống, mức chi tiêu ở các vùng khác nhau là khác nhau nên thu nhập của người lao động tại các địa phương khác nhau sẽ khác nhau. 1.2. Mô hình thực nghiệm 1.2.1. Mô hình Mincer (1974) Mincer (1974) trình bày mối quan hệ giữa thu nhập với giáo dục thông qua mô hình học vấn với đường tiền lương theo học vấn cho thấy mối quan hệ giữa tiền lương và số năm được giáo dục, đào tạo của người lao động làm thuê. Độ dốc của đường tiền lương theo học vấn cho thấy mức tăng thu nhập khi người lao động có thêm một năm học vấn. Người lao động sẽ quyết định chọn trình độ học vấn tối ưu, quyết định dừng việc học khi mức lợi tức biên bằng với suất chiết khấu kỳ vọng của họ. Đây là qui tắc dừng nhằm tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập. Mô hình học vấn với giả thiết bỏ qua yếu tố kinh nghiệm, được Mincer diễn dịch toán học cho thấy logarithm của thu nhập là hàm tỷ lệ thuận với số năm đi học: lnYS = lnY0 + r.S (1.1) 10 Trong đó: • S: là số năm đi học • Y0: là thu nhập hàng năm của người không có đi học • YS: là thu nhập hàng năm của người có S năm đi học • r: tỉ suất chiết khấu Hệ số r của S biểu thị mức độ gia tăng thu nhập cũng chính là tỷ suất thu hồi nội bộ. Đây là dạng thô sơ nhất của hàm thu nhập cá nhân. Mô hình học vấn trở nên đầy đủ hơn khi xét đến cả yếu tố kinh nghiệm như là quá trình đào tạo sau khi thôi học. Diễn dịch toán học của Mincer đã qui đổi yếu tố kinh nghiệm về đơn vị thời gian, từ đó dẫn đến hàm thu nhập phụ thuộc vào cả số năm đi học và số năm kinh nghiệm, cho phép ước lượng các hệ số bằng phương pháp kinh tế lượng: ln(Yh) = α0 + α1.S + α2T + α3T2 + D + e (1.2) Trong đó: • Yh– Thu nhập bình quân một giờ của cá nhân làm công ăn lương có được trong 12 tháng qua; ln(Yh) là logarithm cơ số tự nhiên của Yh. • S – Số năm đi học của người lao động • T – Kinh nghiệm tiềm năng của người lao động • T2 – Bình phương kinh nghiệm tiềm năng của người lao động • D: các biến Dummy • e: sai số ước lượng 1.2.2. Phương pháp phân tích Oaxaca Có thể nói các nghiên cứu định tính về bất bình đẳng giới trong thu nhập theo cách tiếp cận của Oaxaca (1973) là một trong những phương pháp khá phổ biến. Theo Oaxaca, khoảng cách thu nhập giữa hai nhóm sẽ là hiệu số của mức lương trung bình của lao động nam và nữ: ∆ w = wM − wF (1.3) 11 Tuy nhiên, hiệu số này không thể được gọi là phân biệt đối xử vì có nhiều yếu tố tạo nên khác biệt tiền lương giữa lao động nam và nữ. Chẳng hạn nam giới có bằng cấp chuyên môn cao hơn phụ nữ, trong trường hợp này ta không thể khẳng định doanh nghiệp trả lương nam giới cao hơn phụ nữ do họ có bằng cấp cao hơn là phân biệt đối xử. Một định nghĩa chính xác hơn về phân biệt đối xử về thu nhập trên thị trường lao động phải so sánh mức lương của những người có cùng kỹ năng. Như vậy, để điều chỉnh khác biệt tiền lương cơ bản bằng khác biệt về kỹ năng giữa lao động nam và nữ sử dụng hàm hồi quy ước lượng thu nhập của nam, nữ theo những đặc điểm kinh tế xã hội. Để đơn giản, giả sử chỉ có một yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập, hàm hồi quy thu nhập của mỗi nhóm sẽ là: Hàm hồi quy thu nhập của nam: wM = αM + βMSM (1.4) Hàm hồi quy thu nhập của nữ: wF = αF + βFSF (1.5) SM, SF theo thứ tự là số năm đi học của nam và nữ. Giá trị αM và αF là mức thu nhập khởi điểm của mỗi nhóm (αM = αF nếu doanh nghiệp đánh giá kỹ năng lao động của nam và nữ có 0 năm học vấn là bằng nhau). Hệ số βM, βF cho biết thu nhập của lao động nam/nữ tăng bao nhiêu nếu anh/chị ta có thêm một năm học vấn (nếu doanh nghiệp đánh giá học vấn của nam như học vấn của lao động nữ, hai hệ số này sẽ bằng nhau βM = βF). Các nghiên cứu thực nghiệm về bất bình đẳng trong tiền lương của người lao động theo giới đi sâu vào phân tách sự khác biệt trong tiền lương so với mức lương công bằng trên thị trường. Mức công bằng về tiền lương β* của người lao động theo giới được xác định từ công thức 1.6 như sau: β * = Ωβ m + ( I − Ω ) β f (1.6) Trong đó: Ω, I lần lượt là ma trận trọng số và ma trận đơn vị Các phương pháp phân tách được phát triển bởi Neumark (1988), Oaxaca Ransom (1988), và Oaxaca - Ransom (1994) ngày càng được áp dụng phổ biến. Tuy nhiên, theo Sebaggala Richard (2007) phương pháp phân tách sự khác biệt của Neumark được xem là tốt nhất trong các phương pháp phân tách sự khác biệt tiền 12 lương của lao động theo giới. Phương pháp Neumark (1988) về tách biệt sự khác biệt trong tiền lương của lao động nam và nữ được trình bày như sau: ln W f − ln Wm = β * ( X m − X f ) +  ( β m − β * ) X m + ( β * − β f ) X f  (1.7) Theo cách tiếp cận này, sự khác biệt trong tiền lương có thể được giải thích qua 2 phần: (i) phần giải thích được, phụ thuộc vào các đặc điểm cụ thể của mỗi cá nhân. (ii) phần không giải thích được, trong đó bao gồm phần thiên vị về lương dành cho lao động nam khi mức lương nhận được cao hơn mức công bằng của thị trường ( β m − β * ) X m và phần phân biệt đối với lao động nữ khi mức lương thực tế nhận được thấp hơn mức công bằng của thị trường (β * − β f ) X f . Cotton (1988) đơn giản hóa cách tính β* của công thức (1.6) bằng cách sử dụng các trọng số là tỷ lệ số lao động nam và nữ trên tổng số lao động. Theo đó, mức công bằng của thị trường β* được tính như sau: β * = f m βˆ m + f f βˆ f (1.8) Trong đó: fm, ff là tỷ lệ số lao động nam và nữ trên tổng số lao động trong khảo sát βˆ m , βˆ f là các hệ số ước lượng từ phương trình hàm hồi quy thu nhập của lao động nam và nữ Tuy nhiên, với cách tính theo công thức 1.8 thì β* phụ thuộc vào tỷ lệ lao động nam nữ tham gia trên thị trường. Điều này không mang tính khách quan cao bởi thực tế bất bình đẳng trong thu nhập theo giới, một phần nào đó do việc tiếp cận thị trường việc làm của lao động nữ là khó khăn hơn lao động nam. Do đó, Cotton (1988) đề xuất chỉ số phân tách sự khác biệt trong tiền lương theo giới tính như sau: ∆ w = (α M − α F ) + X F ( β M − β F ) + β M ( X M − X F ) 1 4 4 4 4 2 4 4 4 4 3 1 4 4 2 4 43 A (1.9) B Trong những năm gần đây, công thức này được áp dụng ngày càng phổ biến trong việc nghiên cứu bất bình đẳng trong thu nhập theo giới. Công thức (1.9) đi sâu phân tích rõ sự khác biệt trong tiền lương của người lao động theo giới. Nó cho thấy sự khác biệt tiền lương này bao gồm hai phần. Phần A nói lên sự phân biệt do đối xử. 13 Phần A của công thức (1.9) sẽ cho kết quả dương nếu doanh nghiệp xem trọng học vấn của nam hơn nữ. Phần B nêu lên sự phân biệt do trình độ (thể hiện qua số năm đi học) của người lao động. Phần B của công thức (1.9) sẽ bằng không nếu nam và nữ có cùng số năm đi học, do vậy phần này sẽ chỉ phát sinh khi số năm đi học của nam và nữ không bằng nhau. Hạn chế của phương pháp phân tích Oaxaca đó là việc đo lường mức độ phân biệt đối xử giới trong thu nhập tùy thuộc vào việc có kiểm soát được mọi yếu tố khác biệt về kỹ năng giữa hai nhóm hay không. Nếu có những yếu tố bị bỏ sót trong mô hình hồi quy, chúng ta sẽ đo lường mức độ phân biệt đối xử thiếu chính xác. 1.2.3. Các nghiên cứu thực nghiệm trong thời gian gần đây Về các nghiên cứu thực nghiệm, phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm về bất bình đẳng giới thu nhập đều dựa trên hoặc phát triển từ mô hình cơ bản về chênh lệch thu nhập của nam và nữ lao động theo giờ của Oaxaca. Bảng 1.1: Các nghiên cứu thực nghiệm về bất bình đẳng giới theo thu nhập Tác giả Nội dung Kết quả Nguyễn Bất bình đẳng giới trong Thu nhập của phụ nữ bằng 92,4% thu nhập Huy Toàn thu nhập của người lao nam giới năm 2006 và khoảng cách thu (2010) động Việt Nam sử dụng bộ nhập là 0.140. Khoảng cách thu nhập giữa VHLSS 2006 2004, VHLSS lao động nam và lao động nữ ở Việt Nam năm 2006 có -22.5% là do khác biệt các đặc tính năng suất và 122.5% do phân biệt đối xử Yolanda Sử dụng phương pháp Thu nhập của lao động nữ ở Ý bằng 93,9% PenaBoquete Oaxaca để nghiên cứu về thu nhập của nam, phần trăm khoảng cách bất bình đẳng giới trong lương do khác biệt các đặc tính năng suất và cộng sự thu nhập của Ý và Tây Ban của người lao động là -57,90% và do sự (2007) Nha năm 2007. phân biệt đối xử là 157,9% Ngan Sử dụng mô hình Oaxaca Thu nhập của lao động nữ Trung Quốc ở Dinh (2002) để tính toán mức độ phân khu vực Đô thị bằng 94,2% thu nhập lao biệt đối xử trong nghiên động nam, phần trăm khoảng cách thu nhập cứu về Lao động nhập cư do khác biệt về đặc tính năng suất là -
- Xem thêm -