Tài liệu Luan ngu & khong tu -nhl - nguyen hien le

  • Số trang: 2784 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 170 |
  • Lượt tải: 0
nho-nhinhinh

Đã đăng 464 tài liệu

Mô tả:

Luận Ngữ & Khổng Tử -NHL - Nguyễn Hiến Lê
LUẬN NGỮ & KHỔNG TỬ Tác giả: Nguyễn Hiến Lê Đánh máy: Thuocvien, Goldfish Sửa lỗi chính tả: QuocSan, Goldfish Tạo eBook (25/11/11): QuocSan www.e-thuvien.com Đạo Khổng thực tế nhất, hợp tình hợp lí nhất, đầy đủ nhất, xét cả về việc tu thân, tề gia, trị quốc. Vậy mà tới nay lí tưởng của ông, nhân loại vẫn chưa theo được. Về tu thân, ba đức nhân, trí, dũng luyện được đủ tình cảm, trí tuệ và nghị lực của con người. (Trích Hồi Kí Nguyễn Hiến Lê) MỤC LỤC: Lời thưa Luận Ngữ Khổng Tử Nhà Giáo Họ Khổng Đọc thêm LỜI THƯA Do trong Lời nói đầu cuốn Khổng tử, cụ Nguyễn Hiến Lê bảo: “Trong tập này có nhiều chỗ dẫn chứng ở Luận ngữ, nhưng tôi chỉ ghi xuất xứ (thiên nào, bài nào) chứ không chép lại hết được, vì vậy độc giả cần có bản Luận ngữ tôi dịch và để tra cho tiện”. và do trong cuốn Luận ngữ và cuốn Khổng Tử, có nhiều chỗ cụ Nguyễn Hiến Lê bảo “coi cuốn Nhà giáo họ Khổng”, nên chúng tôi gom cả ba cuốn: Luận ngữ, Khổng Tử và Nhà giáo họ Khổng vào trong eBook này. Ngoài ra, trong phần Đọc thêm, chúng tôi còn chép một số bài trích trong các tác phẩm sau đây của cụ Nguyễn Hiến Lê: Đại cương triết học Trung Quốc (soạn chung với cụ Giản Chi), Sử ký của Tư Mã Thiên (soạn chung với cụ Giản Chi), Cổ văn Trung Quốc và Sử Trung Quốc. Goldfish Tháng 10/2011 LUẬN NGỮ Nguyễn Hiến Lê Chú dịch và giới thiệu Đánh máy: Goldfish Sửa lỗi chính tả: QuocSan MỤC LỤC: Vài lời thưa trước Giới thiệu – nguồn gốc và các bản Nguồn gốc Các bản Nội dung và cách trình bày Bản dịch của chúng tôi Các bảng phân loại Dịch và chú thích Thiên I – Học Nhi 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 Thiên II – Vi Chính 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24 Thiên III – Bát Dật 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26 Thiên IV – Lí Nhân 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26 Thiên V – Công Dã Tràng 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27 Thiên VI – Ung Dã 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28 Thiên VII – Thuật Nhi 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37 Thiên VIII – Thái Bá 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21 Thiên IX – Tử Hãn 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30 Thiên X – Hương Đảng 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18 Thiên XI – Tiên Tiến 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25 Thiên XII – Nhan Uyên 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24 Thiên XIII – Tử Lộ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30 Thiên XIV – Hiến Vấn 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45 Thiên XV – Vệ Linh Công 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41 Thiên XVI – Quí Thị 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14 Thiên XVII – Dương Hoá 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26 Thiên XVIII – Vi Tử 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 Thiên XIX – Tử Trương 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25 Thiên XX – Nghiêu Viết 1, 2, 3 Phụ lục Khổng Tử Đời sống Lối sống Nhân cách, tính tình Dạy học Cách dạy Khổng Tử tự xét mình Khổng Tử xét người xưa và người đương thời Người đương thời xét Khổng Tử Môn sinh Khổng Tử Học và tu dưỡng Các đức Xử thế Các hạng người Chính trị Tên người – tên đất – tên triều đại A, B, C, CH, D, Đ, G, H, K, L, M, N, NG, PH, Q, S, T, TH, TR, V, Y Những câu thường dẫn I, II, III, IV, V, VI, VII, VIII, IX, XI, XII, XIII, XIV, XV, XVI, XVII, XVIII, XIX, XX Vài lời thưa trước Trong bài Lời nói đầu cuốn Khổng tử, cụ Nguyễn Hiến Lê cho biết đôi điều về việc dịch lại bộ Luận ngữ như sau: “Tôi đã bỏ ra hơn hai tháng đọc lại những sách về Khổng tử mà tôi có hoặc mượn được (như của Lữ Chấn Vũ: Lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc; Hầu ngoại Lư: Tư tưởng cổ đại Trung Quốc; Quan Phong và Lâm Duật Thời: Bàn về Khổng Tử – đều do ngoài Bắc dịch); đọc lại các bản dịch và chú giải Luận ngữ của mình, và của Trung Hoa (như Luận ngữ độc bản của Thẩm Tri Phương và Tưởng Bá Tiềm, Luận ngữ dịch chú của Triệu Thông; lại bỏ ra hơn hai tháng nữa để dịch lại bộ Luận ngữ, vừa dịch vừa phân loại theo đề tài lập bảng tra tên người, tên đất.” Trong cuốn Luận ngữ này, cụ Nguyễn Hiến Lê có nói rõ là bài XVI.1 được dịch lại: trong chú thích bài đó, cụ viết: “Bài này chúng tôi dịch trong cuốn Nhà giáo họ Khổng (Cảo Thơm, 1972), nay dịch lại.” Ngoài bài XVI.1 đã dẫn trong cuốn Nhà giáo họ Khổng được cụ dịch lại, còn nhiều bài khác nữa đã được cụ dẫn trong một số tác phẩm khác cũng được cụ dịch lại mặc dầu trong cuốn Luận ngữ này cụ không nêu ra, ví dụ như (mỗi tác phẩm tôi chỉ chọn một bài): - Bài II.2: Trong bộ Đại cương văn học sử Trung Quốc, câu “Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: Tư vô tà”, cụ Nguyễn Hiến Lê dịch là: “Cả 300 thiên trong Kinh Thi, chỉ một câu có thể trùm được, là: không nghĩ bậy”. Trong cuốn Luận ngữ, cụ dịch lại, đặc biệt là ba chữ “tư vô tà”, như sau: “Kinh Thi có ba trăm thiên, một lời đủ bao quát tất cả, là tư tưởng thuần chính.” - Bài VI.8: Trong bộ Mặc học, câu “Vô chi, mệnh hĩ phù? Tư nhân dã nhi hữu tư tật dã!”, cụ dịch là: “Con [tức Bá Ngưu] sắp mất. Số mệnh đó thôi. Người như vậy mà bệnh như vậy!”; Trong cuốn Luận ngữ, cụ hiểu chữ “vô” theo một nghĩa khác, và cả câu đó được lại thành: “Vô lí! Do mệnh trời chăng? Con người như vậy mà bị bệnh đó!” - Bài VIII.3: Trong bộ Trang tử – Nam hoa kinh, câu “Nhi kim nhi hậu, ngô tri miễn phù, tiểu tử” (lời của Tăng tử), cụ dịch là: “Từ đây về sau ta mới biết chắc rằng ta giữ được (thân ta) khỏi các điều hư hỏng, tàn tật đó các trò”. Trong cuốn Luận ngữ, cụ dịch lại là: “Từ nay về sau, ta mới biết thoát khỏi hình lục, đó các trò” (cụ đã hiểu hai chữ “miễn phù” theo một nghĩa khác). - Bài XVIII.6: Trong bộ Đại cương triết học Trung Quốc, câu “Thao thao giả thiên hạ giai thị dã, nhi thuỳ dĩ dịch chi”, hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch là: “Ùa ùa như nước chảy một chiều, thiên hạ đều thế cả, ai mà theo mình để sửa đổi việc loạn ra trị”. Trong cuốn Luận ngữ, cụ Nguyễn Hiến Lê dịch lại (đặc biệt là hai chữ “thao thao”): “Khắp thiên hạ đâu đâu cũng là dòng nước (đục) cuồn cuộn, ông Khổng Khâu sẽ cùng với ai mà sửa thiên hạ?” Lý do khác biệt trong hai lần dịch bài VI.8 là do chữ trong nguyên văn. Trong bộ Mặc học, cụ Nguyễn Hiến Lê đọc chữ đó là “vong” và dịch theo nghĩa của chữ là “chết mất”; còn trong cuốn Luận ngữ cụ đọc là “vô” và dịch theo nghĩa của chữ “vô” là “không”[1]. Cũng có trường hợp đọc khác nhưng ý nghĩa cũng vậy như chữ trong bài XI.25, trong cuốn Cổ
- Xem thêm -