Tài liệu Lựa chọn, thiết kế và dùng bài tập theo hướng tiếp cận pisa trong dạy học chương 9, hóa học 12 luận văn ths. giáo dục học

  • Số trang: 129 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 278 |
  • Lượt tải: 1
tailieuonline

Đã đăng 39837 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGÔ THỊ THU GIANG LỰA CHỌN, THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG 9, HÓA HỌC 12 LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM HÓA HỌC HÀ NỘI – 2015 i ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGÔ THỊ THU GIANG LỰA CHỌN, THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG 9, HÓA HỌC 12 LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM HÓA HỌC Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC (BỘ MÔN HÓA HỌC) Mã số: 60.14.01.11 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Trung Ninh HÀ NỘI – 2015 ii Lời cảm ơn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Trần Trung Ninh, người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình để Tôi hoàn thành luận văn này. Trong quá trình thực hiện đề tài Tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của quý thầy cô trường Đại học giáo dục Hà Nội. Đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho Tôi suốt thời gian học tập tại trường. Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ đó. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và toàn thể các em học sinh trường THPT Đan Phượng, trường THPT Vạn Xuân - thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện cho Tôi điều tra, khảo sát, thực nghiệm để có dữ liệu viết luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ Tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn. Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2014 Người thực hiện NGÔ THỊ THU GIANG iii BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT Chữ viết tắt Giải nghĩa BTHH Bài tập hóa học ĐC Đối chứng ĐHQG Đại học quốc gia ĐHSP Đại học sư phạm ĐKTC Điều kiện tiêu chuẩn GV Giáo viên HS Học sinh LĐC Lớp đối chứng LTN Lớp thực nghiệm Nxb Nhà xuất bản THPT Trung học phổ thông TN Thực nghiệm TNSP Thực nghiệm sư phạm iv DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1. Bảng tổng hợp và so sánh mức độ hiểu biết cơ bản và vận dụng PISA của GV trong quá trình dạy học ở trường THPT Bảng 1.2. Mức độ biết, hiểu và sử dụng các dạng câu hỏi và BTHH theo tiếp cận PISA của GV ở trường THPT trong dạy học Hoá học Bảng 3.1. Số HS đạt điểm Xi trước khi thực nghiệm Bảng 3.2. Số HS đạt điểm Xi của trường THPT Đan Phượng Bảng 3.3. Tần suất (%) HS đạt điểm Xi của trường THPT Đan Phượng Bảng 3.4. Tỉ lệ (%) HS đạt điểm Xi của trường THPT Đan Phượng Bảng 3.5. Bảng tổng hợp phân loại kết quả bài kiểm tra lần 1 của HS trường THPT Đan Phượng Bảng 3.6. Bảng tổng hợp phân loại kết quả bài kiểm tra lần 1 của HS trường THPT Đan Phượng Bảng 3.7. Số HS đạt điểm Xi của trường THPT Vạn Xuân Bảng 3.8. Tần suất (%) HS đạt điểm Xi của trường THPT Vạn Xuân Bảng 3.9. Tỉ lệ (%) HS đạt điểm Xi của trường THPT Vạn Xuân Bảng 3.10. Bảng tổng hợp phân loại kết quả bài kiểm tra lần 1 của HS trường THPT Vạn Xuân Bảng 3.11. Bảng tổng hợp phân loại kết quả bài kiểm tra lần 1 của HS trường THPT Vạn Xuân Bảng 3.12. Tổng hợp các tham số đặc trưng Bảng 3.13. Bảng tổng hợp thăm dò ý kiến HS sau thực nghiệm Bảng 3.14. Bảng tổng hợp thăm dò ý kiến GV sau thực nghiệm v DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1. Đường lũy tích điểm kiểm tra – Lần 1 – trường THPT Đan Phượng Hình 3.2. Đường lũy tích điểm kiểm tra – Lần 2 – trường THPT Đan Phượng Hình 3.3. Đồ thị biểu diễn kết quả bài kiểm tra của HS – Lần 1– trường THPT Đan Phượng Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn kết quả bài kiểm tra của HS – Lần 2– trường THPT Đan Phượng Hình 3.5. Đường lũy tích điểm kiểm tra – Lần 1 – trường THPT Vạn Xuân Hình 3.6. Đường lũy tích điểm kiểm tra – Lần 2 – trường THPT Vạn Xuân Hình 3.7. Đồ thị biểu diễn kết quả bài kiểm tra của HS – Lần 1– trường THPT Vạn Xuân Hình 3.8. Đồ thị biểu diễn kết quả bài kiểm tra của HS – Lần 2– trường THPT Vạn Xuân vi MỤC LỤC Lời cảm ơn i Danh mục các ký hiệu viết tắt ii Danh mục các bảng iii Danh mục các hình iv trang 1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2 3. Mục đích nghiên cứu 3 4. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 5. Phạm vi nghiên cứu 4 6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4 7. Giả thuyết khoa học 4 8. Phương pháp nghiên cứu 5 9. Đóng góp mới của đề tài 6 10. Cấu trúc của luận văn 6 Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận Pisa trong dạy học Hóa học chương 9 lớp 12 7 1.1. Đổi mới phương pháp dạy học 7 1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới 7 1.1.2. Đổi mới phương pháp dạy học ở Việt Nam 7 1.2. Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông hiện nay 8 1.2.1. Đổi mới mục tiêu 8 1.2.2. Đổi mới hoạt động của giáo viên 9 1.2.3. Đổi mới hoạt động học tập của học sinh 9 1.2.4. Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học và sử dụng phương tiện dạy học 9 vii 1.2.5. Đổi mới việc kiểm tra – đánh giá 1.3. Bài tập trong dạy học Hóa học ở trường THPT 10 10 1.3.1. Ý nghĩa của bài tập hóa học 10 1.3.2. Một số định hướng trong việc xây dựng bài tập hóa học mới 11 1.4. Tìm hiểu về chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA 12 1.4.1. Đặc điểm của PISA 12 1.4.2. Mục tiêu đánh giá theo PISA 13 1.4.3. Nội dung đánh giá theo PISA 16 1.4.4. Cách đánh giá trong bài tập PISA 17 1.4.5. Đối tượng đánh giá 18 1.5. Ý nghĩa của việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học Hoá học ở trường THPT 18 1.6. Thực trạng mức độ biết, hiểu và sử dụng câu hỏi và bài tập hoá học theo hướng tiếp cận PISA của giáo viên ở trường THPT hiện nay 18 Tiểu kết chương 1 21 Chương 2: Lựa chọn, thiết kế và sử dụng bài tập theo hướng tiếp cận Pisa trong dạy học Hóa học chương 9 lớp 12 22 2.1. Phân tích chương trình hóa học 12 22 2.1.1. Mục tiêu cơ bản của chương trình hóa học lớp 12 22 2.1.2. Cấu trúc nội dung chương trình 23 2.2. Cơ sở, nguyên tắc và quy trình xây dựng bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học chương 9 lớp 12 26 2.2.1. Cơ sở và nguyên tắc 26 2.2.2. Quy trình xây dựng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA 28 2.3. Hệ thống bài tập hóa học chương 9 lớp 12 theo hướng tiếp cận PISA 31 2.4. Sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học chương 9 lớp 12 83 2.4.1. Sử dụng khi dạy bài mới 83 2.4.2. Sử dụng khi luyện tập, ôn tập 84 viii 2.4.3. Sử dụng khi tự học ở nhà 84 2.4.4. Sử dụng khi kiểm tra, đánh giá 85 Tiểu kết chương 2 85 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 86 3.1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm 86 3.1.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm 86 3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 86 3.2. Thời gian, đối tượng thực nghiệm 86 3.2.1. Thời gian thực nghiệm 86 3.2.2. Đối tượng thực nghiệm 86 3.3. Quá trình tiến hành thực nghiệm 86 3.3.1. Lựa chọn đối tượng thực nghiệm 87 3.3.2. Kiểm tra mẫu trước thực nghiệm 87 3.3.3. Lựa chọn giáo viên thực nghiệm 87 3.3.4. Tiến hành thực nghiệm 87 3.3.5. Thực hiện chương trình thực nghiệm 88 3.4. Kết quả thực nghiệm và xử lý kết quả thực nghiệm 88 3.4.1. Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm 88 3.4.2. Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm 88 3.4.3. Xử lí kết quả 94 3.4.4. Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 96 Tiểu kết chương 3 98 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 PHỤLỤC 104 ix MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới. Thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực và về khoa học – công nghệ. Xu thế chung của thế giới khi bước vào thế kỉ XXI là các nước tiến hành đổi mới mạnh mẽ hay cải cách giáo dục. Vì vậy, đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định “đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” và “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân”.[2, tr. 15] Năm 2012, giáo dục Việt Nam có một dấu ấn quan trọng khi lần đầu tiên nước ta có khoảng 5.100 HS ở độ tuổi 15 của 162 trường thuộc 59 tỉnh, thành phố, cùng với hơn 65 quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới tham gia vào cuộc khảo sát chính thức của PISA 2012 - (viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Program for International Student Assessment”, được dịch là “Chương trình đánh giá HS quốc tế” do tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (“Organization for Economic Co-operation and Development”, thường được viết tắt là OECD) khởi xướng và triển khai từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 4 năm 2012. Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cho hay, việc tham gia PISA được cho là để có được cái nhìn đúng đắn về những mặt mạnh, yếu của hệ thống giáo dục trong nước và rút ra được những bài học cải tổ cần thiết. Chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA có quy mô toàn cầu, được tổ chức định kì 3 năm một lần, nhằm đánh giá kiến thức và kĩ năng của HS ở tuổi 15. Mục tiêu của chương trình PISA nhằm đánh giá khi đến độ tuổi kết thúc phần giáo dục bắt buộc, HS đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này ở mức độ nào. Nội dung đánh giá của PISA hoàn toàn được xác định dựa trên các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho cuộc sống tương lai, không dựa vào nội dung các chương trình giáo dục quốc gia. Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các chương trình giáo dục cụ thể, PISA xem xét khả năng của HS ứng dụng các kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực chuyên 1 môn cơ bản, khả năng phân tích, lý giải và truyền đạt một cách có hiệu quả khi họ xem xét, diễn giải và giải quyết các vấn đề. [3, tr. 5], [6, tr. 8-10], [6, tr. 21], [10, tr. 17-21] Ông Đỗ Tiến Đạt, thành viên nhóm PISA, Viện khoa học Giáo dục Việt Nam cho rằng: “ Kiến thức đòi hỏi ở người học trong các đề trắc nghiệm ở PISA không hoàn toàn xa lạ với học sinh Việt Nam. Tuy nhiên, cách thức ra đề kiểm tra và đánh giá của PISA có những điểm khác với cách làm truyền thống, vì thế học sinh Việt Nam không dễ đạt kết quả cao”. Lời nhận xét này đã nói lên thực tế dạy học hiện nay ở nước ta. Ví dụ, trong dạy học môn Hóa học thì những ứng dụng của Hóa học vào thực tiễn chưa được quan tâm một cách đúng mức và thường xuyên. Vì nhiều lí do khác nhau, giáo viên hóa học thường tập trung vào những vấn đề, những bài tập hóa học nặng về tính toán mà chưa chú ý nhiều đến bản chất hóa học, những nội dung liên môn và thực tế. Vì vậy mà việc rèn luyện cho HS năng lực vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các bài toán có nội dung thực tế còn hạn chế. [8, tr. 12-16] Là người trực tiếp giảng dạy bộ môn Hóa học ở trường THPT, Tôi nhận thấy, việc sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học môn Hóa học ở trường THPT là rất quan trọng, mang tính thiết thực cao. Tuy nhiên, thực tế hiện nay các bài tập hóa học ở trường THPT được xây dựng theo hướng này còn rất ít. Với những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Lựa chọn, thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học chương 9, Hóa học 12”. 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, sách, giáo trình, tài liệu, bài viết… liên quan đến việc việc xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học hóa học như: - TS. Cao Cự Giác. “Thiết kế và sử dụng bài tập thực nghiệm trong dạy và học hóa học”. Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009. - PGS.TS Nguyễn Xuân Trường, “Sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông”. Nxb ĐH Sư Phạm, 2009...... - PGS.TS.Trần Trung Ninh và các cộng sự, “18 chủ đề trọng tâm thường gặp và phương pháp giải đề thi đại học – cao đẳng môn Hóa học”, NXB Hà nội, 2012 Các công trình và các tài liệu nghiên cứu liên quan đến PISA như: - Luận văn thạc sĩ: “Tiếp cận đánh giá PISA bằng phương pháp giải quyết vấn đề 2 qua dạy học các bài toán thực tiễn phần khối đa diện và khối tròn xoay (hình học không gian lớp 12 – Ban cơ bản” của Tăng Hồng Dương – lớp Cao học lý luận và phương pháp dạy học môn Toán K5 – Trường đại học Giáo dục, đại học Quốc gia Hà Nội. - Luận văn thạc sĩ: “Dạy học phát triển năng lực cho HS trung học phổ thông với các bài toán tiếp cận chương trình HS quốc tế (PISA)” của Nguyễn Quốc Trịnh – lớp Cao học lý luận và phương pháp dạy học môn Toán K5 – Trường đại học Giáo dục, đại học Quốc gia Hà Nội. - “Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA) (Mục đích, tiến trình thực hiện, các kết quả chính” của Nguyễn Thị Phương Hoa trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội số 25/2000. - “Góp phần tìm hiểu về chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA)” của Nguyễn Ngọc Sơn trên Tập san Giáo dục - Đào tạo số 3/2010 - “Chương trình đánh giá HS quốc tế PISA” của Đỗ Tiến Đạt trên Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về giáo dục Toán học phổ thông năm 2011. - Khai thác tiêu chuẩn của PISA nhằm rèn luyện khả năng toán học hóa (“Rèn luyện HS trung học phổ thông khả năng toán học hóa theo tiêu chuẩn của PISA” của Nguyễn Sơn Hà trên Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội số 4/2010… Về Hóa học đã có các luận văn: “Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9”- Trần Thị Nguyệt Minh – Trường ĐHGD – Đại học Quốc Gia Hà nội, năm 2012. Luận văn: “Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập hóa học 10 phần phi kim tiếp cận PISA theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh THPT”- Hoàng Thị Phương – Trường ĐHSP Hà Nội, năm 2013. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về việc thiết kế và sử dụng các bài tập hóa học theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học Hóa học chương 9 lớp 12. 3. Mục đích nghiên cứu 3 Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học chương 9 hoá học lớp 12 nhằm làm cho việc dạy học Hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập môn Hóa học, đồng thời phát triển năng lực vận dụng kiến thức của HS từ đó nâng cao hiệu quả dạy học Hóa học ở trường THPT. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Nghiên cứu lí luận - Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc sử dụng câu hỏi và BTHH theo tiếp cận PISA trong dạy học hoá học ở trường THPT. 4.2. Nghiên cứu thực tiễn - Tiến hành điều tra, khảo sát, lấy ý kiến của GV về mức độ biết, hiểu và vận dụng Pisa của GV ở trường THPT. - Xây dựng hệ thống bài tập chương 9 hoá học 12 theo tiếp cận PISA. - Đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập đã xây dựng trong dạy học. - Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá chất lượng của hệ thống câu hỏi và bài tập đã đề xuất trong luận văn. - Nghiên cứu và đánh giá việc sử dụng hệ thống bài tập hoá học chương 9 lớp 12 theo tiếp cận Pisa trong dạy học. 5. Phạm vi nghiên cứu 5.1. Nội dung - Lựa chọn, thiết kế và sử dụng bài tập hóa học chương 9 lớp 12 theo hướng tiếp cận PISA (Gồm: Bài 43: Hóa học và vấn đề phát triển kinh tế ; Bài 44: Hóa học và vấn đề xã hội; Bài 45: Hóa học và vấn đề môi trường) 5.2. Mẫu khảo sát - Khối lớp 12 trường THPT Đan Phượng, thành phố Hà Nội. - Khối lớp 12 trường THPT Vạn Xuân, thành phố Hà Nội. 6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6. 1. Khách thể nghiên cứu - Quá trình dạy học Hóa học ở trường phổ thông Việt Nam. 6. 2. Đối tượng nghiên cứu 4 - Quá trình sử dụng bài tập Hóa học trong dạy và học môn Hóa học chương 9 lớp 12 đã và đang tiến hành ở trường THPT. - Thiết kế, đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học Hóa học chương 9 lớp 12. 7. Giả thuyết khoa học Nếu thiết kế và sử dụng một hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học Hóa học chương 9 lớp 12 thì sẽ làm cho việc dạy học Hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập môn Hóa học, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở trường THPT. 8. Phương pháp nghiên cứu 8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận - Nghiên cứu các vấn đề lý luận dạy học, chủ trương, chính sách giáo dục của Đảng và nhà nước có liên quan đến đề tài. - Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến việc sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trường THPT. - Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến việc thiết kế bài tập mới trong dạy học Hóa học ở trường THPT. - Nghiên cứu các tài liệu về chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA - Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình hóa học lớp 12. 8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 8.2.1. Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát các hoạt động dạy và học có sử dụng bài tập Hóa học tiếp cận PISA tại trường THPT nhằm phát hiện vấn đề nghiên cứu. 8.2.2. Phương pháp đàm thoại: Trao đổi với GV và HS để tìm hiểu ý kiến, quan niệm, thái độ ... của họ về việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy và học ở trường THPT, cũng như những thuận lợi và khó khăn mà GV và HS đã gặp phải. 8.2.3. Phương pháp điều tra: Điều tra thực trạng về mức độ biết, hiểu và vận dụng PISA của GV trong quá trình dạy học môn Hoá học lớp 12. 5 8.2.4. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các giảng viên và GV có nhiều kinh nghiệm về việc sử dụng bài tập trong giảng dạy hóa học trước kia và hiện nay. 8.2.5. Phương pháp thực nghiệm: Dựa vào giả thuyết khoa học đã đặt ra, tiến hành thực nghiệm ở một số trường THPT để xem xét hiệu quả và tính khả thi của hệ thống bài tập theo cách tiếp cận của PISA trong dạy học Hóa học lớp 12 đã được xây dựng. 8.3. Phương pháp xử lý thống kê toán học Phương pháp này được dùng để phân tích và xử lí các số liệu thu được qua điều tra và thực nghiệm. 9. Đóng góp mới của đề tài Xây dựng hệ thống bài tập hóa học chương 9 lớp 12 theo hướng tiếp cận PISA (Gồm: Bài 43: Hóa học và vấn đề phát triển kinh tế ; Bài 44: Hóa học và vấn đề xã hội; Bài 45: Hóa học và vấn đề môi trường). Bao gồm 23 chủ đề với 87 bài tập Đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập hóa học chương 9 lớp 12 theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học Hóa học lớp 12 để làm cho việc dạy học Hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở trường THPT. 10. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học Hóa học phần chương 9 lớp 12. Chương 2: Thiết kế và đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học Hóa học chương 9 lớp 12. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 6 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC CHƯƠNG 9 LỚP 12 1.1. Đổi mới phương pháp dạy học 1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một quá trình mà trong đó sử dụng năng lực, kinh nghiệm, trí tuệ, bản lĩnh của con người để tạo ra và sử dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật, công nghệ hiện đại kết hợp với giá trị truyền thống của dân tộc để đổi mới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm hướng tới một xã hội văn minh và hiện đại. Chính vì vậy mà công nghiệp hóa, hiện đại hoá đòi hỏi phải có một lực lượng nhân lực có chất lượng cao. [15] Sự phát triển nguồn nhân lực do tích hợp nhiều nhân tố: giáo dục và đào tạo; sức khoẻ và dinh dưỡng; môi trường việc làm và cả sự giải phóng con người. Trong đó, giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng nhất. Bởi vì, giáo dục đào tạo là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn nhân lực, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Vì vậy, các quốc gia từ những nước đang phát triển đến những nước phát triển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải đổi mới giáo dục để có thể đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước. Như vậy, ta thấy đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Bối cảnh trên tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục, nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học - công nghệ và ứng dụng; nhà giáo thay vì truyền đạt tri thức chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận thông tin một cách hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp. Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem như là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho phát triển. 7 1.1.2. Đổi mới phương pháp dạy học ở Việt Nam Đánh giá thực trạng giáo dục Việt Nam, tài liệu chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 đã khẳng định: “Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới. Chương trình giáo dục còn mang nặng tính hàn lâm, kinh viện, nặng về thi cử, chưa chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực thực hành và hướng nghiệp; chưa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội cũng như nhu cầu của người học; chưa gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học - công nghệ và triển khai ứng dụng”. Vì vậy, chỉ có đổi mới căn bản phương pháp dạy học chúng ta mới có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo lớp người năng động, sáng tạo có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức. Xác định đổi mới phương pháp dạy học là một nhiệm vụ quan trọng nên trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những quan điểm và đường lối chỉ đạo quan trọng trong việc phát triển và đổi mới giáo dục. Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của Nhà nước về đổi mới giáo dục nói chung và trung học phổ thông nói riêng được thể hiện trong nhiều văn bản như: CT30/1998/CT-TTg về chủ trương phân ban; Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông; Chỉ thị 14/2001/CT-TTg về thực hiện nghị quyết 40; Luật giáo dục( sửa đổi năm 2005)[1] 1.2. Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông hiện nay 1.2.1. Đổi mới mục tiêu Đảng và nhà nước ta đã xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ Quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả. Xác định nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệm, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt, có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và 8 bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. 1.2.2. Đổi mới hoạt động của GV Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm trình độ HS, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương. Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho HS được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội kiến thức; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của HS; tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho HS; giúp các em phát triển tối đa năng lực, tiềm năng. Thiết kế và hướng dẫn HS thực hiện các dạng câu hỏi, bài tập phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị, đồ dùng học tập; tổ chức có hiệu quả các giờ thực hành; hướng dẫn HS có thói quen vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; nội dung, tính chất của bài học; đặc điểm và trình độ HS; thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương. 1.2.3. Đổi mới hoạt động học tập của HS Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn. Tích cực sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học; thực hành thí nghiệm; thực hành vận dụng kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn; xây dựng và thực hiện các kế hoạch học tập phù hợp với khả năng và điều kiện. Mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân; tích cực thảo luận, tranh luận, đặt câu hỏi cho bản thân, cho thầy, cho bạn. Biết tự đánh giá và đánh giá các ý kiến, quan điểm, các sản phẩm hoạt động học tập của bản thân và bạn bè.[14] 1.2.4. Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học và sử dụng phương tiện dạy học. 9 Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, sử dụng tốt các phương pháp dạy học đặc trưng cho bộ môn: phân tích; đọc - hiểu; ... Tổ chức các hoạt động tương tác, tổ chức hợp lí cho HS làm việc cá nhân, theo nhóm. Cần chú trọng đến việc sử dụng có hiệu quả thiết bị dạy học được trang bị hoặc do các GV tự làm, đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng của công nghệ thông tin. 1.2.5. Đổi mới việc kiểm tra - đánh giá Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học, đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học, đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội. Thực hiện đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo ở cấp độ quốc gia, địa phương, từng cơ sở giáo dục - đào tạo và đánh giá theo chương trình của quốc tế để làm căn cứ đề xuất chính sách, giải pháp cải thiện chất lượng giáo dục - đào tạo. Hoàn thiện hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục. Định kỳ kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục, đào tạo và các chương trình đào tạo, công khai kết quả kiểm định. Chú trọng kiểm tra, đánh giá, kiểm soát chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở ngoài công lập, các cơ sở có yếu tố nước ngoài. Xây dựng phương thức kiểm tra, đánh giá phù hợp với các loại hình giáo dục cộng đồng. 1.3. Bài tập trong dạy học Hóa học ở trường THPT 1.3.1. Ý nghĩa của bài tập hóa học Trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông, bài tập hoá học giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo. Bài tập hoá học vừa là mục đích, vừa là nội dung lại vừa là phương pháp dạy học hiệu quả, nó không chỉ cung cấp cho HS kiến thức, con đường giành lấy kiến thức mà còn mang lại niềm vui của quá trình khám phá, tìm tòi, phát hiện của việc tìm ra đáp số. Đặc biệt, bài tập hoá học còn mang lại cho người học một trạng thái hưng phấn, hứng thú nhận thức. Bài tập hoá học có ý nghĩa và tác dụng to lớn: 10 + Làm chính xác những khái niệm hoá học; củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn; chỉ khi vận dụng kiến thức vào giải bài tập học sinh mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc. + Giúp HS ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực. + Rèn luyện các kĩ năng hoá học như cân bằng phương trình hóa học, tính theo công thức và phương trình, … + Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động sản xuất và bảo vệ môi trường. + Rèn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy. + Phát triển các năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát, độc lập, thông minh và sáng tạo. + Là phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức và kĩ năng của HS. + Giáo dục đạo đức, tính chính xác, kiên nhẫn, trung, lòng say mê khoa học. 1.3.2. Một số định hướng trong việc xây dựng bài tập hóa học mới Xu hướng phát triển của bài tập hoá học hiện nay hướng đến rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hoá học cho HS ở các mặt: lí thuyết, thực hành và ứng dụng. Những bài tập có tính chất học thuộc trong các bài tập lí thuyết sẽ giảm dần mà được thay bằng các bài tập đòi hỏi sự tư duy, tìm tòi. - Nội dung kiến thức hoá học phải gắn liền với thực tiễn đời sống, xã hội - Nội dung kiến thức phải gắn với thực hành, thí nghiệm hoá học và tăng cường thí nghiệm hoá học trong nội dung học tập. - Bài tập hoá học phải đa dạng, phải có nội dung hoá học thiết thực trên cơ sở của định hướng xây dựng chương trình hoá học Phổ thông thì xu hướng phát triển chung của bài tập hoá học trong giai đoạn hiện nay cần đảm bảo các yêu cầu: + Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng nề về tính toán mà cần chú ý tập trung vào rèn luyện và phát triển các năng lực nhận thức, tư duy hoá học và hành động cho HS. Kiến thức mới hoặc kiểm nghiệm các dự đoán khoa học. + Bài tập hoá học cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức hoá học và các ứng dụng của hoá học trong thực tiễn. Thông qua các dạng bài tập này làm cho HS thấy được việc học hoá học thực sự có ý nghĩa, những kiến thức hoá học rất gần gũi thiết thực với 11
- Xem thêm -