Tài liệu Lợi nhuận và một số biện pháp cơ bản góp phần tăng lợi nhuận ở công ty tnhh sx và tm dệt may bình minh

  • Số trang: 93 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 37 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong chuyên đề là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập. Tác giả chuyên đề Đỗ Văn Tư Đỗ Văn Tư 1 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp Lời nói đầu Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành thành phần phát triển phong phú và đa dạng theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử, nền kinh tế nø¬c ta khẳng định sâu sắc một nền kinh tế mới phù hợp với quy luật phát triển của xã hội loài người. Các doanh nghiệp phải được thực sự bình đẳng trên thị trường, cạnh tranh lành mạnh, vai trò của Nhà nước cần được quán triệt trên một góc độ nhất định, các doanh nghiªp phải có quyền tự chủ về mọi mặt, tự chịu trách nhiệm về đầu ra cũng như đầu vào...và mục đích cuối cùng phải là lợi nhuận. Lợi nhuận được coi là đòn bảy kinh tế hữu hiệu nhất như hiện nay, kích thích mạnh mẽ mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp , nó cho phép các doanh nghiÖo tồn tại và tự khẳng định mình trên thị trường và góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. ý thức được mọi vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường cũng nh vai trò của lợi nhuận, các chủ thể doanh nghiệp đã thực sự về vấn đề này bằng cách thực hiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế mới và trong môi trường mới. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có được những hướng đi và biện pháp tăng lợi nhuận hợp lý. Từ đó thực tế đã xảy ra nhiều doanh nghiệp phá sản, nên các doanh nghiệp phải nắm được lý luận cơ bản về lợi nhuận. Để củng cố thêm kiến thức lý luận và thực tế, em thực sự quan tâm đến vấn đề lợi nhuận ở các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trßng để có điều kiện áp dụng sơ sở lý luận cũng như các kiến thức được nghiên cứu và học tập trong “ Học Viện Tài Chính “vào quá trình sản xuất kinh doanh. Đề tài: Lợi nhuận và một số biện pháp cơ bản góp phần tăng lợi nhuận ở Công ty TNHH SX và TM Dệt May Bình Minh “ là một đề tài có tính chất Đỗ Văn Tư 2 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp thiết thực và cấp bách, chính vì vậy trong thời gian thùc tập tại Công ty TNHH SX và TM Dệt May Bình Minh, em đã quyết định chọn đề tài này. Nội dung chuyên đề gồm 3 chương: Chương 1 - Lợi nhuận và sự cần thiết phải phấn đấu tăng lợi nhu©n của doanh nghiệp trong điều kiện kinh doanh hiện nay. Chương 2 - Tình hình phấn đấu tăng lợi nhuận của Công ty. Chương 3 - Một số biện pháp chủ yếu nhằm góp phần tăng lợi nhuận ở Công ty TNHH SX và TM Dệt May Bình Minh . Do kiến thức cũng nh kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế nên bài viết còn nhiều thiếu sót mong thầy cô giáo và các bạn thông cảm. Nhân đây em xin được cảm ơn sự giúp đỡ của ban giám đốc và nhân viên các phòng ban của Công ty TNHH SX & TM Dệt may Bình Minh trong quá trình viết và hoàn thiện chuyên đề này. CHƯƠNG 1 LợI NHUậN và sự cần thiết phảI phấn đấu tăng lợi nhu©n CủA DOANH NGHIệP trong điều kiện kinh doanh Đỗ Văn Tư 3 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp hiện nay 1. Lợi nhuận của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 1.1 Lợi nhuận và tư suất lợi nhuận của doanh nghiệp. 1.1.1. Khái niệm. Trong nền kinh tế thị trường lợi nhuận luôn là mục tiêu phấn đấu của các doanh nghiệp. Theo điều 4 luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng,có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Như đã nêu ở phần đầu mục đích của việc thực hiện các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất là lợi nhuận. Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh. Nó là kết quả tài chính cuối cùng sau một quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ góc độ của doanh nghiệp, có thể thấy rằng lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động của doanh nghiệp để lại. Thu nhập của doanh nghiệp có thể từ nhiều hoạt động khác nhau, bởi lẽ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường rất năng động và linh hoạt, mọi doanh nghiệp có thể đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau, kéo theo lợi nhuận thu được cũng đa dạng theo phương thức đầu tư của doanh nghiệp: lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh; lợi nhuận thu được từ hoạt động tài chính; lợi nhuận bất thường. 1.1.2. Nội dung lợi nhuận 1.1.2.1. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động kinh doanh trừ đi chi phí của hoạt động kinh doanh (bao gồm giá Đỗ Văn Tư 4 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ và thuế phải nộp theo quy định (trị thuế thu nhập của doanh nghiệp )). Các cách xác định lợi nhuận hoạt động kinh doanh nh sau: Lợi nhuận hoạt động kinh doanh =Doanh thu thuần - GVHB - CPBH -CPQLDN. Trong đó doanh thu thuần được xác định: Doanh thu thuần = Tổng DT bán hàng - Các khoản giảm giá hàng bán - Trị giá hàng bán bị trả lại - Thuế gián thu. Trong đó: - Trị giá vốn hàng bán phản ánh trị gÝa vốn của thành phẩm, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ xuất bán trong kỳ bao gồm các khoản chi phí: nguyên vật liệu trực tiếp , nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. - Chi phí bán hàng:là những chi phí thực tế phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá dịch vụ bao gồm: Chi phí bảo quản, đóng gói, vận chuyển, quảng cáo, bảo hành sản phẩm. - Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các chi phí liên quan đến quản lý chung của doanh nghiệp bao gồm chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính, chi phí khấu hao tài sản cố định chung cho toàn doanh nghiệp… - Doanh thu thuần là doanh thu bán hàng trừ đi các khoản giảm giá hàng bán, trị giá hàng bán bị trả lại và thuế gÝan thu. - Lợi nhuận gộp của doanh nghiệp = Doanh thu thuần - GVHB. - Lợi nhuận gộp sau khi trừ đi chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng gọi là lợi nhuận trước thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 1.1.2. 2. Lợi nhuận của các hoạt động khác Đỗ Văn Tư 5 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp Là khoản chênh giữa doanh thu và chi phí của các hoạt động khác và thuế phải nộp theo quy định (trị thuế thu nhập doanh nghiệp ), các hoạt động khác là các hoạt động tài chính và hoạt động bất thường. 1.1.2.2.1. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính là khoản chênh lệch giữa thu nhập hoạt động tài chính với chi phí hoạt động tài chính. Lợi nhuận hoạt động tài chính = Doanh thu hoạt động tài chính - Chi phí hoạt động tài chính - Thuế gián thu (nếu có). Thu nhập hoạt động tài chính gồm: thu nhập từ hoạt động than gia góp vốn liên doanh, thu nhập từ hoạt động đầu tư mua bán chứng khoán ngắn và dài hạn, thu nhập về tài sản cố định. Chi phí hoạt động tài chính phản ánh những khoản chi phí và các khoản lỗ liên quan đến các hoạt động về vốn nh chi phí liên doanh, chi phí liên quan đến vay vốn… 1.1.2.2.2. Lợi nhuận bất thường. Lợi nhuận bất thường là khoản chênh lệch giữa thu nhập bất thường và chi phí bất thường. Lợi nhuận bất thường = DT bất thường - CP bất thường - Thuế gián thu (nếu có). Thu nhập bất thường của doanh nghiệp là những khoản doanh nghiệp thu được không thường xuyên như thu về nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, thu về phạt vi phạm hợp đồng kinh tế, các khoản nợ khó đòi đã xử lý, xổ số, khoản nợ không xác định được chủ. Chi phí bất thường là những khoản chi phí liên quan đến hoạt động bất thường nh: chi phí thanh lý nhượng bán tài sản cố định… Đỗ Văn Tư 6 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp Sau khi đã xác định được lợi nhuận của các hoạt động tiến hành tổng hợp lại được lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp nh sau: Lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp bằng tổng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận hoạt động bất thường. Lợi nhuận sau thuế thu nhập được xác định nh sau: Lợi nhuận sau thuế thu nhập = Lợi nhuận trước thuế thu nhập x (1-thuế suất thuế thu nhập ) Ta có thể tóm tắt quy trình hình thành lợi nhuận qua sơ đồ sau: Doanh thu từ hoạt động kinh Doanh thu từ hoạt động khác doanh Chi phí Giảm giá hàng bán Hàng bán bị trả lại Doanh thu thuần Thuế gián thu Đỗ Văn Tư Lãi hoạt động hoạt khác động khác 7 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp Lợi nhuận gộp Giá vốn hoạt động sản Lợi nhuận hoạt hàng bán xuất kinh động Tài chính doanh Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp Chi phí quản lý doanhnghiÖp, Lợi nhuận trước chi phí bán thuế hàng Thuế thu nhập Tổng lợi nhuận doanh nghiệp sau thuế Lợi nhuận hoạt động khác Lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào doanh nghiệp đó có tạo được lợi nhuận hay không. Vì thế lợi nhuận được coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng đồng thời còn là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, việc thực hiện được chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp được vững chắc. Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nói lên kết quả toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu doanh nghiệp phấn đấu cải tiến kỹ thuật hoạt động sản xuất kinh doanh làm tăng doanh thu và hạ giá thành sản phẩm thì lợi nhuận sẽ tăng lên một cách trực tiếp. Ngược lại, nếu chi phí cao, giá thành sản phẩm tăng thì lợi nhuận sẽ trực tiếp giảm. Vì vậy, lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đỗ Văn Tư 8 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp Lợi nhuận còn là nguồn tích luỹ cơ bản để mở rộng tái sản xuất xã hội, sự tham gia đóng góp của các doanh nghiệp vào ngân sách Nhà nước được phản ánh ở số thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp. Nh vậy, lợi nhuận là nguồn để mở rộng tái sản xuất và là kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng không thể coi lợi nhuận là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh, và cũng không thể chỉ dùng nó để so sánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khác nhau, bởi vì: - Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, nó chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, có những nhân tố thuộc về chủ quan, có những nhân tố thuộc về khách quan và có sự bù trừ lẫn nhau. - Do điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển, thị trường tiêu thụ thường làm cho lợi nhuận doanh nghiệp không giống nhau. - Các doanh nghiệp cùng loại nếu quy mô sản xuất khác nhau thì lợi nhuận thu được cũng khác nhau, ở những doanh nghiệp lớn nếu công tác quản lý kém nhưng số lợi nhuận thu được vẫn có thể lớn hơn những doanh nghiệp có quy mô nhỏ có công tác quản lý tốt hơn. Cho nên để đánh gÝa đúng đắn chất lượng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối còn phải dùng chỉ tiêu tương đối là tư suất lợi nhuận (còn gọi là mức doanh lợi). 1.1.3. Tư suất lợi nhuận của doanh nghiệp. Hiện nay có nhiều cách tiếp cận và xác định tư suất lợi nhuận, mỗi cách có nội dung kinh tế khác nhau, sau đây là một số cách tính tư suất lợi nhuận: 1.1.3.1. Tư suất lợi nhuận vốn: Đỗ Văn Tư 9 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp Tư suất lợi nhuận vốn là quan hệ tư lệ giữa số lợi nhuận sau thuế đạt được với số vốn sử dụng bình quân trong kỳ (gồm có vốn cố định, vốn lưu động) hoặc vốn chủ sở hữu. Công thức tính : P Tsv= x100% Vbq Trong đó : Tsv: là tư suất lợi nhuận vốn P: là lợi nhuận sau thuế đạt được trong kỳ Vbq: là tổng số vốn sản xuất được sử dụng trong kỳ (gồm vốn cố định và vốn lưu động) hoặc vốn chủ sở hữu. Vốn cố định được xác định bằng nguyên gÝa tài sản cố định trừ đi số tiền khấu hao luỹ kế đã thu hồi. Vốn lưu động bao gồm vốn dự trữ sản xuất, vốn sản phẩm dở dang, bán thành phẩm tự chế, vốn thành phẩm. Việc sử dụng tư suất lợi nhuận vốn nói lên trình độ sử dụng tài sản vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp mang lại bao nhiêu lợi nhuận tương ứng, thông qua đó kích thích sử dụng vốn đạt hiệu quả cao. 1.1.3.2. Tư suất lợi nhuận giá thành: Tư suất lợi nhuận giá thành là quan hệ tư lệ giữa lợi nhuận trước hoặc sau thuế của sản phẩm tiêu thụ với giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá tiêu thụ . Công thức tính : P Tsg =  x 100% Zt Đỗ Văn Tư 10 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp Trong đó : Tsg: là tư suất lợi nhuận giá thành P: là lợi nhuận sau thuế sản phẩm Zt: là giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ Thông qua tư suất lợi nhuận giá thành có thể thấy hiệu quả của chi phí bỏ vào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong kỳ (cho biết mỗi đồng chi phí sản xuất kinh doanh mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận). 1.1.3.3. Tư suất lợi nhuận doanh thu bán hàng. Là quan hệ tư lệ giữa lợi nhuận sau thuế sản phẩm tiêu thụ với doanh thu tiêu thụ sản phẩm đạt được trong kỳ. Công thức tính : P Tst =  x 100% T Trong đó : Ts: là tư suất lợi nhuận doanh thu tiêu thụ P: là lợi nhuận trước hoặc sau thuế sản phẩm tiêu thụ trong kỳ T: là doanh thu tiêu thụ trong kỳ Chỉ tiêu này nói lên trong kỳ 100 đồng doanh thu tiêu thụ sản phẩm đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu tư suất này thấp hơn tư suất chung của toàn nghµnh chứng tỏ doanh nghiệp bán hàng với giá thấp hoặc giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cao hơn các nghµnh khác. Ngoài ra chỉ tiêu doanh lợi như trên, người ta còn sử dụng chỉ tiêu: tư suất lợi nhuận vốn, tư suất lợi nhuận giá trị tổng sản lượng, tư suất lợi nhuận vốn đầu tư để đánh giá chất lượng xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch trong kỳ. Đỗ Văn Tư 11 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp Việc phấn đấu tăng lợi nhuận và hơn nữa, làm tăng tư suất lợi nhuận là nhiệm vụ thường xuyên của doanh nghiệp. Chính vì vậy các doanh nghiệp luôn không ngừng nghiên cứu thị trường, ứng dụng công nghệ, quy trình sản xuất tối ưu nhất … hay nói cách khác đó là nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận. 1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp . Nh chúng ta đã biết, lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là bộ phận chủ yếu chiếm tư trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp đạt được trong kinh doanh. Nên lợi nhuận là mục đích cuối cùng của việc sản xuất kinh doanh, nó là động cơ chủ yếu của các nhà đầu tư, là tiêu chuẩn cao nhất đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, mức lợi nhuận cao hay thấp là căn cứ trực tiếp để người ta quyết định có nên sản xuất hay không? Để phấn đấu tăng lợi nhuận tại các doanh nghiệp cần thiết phải nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm. 1.2.1. Mức sản phẩm sản xuất và tiêu thụ trong kỳ. Khối lượng tiêu thụ tăng sẽ làm cho tổng lợi nhuận tăng và ngược lại.Vì vậy , có thể nói rằng tăng khối lượng tiêu thụ là một trong những biện pháp để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.Việc tăng hay giảm khối lượng tiêu thụ sản phẩm phản ánh kết quả của sản xuất cả về khối lượng, chất lượng, chủng loại và thời hạn cũng như phản ánh kết quả công tác bán hàng của doanh nghiệp. Nh vậy, tác động của nhân tố chủ yếu phản ánh yếu tố chủ quan trong công tác quản lý, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc tăng khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ sẽ làm tăng doanh thu, nhưng việc tăng sẽ có một giới hạn nhất định, nó tuỳ thuộc vào quy mô sản xuất của doanh nghiệp và sở thích của người tiêu dùng. Bởi vì, nếu nhu cầu thị trường lớn nhưng quy mô sản xuất của doanh nghiệp không đáp ứng được khối lượng sản phẩm sản xuất để tiêu thụ thì Đỗ Văn Tư 12 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp doanh thu sẽ không tăng. Hoặc giả sử nếu quy mô sản xuất của doanh nghiệp lớn mà thị trường tiêu thụ lại kém thì khối lượng tiêu thụ sản phẩm sẽ không tăng. 1.2. 2. Giá thành đơn vị sản phẩm tiêu thụ. Giá thành đơn vị sản phẩm tiêu thụ có mối liên hệ ngược chiều với lợi nhuận đơn vị, khi giá thành đơn vị bình quân tăng sẽ làm lợi nhuận giảm và ngược lại, giá thành thay đổi có thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, mà chủ yếu là sự thay đổi giá thành sản xuất của sản phẩm. Trong công tác quản lý, phấn đấu giảm giá thành hàng bán là một trong những biện pháp để tăng lợi nhuận. Do đó, các doanh nghiệp phải có chính sách quản lý chi phí khoa học và nâng cao cơ sở sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất để giảm bớt chi phí, hạ thấp giá thành từ đó làm hạ giá bán và tăng lợi nhuận. 1.2.3. Chất lượng sản phẩm tiêu thụ. Đây là nhân tố quan trọng trong quyết định sự phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp, chất lượng của sản phẩm càng tăng thì càng có uy tín chiếm lĩnh thị trường, số lượng tiêu thụ được nhiều hơn. Hiện nay, trong điều kiện các yếu tố sản xuất khác không thay đổi, việc đảm bảo tăng chất lượng sản phẩm là điều kiện cơ bản để tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng doanh lợi cho doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp luôn nâng cao thiết bị sản xuất, công nghệ kỹ thuật , đào tạo nâng cao tay nghề cho đội ngũ lao động để đáp ứng nhu cầu của thị trường. 1.2.4. Kết cấu mặt hàng tiêu thụ. Nh chúng ta đã biết, các doanh nghiệp hiện nay sản xuất nhiều loại sản phẩm, mỗi sản phẩm có mức tiêu thụ khác nhau và lỗ (lãi) khác nhau. Do đó, nếu ta cố định các nhân tố khác, tăng tư trọng tiêu thụ sản phẩm có mức lãi cao, giảm tư trọng sản phẩm có mức lãi thấp hoặc bị lỗ thì mặc dù tổng sản phẩm tiêu thụ không thay đổi nhưng tổng số lợi nhuận tiêu thụ sẽ tăng và ngược lại. Nói chung, việc Đỗ Văn Tư 13 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp thay đổi kết cấu của sản phẩm tiêu thụ trong kỳ thường do sự biến động của thị trường, tức là sự tác động của nhân tố khách quan. Nhưng để đáp ứng cho nhân tố thị trường thường xuyên biến động, bản thân doanh nghiệp phải tự vận động và điều chỉnh từ khâu sản xuất đến khâu bán hàng nên nó mang yếu tố chủ quan trong công tác quản lý của doanh nghiệp. Chính vì thế các nhà quản lý phải nắm chắc được nhu cầu thị trường để đưa ra các biện pháp điều chỉnh thích hợp làm tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, cũng không vì lợi ích trước mắt mà làm ảnh hưởng không tốt tới lợi ích lâu dài, đó là phải sản xuất đầy đủ số lượng sản phẩm theo đơn đặt hàng, đảm bảo chất lượng sản phẩm như trong hợp đồng vì nếu không doanh nghiệp sẽ tự làm mất chữ tín của mình trên thị trường. 1.2. 5. Giá bán đơn vị sản phẩm. Giá bán sản phẩm là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu tiêu thụ sản phẩm, từ đó ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế thị trường như hiện nay thì giá bán được hình thành một cách khách quan do quan hệ cung cầu trên thị trường. Nên doanh nghiệp không thể tự điều chỉnh tăng hoặc giảm giá bán sản phẩm cùng loại trên thị trường, còn nếu do phẩm cấp hàng hoá thay đổi làm cho giá bán bình quân thay đổi lại là tác động của nhân tố chủ quan. Do đó, nếu ta cố định các nhân tố khác lại, giá bán sản phẩm trên thị trường tăng lên thì lợi nhuận trên thị trường cũng tăng và ngược lại. 1.2. 6. Mức thuế phải nộp của sản phẩm tiêu thụ. Mức thuế phải nộp của sản phẩm tiêu thụ là trách nhiệm và nghĩa vụ của các doanh nghiệp để xây dựng ngân sách Nhà nước, nên đây là nhân tố khách quan ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp, khoản thuế này sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. 1.2. 7. Nhân tố thị trường. Đỗ Văn Tư 14 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp Nếu như thị trường ổn định, thì sản phẩm được tiêu thụ bình thường, nhưng khi cung và cầu thay đổi sẽ làm cho giá cả thay đổi, do đó khối lượng sản phẩm tiêu thụ không ổn định dẫn đến doanh thu không ổn định và kéo theo lợi nhuận thay đổi. Vì vậy, thị trường cũng ảnh hưởng lớn tới lợi nhuận. 1.3. Vai trò của Tài chính doanh nghiệp trong việc gia tăng lợi nhuận: 1.3.1. TCDN huy động vốn đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp diễn ra bình thương: TCDN giúp cho doanh nghiệp huy động kịp thời các nhu cầu vốn ngắn hạn hoặc vốn dài hạn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp cho doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội đầu tư phát triển và mở rộng hoË động sản xuất kinh doanh nhằm gia tăng lợi nhuận và mở rộng thị phần. 1.3.2. TCDN giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Vai trò này thể hiện ở chỗ:  Việc đưa ra quyết định đầu tư ®uóng đắn phụ thuộc rất lớn vào việc đánh giá, lựa chọn đầu tư trên góc độ tài chính.  Việc huy động vốn kịp thời, đầy đủ sẽ giúp doanh nghiệp chip được cơ hội kinh doanh.  Lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp có thể giảm bớt được chi phí sử dụng vốn góp phần gia tăng lợi nhuận.  Sử dụng đòn bẩy tài chính và đặc biệt là đòn bẩy kinh doanh là yếu tố gia tăng đáng kể tư suất lợi nhuận và vốn chủ sở hữu.  Huy động tối đa vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể tránh được thiệt hại do ø đọng vốn, tăng vòng quay tài sản, giảm được số vốn vay do giảm được khoản lãi vay phải trả góp phần rất lớn tới việc tăng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Đỗ Văn Tư 15 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp 1.3.3. TCDN là một công cụ hữu ích để kiểm tra tình hình kinh doanh của doanh nghiệp: Việc kiểm tra giám sát bằng tiền các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua tình hình thu chi tiền tệ hàng ngày, thông qua các chỉ tiêu tài chính và đặc biệt thông qua các báo cáo tài chính có thể kiểm soát kịp thời, tổng quát các hoạt động của doanh nghiệp, từ đó phát hiện nhanh chóng nhõng tồn tại và tiềm năng chưa được khai thác để đưa ra các quyết định thích hợp ®iiªï chỉnh các hoạt động nhầm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp. Trên đây là các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp và qua sự phân tích trên có thể giúp doanh nghiệp có các biện pháp, phương hướng thích hợp để tăng lợi nhuận. 2. Sự cần thiết phải phấn đấu tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp. 2.1. Xuất phát từ vai trò của lợi nhuận đối với quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận có vị thỊ hàng đầu và đặc biệt quan trọng với nền kinh tế xã hội nói chung và đối với các doanh nghiệp nói riêng cũng nh đối với bản thân mỗi người lao động. Trong phạm vi chuyên đề nay em xin được nêu những vai trò của lợi nhuận mà các doanh nhân nào cũng phải nghĩ tới. Thứ nhất: Lợi nhuận là thước đo, là chỉ tiêu chất lượng phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, nói cách khác thông qua chỉ tiêu lợi nhuận cho phép đánh giá nhiều mặt hoạt động của doanh nghiệp từ khâu chuẩn bị sản xuất đến khâu tiêu thụ thụ sản phẩm. Thứ hai: Lợi nhuận của doanh nghiệp là một khoản thu quan trọng của ngân sách Nhà nước dưới hình thức thuế thu nhập của doanh nghiệp và các loại thuế Đỗ Văn Tư 16 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp khác. Nếu sản xuất càng phát triển thì lợi nhuận càng tăng và do đó, nguồn thu chi ngân sách càng tăng lên và ngược lại. Thứ ba: Lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng để doanh nghiệp đầu tư tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng. Thứ tư: Lợi nhuận là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng hoàn thiện các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Sử dụng lợi nhuận một cách đúng đắn, hợp lý sẽ góp phần giải quyết mối quan hệ giữa ba lợi ích: lợi ích người lao động, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Qua bốn vai trò của lợi nhuận đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ta thấy lợi nhuận có vị trí hết sức to lớn đối với mỗi doanh nghiệp nói riêng và đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung. Tuy nhiên, ta cũng cần lưu ý rằng không thể coi lợi nhuận là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh và còng không thể dùng chóng để so sánh chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp với nhau. 2.2. Xuất phát từ yêu cầu của việc phát huy quyền tự chủ của các doanh nghiệp trong cơ chế quản lý mới. Hiện nay, quyền tự chủ của các doanh nghiệp luôn được đặt lên hàng đầu để tự quyết định hạch toán, đầu tư sản xuất kinh doanh trong môi trường cạnh tranh gay gắt và quyết liệt. Nhưng quyền tự chủ của các doanh nghiệp luôn đặt rong sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, Nhà nước đã đưa ra nhiều giải pháp đúng đắn nhằm từng bước tạo môi trường kinh doanh lành mạnh và buộc các doanh nghiệp phải hạch toán kinh doanh thực sự, các doanh nghiệp không còn con đường nào khác là phải làm sao đứng vững trên đôi chân của mình và tự khẳng định mình trên thị trường. Muốn vậy, doanh nghiệp phải tự bảo toàn và phát triển vốn bằng các hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi, tích luỹ vốn cho doanh nghiệp mình. Đỗ Văn Tư 17 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp Nói tóm lại, từ khi quyền tự chủ của các doanh nghiệp được xác định trong cơ chế quản lý mới thì cũng là lúc doanh nghiệp ý thức được sự cần thiết của việc phÂn đấu tăng lợi nhuận nhằm củng cố được vị thỊ của mình trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế. 3. Phương hướng và biện pháp nhằm tăng lợi nhuận đối với các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Nh các phần trên em đã trình bày, lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và ph¸y triển được hay không điều quyết định là doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay không? Vì thế lợi nhuận được coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng, đồng thời còn là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì những lý do trên mà các doanh nghiệp luôn phải tìm cho mình những biện pháp và phương hướng phù hợp để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp . 3.1. Hạ giá thành sản phẩm. Ngày nay hạ giá thành sản phẩm cũng là vũ khí lợi hại của các doanh nghiệp , nó thúc đẩy cạnh tranh tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp, hạ giá thành sản phẩm cũng là biện pháp cơ bản và lâu dài trong chiến lược phát triển sản xuất và kinh doanh. Để hạ giá thành sản phẩm cần thực hiện tốt một số biện pháp nh: sử dụng tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu, phấn đấu tăng năng suất lao động, tổ chức sắp xếp lao động hợp lý, nâng cao trình độ tay nghề của công nhân viên … 3.1. 1. Sử dụng tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu. Tiết kiệm chi phí nguyên liệu, vật liệu , năng lượng, giảm tư lệ hao hụt, mức tiêu hao nguyên liệu, vật liệu , tổ chức cung ứng vật tư kịp thời phục vụ sản xuất , sử dụng vật liệu thay thế thích hợp góp phần hạ thấp giá thành sản xuất của doanh nghiệp. Nên chi phí nguyên liệu, vật liệu thường chiếm tư lÔ lớn trong toàn bộ chi Đỗ Văn Tư 18 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp phí sản xuất và giá thành sản phẩm của mỗi doanh nghiệp. Do đó giảm được chi phí nguyên liệu , vật liệu là một trong những biện pháp chủ yếu để giảm giá thành sản phẩm. Để giảm được chi phí nguyên liệu, vật liệu cần phải thực hiện được các vấn đề sau: - Phải có kế hoạch cung ứng nguyên liệu, vật liệu phù hợp với quy hoạch sản xuất. Đó là cần phải kết hợp hài hòa giữa quá trình sản xuất và cung ứng nguyên liệu, vật liệu phù hợp, có kế hoạch dự trữ nguyên liệu, vật liệu hợp lý, tránh trường hợp dự trữ nguyên liệu, vật liệu quá lớn dẫn tới tồn kho nguyên liệu, chu kỳ chu chuyển nguyên liệu, vật liệu chậm làm cho ø đọng vốn. - Cần phải có kế hoạch quản lý, bảo quản nguyên liệu, vật liệu. Để làm tốt vấn đề này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những biện pháp tài chính, cụ thể là: giao trách nhiệm đến từng người lao động, có chế độ thưởng phạt công minh đối với những nguêi lạm dụng nguyên liệu, vật liệu làm thất thoát và hư hỏng nguyên liệu, vật liệu. Từ đó có thể làm cho nguyên liệu, vật liệu không bị hao hụt, không bị giảm chất lượng. Bên cạnh đó cần phải kiểm tra thường xuyên các định mức tiêu hao nguyên liệu, vật liệu, tư lệ hao hụt nguyên liệu, vật liệu và tư lệ phế phẩm. Muốn vậy cần phải tổ chức kiểm tra thường xuyên, đồng thời cải tiến công nghệ, nâng cao tay nghề ;nâng cao ý thức tự giác của công nhân trong sản xuất. 3.1.2. Phấn đấu tăng năng suất lao động. PhÂn đấu tăng năng suất lao động là để giảm mức tối thiểu thời gian hao phí sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hay tăng số lượng sản phẩm cùng trong một đơn vị thời gian. Để tăng năng suất lao động cần áp dụng các biện pháp sau: - Cải tiến máy móc thiết bị, ứng dụng khoa học công nghệ mới đồng thời đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân viên, cán bộ quản lý và hành chính . Đỗ Văn Tư 19 K37-T3/TCDN Học Viện Tài Chính - Chuyªn §Ò Tèt NghiÖp Phải có biện pháp quản lý và sử dụng có hiệu quả máy móc thiết bị. Đó là định kỳ hay thường xuyên phải kiểm tra và sửa chữa máy móc thiết bị để khắc phục kịp thời những hỏng hóc và thanh lý những máy móc thiết bị kém hiệu quả để từ đó quyết định đầu tư máy móc thiết bị mới. Bên cạnh việc quản lý trên ta cần phải kết hợp khai thác hết công suất máy móc, tính năng của khoa học công nghệ như: giảm tối thiểu số giờ nghỉ của máy, tổ chức vừa đủ số máy hoạt động …từ đó làm cho quá trình sản xuất diễn ra một cách liên tục. - Tổ chức sắp xếp lao động hợp lý với khả năng của từng công nhân viên, luôn nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động cũng như ý thức trách nhiệm của họ, tăng cường kû luật lao động, sử dụng đòn bẩy kinh tế để khuyến khích người lao động nhiệt tình với công việc. 3.2. Tăng số lượng , nâng cao chất lượng sản xuất và tiêu thụ. Đây là biện pháp mà doanh nghiệp nào cũng muốn thực hiện để tăng thêm lợi nhuận cũng như chiếm lĩnh được thị trường lâu dài. Để làm được điều này thì các doanh nghiệp cần kết hợp chặt chẽ với biện pháp (1) đã nêu ở trên như: chú trọng đến việc nâng cao công dụng máy móc thiết bị, nâng cao tay nghề cho công nhân viên, tổ chức hợp lý quá trình sử dụng, cung ứng vật tư hàng hoá, đồng thời phải có chính sách giá cả hợp lý (như một đòn bẩy kích cầu ) để tiêu thụ được nhiều sản phẩm. Do đó để thực hiện tốt biện pháp này các doanh nghiệp cần phải thực hiện tốt các công việc sau: -Nội dung cũng giống nh biện pháp trên nhưng cần chú trọng đầu tư vào chiều sâu: nghĩa là các doanh nghiệp cần ứng dụng khoa học công nghệ tiến tiến vào sản xuất một số sản phẩm có ưu thỊ nhất của doanh nghiệp để tạo một sức bật lớn. Nếu bước trên thực hiện tốt, có uy tín cao thì tiếp tục đẩy mạnh và mạnh dạn ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ để hiện ®aÞ dây chuyền sản xuất để sản xuất toàn bộ các sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng cao. Có nh vậy mới Đỗ Văn Tư 20 K37-T3/TCDN
- Xem thêm -