Tài liệu Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính ở việt nam

  • Số trang: 93 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 79 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39801 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH ----------------------- CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƢỞNG TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM NĂM 2012 LẬP MÔ HÌNH DỰ BÁO PHÁ SẢN CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH VIỆT NAM THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ i Mục lục: 1. 2. Giới thiệu ..................................................................................................................... 1 1.1 Đặt vấn đề và mục đích bài nghiên cứu ............................................................ 1 1.2 Phương pháp nghiên cứu. ................................................................................. 5 Cơ sở lý thuyết ............................................................................................................. 7 2.1 Phá sản .............................................................................................................. 7 2.2 Chi phí phá sản .................................................................................................. 9 2.1.1.Chi phí trực tiếp........................................................................................ 9 2.1.2.Chi phí gián tiếp ..................................................................................... 10 2.3 Ảnh hưởng của phá sản lên nền kinh tế quốc gia và ngành công nghiệp. ...... 11 2.4 Nguyên nhân của phá sản................................................................................ 13 2.4.1.Nguyên nhân bên ngoài .......................................................................... 14 2.4.2.Nguyên nhân bên trong .......................................................................... 19 2.5 Sự cần thiết một mô hình dự báo phá sản. ...................................................... 25 2.5.1.Tầm quan trọng đối với ban quản lý ...................................................... 26 2.5.2.Tầm quan trọng đối với cổ đông ............................................................ 27 2.5.3.Tầm quan trọng đối với nhà cung ứng và công ty .................................. 27 2.5.4.Tầm quan trọng với các nhà đầu tư ....................................................... 28 2.5.5.Tầm quan trọng với nhà tín dụng ........................................................... 29 2.5.6.Tầm quan trọng đối với công nhân và công đoàn .................................. 29 2.6 3. Độ chính xác của mô hình dự báo phá sản ..................................................... 30 Tổng quan mô hình của các nghiên cứu trước đây ................................................... 31 3.1 Mô hình dự báo phá sản dựa vào sổ sách kế toán .......................................... 31 3.1.1.Mô hình dự báo phá sản của Beaver (1996) .......................................... 31 3.1.2.Mô hình dự báo phá sản của Altman (1968) .......................................... 33 3.1.3.Mô hình dự báo phá sản của Ohlson (1980) .......................................... 35 3.1.4.Mô hình dự báo phá sản của những nhà nghiên cứu sau đó ................. 36 3.2 Mô hình dự báo phá sản dựa trên yếu tố thị trường ....................................... 41 ii 3.3 4. Mô hình dự báo phá sản dựa trên sự thông minh nhân tạo ............................ 43 Phương pháp và dữ liệu ............................................................................................ 46 4.1. Phương pháp tiếp cận phân tích biệt số bội (MDA) ....................................... 46 4.2. Định nghĩa mẫu và biến .................................................................................. 51 5. Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu ................................................................... 55 5.1. Trung bình và độ lệch chuẩn của công ty bị phá sản ...................................... 55 5.2. Trung bình và độ lệch chuẩn của công ty không bị phá sản ........................... 57 5.3. Kiểm định T cho Equality of Means ................................................................ 59 5.4. Kiểm định F cho Equality of Variances .......................................................... 62 5.5. Kết quả thống kê phân tích biệt biệt số (MDA) ............................................... 65 5.6. Điểm Z/ Mô hình MDA .................................................................................... 67 5.7. Tham số thống kê kiểm tra chức năng phân biệt ước tính .............................. 70 5.7.1.Eigenvalue và hệ số tương quan canonical ............................................ 70 5.7.2.Wilks 'Lambda của mô hình MDA ước tính ........................................... 71 6. Kết luận ..................................................................................................................... 72 6.1. Kết luận............................................................................................................ 72 6.2. Hạn chế ............................................................................................................ 73 6.3. Biện pháp ......................................................................................................... 74 6.3.1.Tăng EBIT .............................................................................................. 74 6.3.2.Quản lý vốn lưu động ............................................................................. 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................... 78 PHỤ LỤC : Danh sách những công ty phá sản và không phá sản ............................................... 83 iii CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TT K u v t tắt Gả n 1 MDA Phân tích biệt số 2 EBIT Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (Earnings before interest and taxes) 3 VCSH Vốn chủ sở hữu iv DANH SÁCH CÁC BẢNG SỬ DỤNG Bảng 1: Tuổi của những công ty phá sản ......................................................................... 23 Bảng 2a: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số đòn bẩy đối với những công ty phá sản ....................................................................................................... 55 Bảng 2b: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số thanh khoản đối với những công ty phá sản ....................................................................................................... 56 Bảng 2c: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số khả năng sinh lợi đối với những công ty phá sản ........................................................................................... 56 Bảng 2d: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số vòng quay đối với những công ty phá sản ....................................................................................................... 57 Bảng 3a: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số đòn bẩy đối với những công ty không phá sản ............................................................................................ 58 Bảng 3b: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số thanh khoản đối với những công ty không phá sản ............................................................................................ 58 Bảng 3c: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số khả năng sinh lợi đối với những công ty không phá sản ................................................................................ 59 Bảng 3d: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số vòng quay đối với những công ty không phá sản ............................................................................................ 59 Bảng 4a: Kiểm định giá trị trung bình (T-test) của tỉ số đòn bẩy công ty phá sản với không phá sản .................................................................................................................... 60 Bảng 4b: Kiểm định giá trị trung bình (T-test) của tỉ số thanh khoản công ty phá sản với không phá sản .................................................................................................................... 61 Bảng 4c: Kiểm định giá trị trung bình (T-test) của tỉ số thanh khoản công ty phá sản với không phá sản .................................................................................................................... 61 Bảng 4d: Kiểm định giá trị trung bình (T-test) của tỉ số vòng quay công ty phá sản với không phá sản .................................................................................................................... 62 Bảng 5a: Kiểm định giá trị phương sai (F-test) của tỉ số đòn bẩy công ty phá sản với không phá sản .................................................................................................................... 62 Bảng 5b: Kiểm định giá trị phương sai (F-test) của tỉ số đòn bẩy công ty phá sản với không phá sản .................................................................................................................... 63 Bảng 5c: Kiểm định giá trị phương sai (F-test) của tỉ số thanh khoản công ty phá sản với không phá sản .................................................................................................................... 64 Bảng 5d: Kiểm định giá trị phương sai (F-test) của tỉ số vòng quay công ty phá sản với không phá sản .................................................................................................................... 64 Bảng 6: Variables Entered/Removeda,b,c,d ......................................................................... 65 Bảng 7: Standardized Canonical Discriminant Function Coefficients ............................ 66 Bảng 8: Functions at Group Centroids............................................................................. 67 v Bảng 9: Classification Resultsb,c ....................................................................................... 68 Bảng 10: Casewise statistics ............................................................................................. 69 Bảng 11: Eigenvalues ....................................................................................................... 71 Bảng 12:Wilks' Lambda .................................................................................................... 71 vi DANH ÁCH CÁC ĐỒ THỊ, Ơ ĐỒ Hình 1: Quy trình chuỗi giá trị giả định ........................................................................... 16 Hình 2: Giả thiết vòng đời của một công ty...................................................................... 24 Hình 3: Ba tỉ số tài chính xác định khủng hoảng tài chính theo Beaver (1966) .............. 33 Hình 4: Các phân phối biệt số .......................................................................................... 48 Hình 5: Đồ thị tán xạ phân phối theo trục ........................................................................ 49 Hình 6: Tao trục mới (kết hợp tuyến của x và y) .............................................................. 50 vii 1 1. Giới thi u 1.1 Đặt vấn đề và mục đích bài nghiên cứu “Tính từ đầu năm 2011 đến nay, đã có hơn 50.000 DN tại TP Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh làm ăn thua lỗ, phá sản – đây là một con số đáng lo ngại. Nhưng chưa hết, thực tế số doanh nghiệp đang trong tình trạng ngắc ngoải “chết lâm sàng” còn rất nhiều và dự báo con số này còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Doanh nghiệp phá sản dẫn đến những hệ lụy domino ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng đến nền kinh tế” (Báo An ninh thủ đô n ày 8/1/2013). Có thể thấy, phá sản của các doanh nghiệp vẫn còn là một vấn đề vô cùng nhức nhối của nền kinh tế nước ta hiện nay. Chính phủ đã ban hành hàng loạt các phương án giải cứu, hỗ trợ để góp phần giúp doanh nghiệp khắc phục khó khăn, khuyến khích doanh nghiệp vượt khó, mở rộng thị trường sản xuất kinh doanh và chuẩn bị điều kiện phát triển ổn định, bền vững, tránh cho doanh nghiệp đi vào bờ vực phá sản thông qua năm giải pháp lớn bao gồm: điều hành vĩ mô (hạ nhanh lãi suất huy động và cho vay, ưu tiên vốn tín dụng một số ngành…), chi tiêu công (đẩy nhanh đầu tư xây dựng cơ bản…), thuế và phí (gia hạn thời gian nộp thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm tiền thuế đất…), điều hành giá và trợ cấp, cải cách thủ tục hành chính thuế (giảm chi phí thủ tục cho doanh nghiệp). (Nghị quy t 13/NQ-CP vào tháng 5/2012) … Tuy nhiên, vấn đề mấu chốt để các doanh nghiệp tồn tại vẫn chính là sự chủ động, cương quyết của mỗi doanh nghiệp đặc thù, đề ra những chiến lược sản xuất kinh doanh hợp lí, phù hợp hoàn cảnh để phát triển. Vậy thì vấn đề đặt ra ở đây là trong những năm trước khi phá sản hoặc giải thể, các doanh nghiệp ở nước ta nhìn chung đã có những dấu hiệu nhận biết nào để từ đó các doanh nghiệp có thể chủ động khắc phục, tập trung vào mối ưu tiên, quan tâm hàng đầu, hạn chế được kết quả xấu cuối cùng là phá sản? Điều này đã thúc đẩy chúng tôi tìm tòi và nghiên cứu mô hình dự báo phá sản đối với các công ty phi tài chính ở Việt Nam, dựa 2 trên các thành tựu đạt được từ rất nhiều bài nghiên cứu của các quốc gia trên thế giới trong nhiều thập kỉ qua. Mô hình được xây dựng dựa trên việc kiểm định 22 biến tài chính thuộc bốn mảng quan trọng của doanh nghiệp là tỷ số đòn bẩy, tỷ số khả năng sinh lợi, tỷ số vòng quay và tỷ số thanh khoản để nhận biết được các nhân tố nào đóng vai trò quan trọng và đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng đối với khả năng phá sản từ đó sẽ giúp các doanh nghiệp, các nhà đầu tư có những giải pháp, hướng đi thích hợp. Đầu tiên ta sẽ bắt đầu với với khái niệm phá sản. Phá sản được xác định là việc công ty không có khả năng tiếp tục việc kinh doanh hiện tại do có nghĩa vụ nợ cao (Pongsatat et al. 2004). Phá sản điển hình xảy ra khi hoặc dòng tiền hoạt động của công ty thì không đủ để thực hiện nghĩa vụ hiện tại- tức là không có khả năng trả các khoản nợ - hoặc là khi giá trị ròng của công ty là âm – tức là giá trị của tài sản thì ít hơn giá trị của khoản phải trả (Knox et al., 2008) Định nghĩa về phá sản khác nhau giữa các quốc gia. Ví dụ, ở Mỹ, có hai chương luật về những công ty được xác định là phá sản ví dụ sự thanh lý trong chương 7 và sự tái tổ chức trong chương 11 (Alman 1968). Tương tự, ở Nhật, có 3 luật cơ bản xếp những công ty lớn nào là phá sản: Luật phục hồi công dân, Luật tái tổ chức doanh nghiệp và Luật đóng cửa doanh nghiệp (Xu và Zhang 2008). Bởi vì không có một định nghĩa tổng quát hoá, có nhiều nghiên cứu như Beaver 1966 và Tavlin at al 1989 đã xác định phá sản dựa theo các cơ sở và phạm vi kiến thức của họ. Theo Luật phá sản Vi t N m năm 2001, doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản. Bên cạnh đó, mất khả năng thanh toán thường dựa trên tiêu chí không thanh toán nợ đến hạn (dòng tiền) hoặc tổng nợ vượt quá tài sản có (bảng cân đối tài sản). Dấu hiệu này để suy đoán doanh nghiệp đang mất khả năng thanh toán, chứ không có ý nghĩa doanh nghiệp đã phá sản, cần phải thu hồi, phát mại và thanh lý sản nghiệp. Tuy nhiên bởi vì chỉ cần các chủ nợ có yêu cầu thì doanh nghiệp sẽ ngay lập tức lâm vào tình trạng phá sản nên trong bài nghiên cứu này, dù một số ít công ty vẫn còn niêm yết nhưng 3 rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán trầm trọng chúng tôi vẫn mạnh dạn xếp vào dạng phá sản. Tiếp nối, chúng tôi lưu ý về một số điều kiện mà nếu mắc phải, các công ty trên sàn HOSE và HNX sẽ bị huỷ niêm yết theo nghị định 14/2007/NĐ-CP bao gồm: - Điều 14 - Khoản 1đ: Kết quả sản xuất, kinh doanh bị lỗ trong ba năm liên tục và tổng số lỗ luỹ kế vượt quá vốn chủ sở hữu trong báo cáo tài chính tại thời điểm gần nhất. - Điều 14 - Khoản 1c:Tổ chức niêm yết bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động trong lĩnh vực chuyên ngành. Do đó, bài nghiên cứu này của chúng tôi tiếp tục tiếp nối những khái niệm phá sản như những bài nghiên cứu trước, cũng như dựa vào tình trạng nền kinh tế của Việt Nam, công ty được xác định là phá sản ở Việt Nam trong bài sẽ là: - Công ty bị huỷ niêm yết ở Sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh và Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội theo luật định điều số 14 khoản 1c và 1đ, Nghị định 14/2007/NĐ-CP ngày 19/1/2007. - Công ty bị đóng cửa bởi Sở giao dịch và chứng khoán Hồ Chí Minh và Hà Nội Như ta đã biết, Việt Nam là một đất nước đang phát triển trong quá trình hội nhập toàn cầu. Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế 2008 vẫn còn để lại rất nhiều hệ luỵ cho đến ngày nay mà thể hiện rõ nhất là qua những con số biết nói về số lượng các doanh nghiệp phá sản. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 1/2013 cho thấy chỉ trong vòng 20 ngày đầu năm 2013, cả nước đã có 4.278 doanh nghiệp giải thể và ngừng hoạt động, tăng 11,3% so cùng kỳ. Nhìn lại từ năm 2011 đến đầu năm 2013, những tổng hợp, báo cáo kết quả điều tra con số giải thể, phá sản của các doanh nghiệp, ban ngành chưa lúc nào sụt giảm hay chững lại. Ngược lại, những con số này đang ngày tăng cao và trở thành một hiện tượng của kinh tế Việt Nam năm 2012. “Doanh nghiệp dẫu to hay nhỏ, khi phá sản cũng hệ luỵ đến hàng trăm đối tác, hàng ngàn người lao động. Theo hiệu ứng domino, tác động của sự ''chết chóc'' vật lý này 4 cũng không khác sự chết chóc sinh học là bao nhiêu. Theo đó là môi trường kinh doanh bị ô nhiễm nặng nề, nếu không nhanh chóng dọn dẹp, sự chết chóc lan toả thành đại dịch sẽ là một thảm họa”. Do đó, với tình hình một lượng lớn phạm vi ảnh hưởng phá sản đã diễn ra ở Việt Nam, bài nghiên cứu này nhận ra việc cần thiết khi phát triển 1 mô hình dự báo phá sản độc nhất cho môi trường doanh nghiệp của Việt Nam để phòng ngừa việc thất bại thêm nữa của những doanh nghiệp. Hơn thế nữa, không có nghiên cứu nào về phá sản trong chừng mực Việt Nam và không có bài nghiên cứu nào trên thế giới tập trung riêng biệt cho Việt Nam. Vì thế, bài nghiên cứu này được xem là bước đầu tiên để lấp đầy lỗ hổng về mảng dự báo phá sản của Việt Nam. Sự khám phá này sẽ giúp những doanh nghiệp của Việt Nam trong việc giám sát đúng lúc và đề cao vị thế tài chính của doanh nghiệp. Mục đích chính của bài nghiên cứu là: - Xác định các biến tài chính để nhận ra “sự khoẻ mạnh” từ những công ty có vấn đề tài chính. - Phát triển một mô hình có khả năng dự báo sức khoẻ tài chính và có sự nhận biết đúng giữa phá sản và không phá sản. Mô hình dự báo phá sản này có ý nghĩa quan trọng đến nhiều thành phần trong doanh nghiệp cũng như trong xã hội. Mô hình có ý nghĩa với những nhà quản lí, những người điều hành chính sách trong công ty - những người phải áp dụng thường xuyên đến những mô hình dự báo để kiểm tra tình trạng sức khoẻ tài chính của những doanh nghiệp từ đó đưa ra những phương án thiết thực, hữu hiệu, chữa đúng bệnh cho doanh nghiệp mình khi có vấn đề xảy ra. Mô hình có ý nghĩa cho những tổ chức tín dụng để xét khả năng phá sản của doanh nghiệp. Trong lĩnh vực quản trị rủi ro, dự báo phá sản doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc kiểm định vào việc ứng dụng khoản cho vay tín dụng vì lẽ giúp cho ngân hàng khỏi gặp tình trạng không trả được nợ của các khoản nợ xấu và giúp ngân 5 hàng thu được lợi nhuận từ việc cho vay thích hợp. Hơn thế nữa, việc dự báo phá sản doanh nghiệp theo cách đúng đắn, một ngân hàng, một tổ chức tín dụng, có thể đóng góp cho cộng đồng bằng việc cung ứng những công ty khoản vay đúng tương ứng với khả năng trả được nợ của họ. Với tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng tăng cao, không khó có thể thấy mức nợ xấu của ngân hàng vô cùng lớn, điều đó đã dẫn đến điều kiện để được vay vốn của các tổ chức ngân hàng khá khắt khe, tuy nhiên hiệu quả chính xác hay không lại khó biết được. Ta không thể xét tất cả các tỉ số tài chính và chỉ cần một tỉ số không đạt yêu cầu là lại cẩn trọng không cho doanh nghiệp vay, dẫn đến hệ luỵ các doanh nghiệp “khát vốn” nhưng lại khó tiếp cận với các nguồn hỗ trợ, dẫn đến khó khăn cho hoạt động sản xuất. Bởi theo Beaver (1966), ông cho rằng mặc dù phân tích tỉ số có thể cung cấp những thông tin hữu ích, nhưng ta phải thận trọng khi sử dụng chúng : Không phải tất cả tỉ số đều có khả năng dự báo tốt như nhau. Ví dụ như theo nghiên cứu của ông tỉ số dòng tiền trên tổng nợ thì có khả năng dự báo tốt hơn nhiều so với tỉ số tài sản thanh khoản. Và cuối cùng, mô hình còn có ý nghĩa với những nhà nghiên cứu kinh tế trong việc xem xét tiếp theo những mô hình dự báo phá sản ở các mảng khác áp dụng ở nền kinh tế Việt Nam 1.2 Phương pháp nghiên cứu. Hầu hết các nghiên cứu chính của mô hình dự báo phá sản được hình thành dựa trên phân tích kinh tế của các tỷ số tài chính. Có hai cân nhắc về nó: đầu tiên, báo cáo tài chính được công bố có chứa một sự đầy đủ thông tin về triển vọng và thành tựu của công ty và thứ hai là một cách để kiểm soát độ lớn của ảnh hưởng của các biến hệ thống theo thử nghiệm (Lev và Sunder, 1979). Vì vậy, phân tích tỷ số không chỉ được ưa chuộng khi giải thích các tính toán tài chính cần thiết, nhưng cũng đã đóng một chức năng quan trọng trong sự phát triển của các mô hình dự báo phá sản. Trong bài này chúng tôi cũng phân tích các tỷ số của công ty để xác định mức độ tác động của các yếu tố đến khả năng phá sản của doanh nghiệp. Dựa trên lý luận và các bài nghiên cứu trước đây, chúng tôi tập trung tiến hành phân tích tác động của 24 nhân tố thuộc 4 nhóm: tỷ số đòn bẩy, tỷ số 6 thanh khoản, tỷ số khả năng sinh lợi và tỷ số vòng quay. Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích biệt số MDA để kiểm tra tác động của những nhân tố này lên khả năng xảy ra phá sản bất cứ lúc nào trong bốn năm từ 2009 đến ba tháng đầu năm 2013. Trong đó biến phụ thuộc là biến phá sản Z Chúng tôi thu thập mẫu là 48 công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh (HOSE) và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) với 24 công ty phá sản và 24 công ty không phá sản cùng ngành có tổng tài sản tương đương. Kết quả, chúng tôi nhận thấy rằng trong tổng số 22 biến tỷ số tài chính của công ty thì có hai biến có ảnh hưởng đáng kể trong việc dự đoán phá sản cho các công ty phi tài chính ở Việt Nam là tỷ số EBIT trên tổng tài sản (thuộc nhóm tỷ số khả năng sinh lợi) và tỷ số vốn luân chuyển trên doanh thu (thuộc nhóm tỷ số vòng quay). Các kết quả tính toán được từ mô hình phân tích biệt số với biến phụ thuộc Z đã cung cấp bằng chứng cho thấy mỗi công ty phi tài chính có một giá trị Z khác nhau, đem so sánh với giá trị ZCE = 0.08 – điểm gãy, nếu công ty nào có Z > ZCE = 0,08 thì rơi vào trường hợp không phá sản, còn công ty nào có Z < ZCE = 0,08 thì rơi vào phá sản. Mô hình này đã được kiểm định với độ chính khác khi phân loại công ty phá sản là 79.2%. 7 2. Cơ sở lý thuy t 2.1 Phá sản Phá sản của một công ty hay trở nên phá sản có thể được xác định như sự mất khả năng của công ty khi trả các khoản nợ, rõ ràng trở nên phá sản thì tồi tệ hơn nhiều so với mất tính thanh toán (Gonenli 1988). Mặc dù, phá sản đi cùng với một sự giảm đều đặn giá trị tài sản dưới tổng nợ phải trả, quyết định đánh dấu chấm hết cho sự tồn tại của doanh nghiệp thì đúng đắn hơn là cố gắng tồn tại (Wheelen 2000). Nhu cầu giải cứu các công ty hay cơ cấu lại lần đầu tiên được trông thấy là ở Mỹ. Sự cố gắng tổ chức cơ cấu lại lần đầu tiên được áp dụng trong ngành đường sắt. Mặc dù, ngành đường sắt hầu hết là phá sản, nó được bảo vệ bởi Luật phá sản Mỹ, chương 7 năm 1898 nhờ tầm quan trọng cốt yếu của ngành giao thông với nền kinh tế (Ustundag 1998). Phá sản là bằng chứng theo pháp luật về sự mất khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn của một công ty, do đó, mục đích của quá trình phá sản là ngăn ngừa sự lừa gạt gian lận của công ty để bảo vệ quyền của người cho vay, và để tạo một cơ hội hình thành nên công việc kinh doanh mới sau khi đáp ứng được tất cả khoản nợ phải trả. Nguyên nhân chính của phá sản là sự thiếu khả năng và không thành công của những nhà quản lý. Với doanh số thấp và chi phí sản xuất cao, những công ty có xu hướng tài trợ cho những nhu cầu tiền ngắn hạn chỉ bằng những khoản nợ ngắn hạn. Chính sách tài chính này ngược lại lại làm tăng rủi ro phá sản trong tương lai. Rủi ro phá sản không là một rủi ro hệ thống và khía cạnh này là một đối tượng cho nhiều nhà nghiên cứu. Altman (1968) và Ohson (1980), trong nghiên cứu dự báo phá sản cho rằng rủi ro phá sản không là một rủi ro tương quan với rủi ro thị trường. Dichev (1998) lưu ý rằng những công ty có rủi ro phá sản cao, có tỷ suất sinh lợi thấp hơn tỷ suất sinh lợi trung bình trong cùng ngành. Nếu một công ty đi đến phá sản, nó sẽ phải dàn xếp với chủ nợ hoặc bộ phận tín dụng của ngân hàng, hoặc nộp đơn phá sản lên toà án. Nếu quyết định phá sản được đưa ra, công ty sẽ thực hiện theo 2 cách: 8 1. Công ty có thể tiên hành quy trình tổ chức cải tổ lại 2. Công ty đi đến quyết định phát mại (đóng cửa công ty) Cả hai hành động đều yêu cầu công ty nộp đơn phá sản lên toà án. Thủ tục cần thiết sau đơn phá sản được vận dụng bởi Uỷ ban được ấn định của toà. Ở Vi t Nam, thanh lý tài sản là sự lựa chọn duy nhất. Trong quá trình thanh lý, tài sản của công ty được bán đi và số tiền được sử dụng để trả nợ. Những nhà tín dụng chịu rủi ro ít nhất vì được trả đầu tiên, những cổ đông là những người cuối cùng được trả. Ở Mỹ, những công ty nộp đơn xin phá sản lên toà án Federal District. Có hai loại phương pháp phá sản là Phát mại và Tổ chức lại. Toà án quyết định phát mại công ty hoặc cố gắng tổ chức cơ cấu lại công ty. C ƣơn 7 – Federal Bankruptcy Act quy định sự thanh lý của công ty. Dưới chu trình thanh lý, người được toà án uỷ thác (một luật sư hoặc một người kinh doanh) nhận nhiệm vụ kiểm soát tài sản của công ty để quản lý chu trình phá sản. Người được toà ản uỷ thác có nhiệm vụ thanh lý tài sản bằng việc bán đấu giá hàng hoá tài sản công ty và phân phối số thu nhập dựa theo quyền được ưu tiên thích hợp (Krishnamurti và Vishwanath 2008). Để những người có liên quan nhận được số tiền bán tài sản của công ty, quyền lợi của chính phủ đầu tiên. Tiếp theo là quyền lợi của những chủ nợ đảm bảo như trái phiếu được đảm bảo bởi tài sản công ty. Tiếp theo đến quyền lợi của công nhân (người làm thuê) về lương, quyền lợi về tiền trợ cấp của công ty và quyền lợi của những nhà tín dụng thông thường và không bảo đảm. Tiếp theo cuối cùng là quyền lợi của cổ đông ưu đãi và cổ đông thường. Ngược lại với thanh lý, công ty có thể tìm đến con đường tổ chức lại, được hướng dẫn trong Chƣơn 11 của Federal Bankruptcy Act. Việc tổ chức lại thì thường phức tạp hơn là phát mãi, và thường nhận được quan tâm nhiều hơn của cổ đông và nhà tín dụng. Tổ chức lại có nghĩa là công ty được phép tiếp tục hoạt động trong khi thực hiện trong kế hoạch đưa việc kinh doanh hiệu quả trở lại. 9 Trong suốt thời kì tổ chức lại, công ty hoạt động dưới sự quản lý của ban quản trị và Người được toà ản uỷ thác (Altman và Hotchkiss 2005). Kế hoạch tổ chức lại phải được sự chấp nhận của những nhà tín dụng và toà án trước khi thực hiện. Kế hoạch tổ chức lại tập trung vào quyền lợi của người cho vay sẽ được thoả mãn bởi công ty tổ chức lại. Việc tổ chức lại hiệu quả khi cả công ty thì có giá trị hơn là phân chia từng mảnh (Brouwer 2006). 2.2 Chi phí phá sản Chi phí kinh tế cho việc phá sản doanh nghiệp thì lớn, minh chứng thấy rõ qua việc giá trị thị trường của những công ty kiệt quệ về căn bản giảm trước khi phá sản kết thúc hoàn toàn. (Warner 1977, Charalambous và cộng sự 2000). Do đó, người cung cấp vốn, nhà đầu tư, nhà cho vay, cũng như ban quản lý và người làm công, đều chịu ảnh hưởng nặng nề từ phá sản doanh nghiệp. Kiểm toán thì cũng đối diện với những đe doạ của các vụ kiện cáo tiềm ẩn nếu họ thất bại trong việc đưa ra dấu hiệu cảnh bảo sớm về những công ty phá sản thông qua việc đưa ra ý kiến kiểm toán chất lượng (Zavgren 1983, Jones 1987, Boritz 1991, Laitinen và Kankaanpaa 1999). Chi phí phá sản có thể được phân loại thành 2 loại: - Chi phí trực tiếp - Chi phí gián tiếp 2.1.1. Chi phí trực tiếp Chi phí phá sản trực tiếp là những chi phí phá sản hành chính và theo luật định. Chi phí hành chính, kiểm toán, toà án lả những ví dụ của chi phí phá sản trực tiếp. Một công ty kiệt quệ tài chính sẽ cần sự hỗ trợ kế toán và luật pháp chuyên môn. Công ty có thể cần thuê chuyên gia về khả năng giám định, nắm rõ về kiệt quệ tài chính, ví dụ như giám đốc ngân hàng đầu tư, người đánh giá, người bán đấu giá và chuyên viên thống kê cũng như những người có kinh nghiệm trong việc bán các tài sản kiệt quệ. Những chuyên gia này thông thường yêu cầu một khoản phí nhất định. Trong khi những nhà chuyên môn như thế thì được sử dụng tốt trong thời kì bình thường nhiều hơn, lợi ích họ đem đến 10 thì chắc chắn tăng khi một công ty gặp khó khăn tài chính trầm trọng (Branch 2002). Vì thế, chúng tôi có thể nói rằng chi phí trực tiếp khi giải quyết kiệt quệ tài chính thì lớn hơn dạng phí được trả cho các nhà chuyên môn (đặc biệt là luật sư và kế toán). 2.1.2. Chi phí gián tiếp Hầu hết chi phí phá sản là chi phí gián tiếp. Giảm sút trong thị phần thị trường có thể xuất hiện khi công ty phá sản hoặc bị kiệt quệ tài chính. Sau đó, lợi tức của công ty có xu hướng bị mất giá trị bởi vì giá trị sở hữu của công ty giảm. Chi phí gián tiếp của phá sản là những chi phí của việc tránh nộp đơn phá sản phải gánh chịu bởi những công ty kiệt quệ tài chính. Mất doanh thu, xao nhãng quản lý, chi phí tập trung trong ngắn hạn, mất thị phần, và mất các nhân viên tốt nhất có thể đươc xem là ví dụ của những chi phí gián tiếp của phá sản. Chi phí gián tiếp của phá sản thể hiện khó khăn trong việc vận hành công ty trong khi nó đang cố gắng vượt qua phá sản. Chi phí trực tiếp của phá sản thì khá nhỏ so với chi phí gián tiếp - phá sản liên quan đến giới hạn quản lý và nỗ lực để cải thiệt tình trạng kinh tế thì khá quan trọng. Theo Gilson (1989), sau khi nộp đơn phá sản, những nhà điều hành chịu tổn thất cá nhân lớn và hơn một nửa nhà điều hành bị sa thải. Gilson và Vetsuypens (1994) thấy rằng các nhà điều hành vẫn còn ở lại sau khi nộp đơn phá sản thì nhận lương và tiền thưởng thấp hơn đáng kể, trung bình các nhà điều hành chỉ nhận được khoảng 35% thu nhập ròng trước đó. Theo nghiên cứu của Branch (2002), chi phí trực tiếp của phá sản thì khoảng 4,45% - 6,35% giá trị thị trường trước khi phá sản, chi phí gián tiếp của phá sản thì khoảng 5% - 10% giá trị thị trường trước khi phá sản. Altman (1984) thấy rằng tổng chi phí phá sản trực tiếp và gián tiếp chiếm khoản 15% giá trị công ty trước khi kiệt quệ đối với những công ty công nghiệp và khoản 7% đối với những công ty bán lẻ. Gần hơn, Franks và Torous (1994) kết luận rằng chi phí phá sản tăng thêm trung bình vượt quá phá sản không theo thủ tục ít nhất 4,5%. 11 Một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh chi phí cơ hội, gây ra bởi thời gian mất đi không thể đo lường được, nên được xem như chi phí trực tiếp của phá sản. Một số nhà nghiên cứu lưu ý rằng chi phí cơ hội nên được xem như chi phí gián giếp của phá sản. Chi phí gián tiếp khác là việc giảm sút trong thu nhập bị gây ra bởi mất mát doanh số bởi việc phá sản có thể xảy ra và chi phí tín dụng tăng cao phụ thuộc vào rủi ro tăng lên (Aktas 1997). 2.3 Ảnh hưởng của phá sản lên nền kinh tế quốc gia và ngành công nghiệp. Việc kinh doanh phá sản có một ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế cả nước. Tỉ lệ thất nghiệp, một trong những vấn đề vĩ mô quan trọng nhất sẽ tăng do bị thôi việc bởi những công ty phá sản. Trong khi đó, hàng hoá và dịch vụ, được sản xuất trước đó, thì không được sản xuất nữa, do đó tổn thất thu nhập sẽ xảy ra và việc sử dụng năng lực sản xuất giảm. Tương tự, những nhà đầu tư đã đầu tư vào công ty phá sản, sẽ miễn cưỡng chuyển tiền tiết kiệm qua thị trường vốn vào công ty kinh doanh cần vốn để mở rộng. Tổ chức kinh doanh quản lý việc kinh doanh trong một môi trường năng động, nguyên nhân này ảnh hưởng đến chi phí của kiệt quệ tài chính không chỉ bị giới hạn bởi những nhà quản lý và chủ sở hữu của công ty mà còn có những nhà kinh doanh và tổ chức liên kết trong ngành công nghiệp liên quan nhạy cảm với sự ảnh hưởng đó. Trong một nghiên cứu của Buehler và cộng sự (2006), lưu ý rằng trong những ngành hoặc nhóm ngành có tỉ lệ phá sản xảy ra cao, những hoạt động sát nhập thì hiếm. Mặt khác, khám phá khác của bài nghiên cứu cho rằng sát nhập giữa những tổ chức kinh doanh lớn thì thường xảy ra hơn so với những tổ chức nhỏ. Hơn thế nữa, tuổi công ty là một nhân tố quan trọng khác liên quan đến sát nhập và phá sản. Họ thấy rằng việc xảy ra phá sản và sát nhập của những công ty thì có mối liên hệ ngược chiều với tuổi của công ty. Trong thời kì phát triển vĩ mô, trong khi những hoạt động sát nhập tăng, phá sản hoặc đóng cửa tự nguyện thì giảm. Ảnh hưởng của thông báo phá sản của một công ty địch thủ lên công ty khác hoạt động trong cùng ngành là một vấn đề thử thách khác. Lang và Stulz (1992) cho là những 12 ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của thông báo phá sản của một công ty địch thủ cùng ngành lần lượt là ảnh hưởng cạnh tranh và ảnh hưởng lan truyền.  Ản ƣởng cạnh tranh. Phá sản của công ty địch thủ có thể được xem như một sự kiện tốt đối với những đối thủ cạnh tranh của công ty phá sản. Sự kiện này cho là ảnh hưởng cạnh tranh. Theo ảnh hưởng cạnh tranh, khi công ty cùng ngành phá sản, những đối thủ cạnh tranh được tác động một cách tích cực và thị phần của họ tăng lên, giá cổ phiếu được đánh giá cao trong thị trường (Lang & Stulz 1992, Ferris và cộng sự 1997, Iqbal 2002). Iqbal (2002) trong nghiên cứu thời kì 1991-1996 ở Mỹ cho thấy những đối thủ cạnh tranh thì được ảnh hưởng tích cực lên tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu bởi sự phá sản của một công ty cùng ngành.  Ản ƣởng lan truyền. Tin tức về công ty đối thủ phá sản có thể chỉ ra một số vấn đề phổ biến với những công ty khác trong cùng ngành (Caton và cộng sự 2008). Theo ảnh hưởng lan truyền, những đối thủ cạnh tranh bị ảnh hưởng xấu bởi việc hình thành lối suy nghĩ bi quan về ngành công nghiệp bị gây ra thông báo phá sản của công ty đối thủ. Trong khi việc phá sản công ty làm giảm sút niềm vào công ty đó, nó cũng là giảm sự tín nhiệm vào các công ty khác trong cùng ngành (Ferris và cộng sự 1997, Iqbal 2002) Ferris và cộng sự (1997) cho thấy tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu của những công ty đối thủ của công ty kiệt quệ tài chính bị sụt giảm giá trị xuống khoảng 4,68% trong 3 ngày đầu tiên. Khám phá này là chứng cứ của sự lan truyền thông tin xấu về ngành công nghiệp. Kanas (2004) kiểm tra sự ảnh hưởng của nhóm những ngân hàng đa quốc gia BCCI phá sản lên ngành ngân hàng ở Mỹ, Anh, Tây Ban Nha và Thuỵ Sĩ. Kanas thấy rằng sự phá sản của nhóm ngân hàng này có ảnh hưởng lan truyền lên ngành ngân hàng Tây Ban Nha và Anh. Nghĩa là, theo bài nghiên cứu, những ngân hàng khác trong mảng ngân hàng quốc gia bị ảnh hưởng tiêu cực.
- Xem thêm -