Tài liệu Kỹ thuạt thâm canh cói.

  • Số trang: 26 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 40 |
  • Lượt tải: 0
transuma

Tham gia: 03/08/2015

Mô tả:

NGUYỄN TẤT CẢNH, NGUYỄN VĂN HÙNG 1 Hợp phần do FAO tài trợ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) là một cơ quan chuyên môn có nhiệm vụ chống đói nghèo và đảm bảo an ninh lương thực. Mục đích hoạt động của FAO là cải thiện dinh dưỡng, năng suất nông nghiệp và cải thiện cuộc sống, nghề nghiệp của người dân nông thôn cũng như đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế thế giới. FAO cam kết cung cấp hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật chất lượng cao và trợ giúp trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lương thực. www.fao.org.vn 2 KỸ THUẬT CANH TÁC CÓI I. MỞ ĐẦU Cây cói là cây trồng chính, đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội của nhiều người dân ở các tỉnh ven biển Việt Nam. Sản phẩm từ cói rất đa dạng bao gồm sản phẩm cói thô (quại cói) đến các mặt hàng thủ công như: thảm, chiếu, túi sách, vv…, đặc biệt là trong thời điểm hiện nay nhu cầu của thế giới về các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, trong đó có sản phẩm từ cói ngày một gia tăng. Bên cạnh giá trị làm các mặt hàng thủ công, theo một số nghiên cứu gần đây còn cho thấy, cây cói còn có giá trị về mặt dược học (làm thuốc). Theo Đỗ Tất Lợi, dùng củ cói (thân rễ) chữa bí tiểu tiện, thuỷ thũng, tích bụng báng, đau bụng, tiêu hoá kém. Theo tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam, thần ngầm chứa 3.1% tanin, 0.7% flavonoid, 0.5% tinh dầu và 0.5% alkaloid. Theo Đỗ Tất Lợi (1977) bài thuốc có củ cói dùng chữa cho trẻ em gầy yếu như sau: Củ cói sao vàng (40g), vỏ chuối tiêu chín còn tươi (240 g), bột thịt cóc 40g,. Sấy khô và tán nhỏ củ cói và vỏ chuối thành bột; trộn đều với bột thịt cóc, thêm kẹo mạch nha vào làm thành viên. Mỗi viên 4 g, ngày cho ăn 2-4 viên, chia làm 2 lần. Hiện nay ở Việt Nam có 26 tỉnh, thành phố ven biển trồng cói tập trung ở 4 vùng lớn: Vùng ven biển Bắc bộ, ven biển Bắc Trung bộ, ven biển Nam Trung bộ, vùng ven biển Nam bộ. Trong đó các tỉnh Thanh Hoá, Ninh Bình, Vĩnh Long, Long An là những tỉnh có diện tích cói lớn. II. NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÂN BỐ Trên thế giới cói có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Á, sau đó được mở rộng ra phía tây tới I Rắc, Ấn Độ, phía bắc tới Nam Trung Quốc, phía nam tới châu Úc và Indonêsia. Cói cũng được nhập vào trồng ở Braxin để làm nguyên liệu đan lát. Hiện nay, 1 được biết, cây họ cói phân bố rộng khắp thế giới, nhiều nhất ở Bắc bán cầu với trung tâm đa dạng là miền nhiệt đới châu Á và Nam Mỹ. Tại Việt Nam,1 cách đây 5 thế kỷ nhân dân ta đã biết trồng Cói và dệt chiếu. Hiện nay, cây cói đã được trồng và canh tác tại 26 tỉnh, thành phố ven biển với diện tích 12.859ha, tập trung ở 3 vùng lớn: (1) Vùng đồng bằng Sông Hồng, (2) Vùng duyên hải Bắc Trung Bộ; (3) Vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cói có thể sống ở nơi khô cạn, ẩm ướt và ngập nước; nước lợ hay chua phèn… Nói chung điều kiện sinh thái của các loài cói trong chi cói là rộng rãi vì vậy đại diện của chúng có thể gặp ở nhiều nơi. III. PHÂN LOẠI THỰC VẬT CÓI Trong hệ thống phân loại thực vật, cây cói được phân loại như sau: Giới (regnum) Ngành (divisio) Lớp (class) Bộ (ordo) Họ (familia) Phân họ (subfamilia) Chi (genus) Loài : Plantae : Magnoliophyta : Liliopsida : Cyperales : Cyperaceae : Cyperoideae : Cyperus : Cyperus malaccensis Lam. Cói, tên phổ biến tiếng Anh là Shichito matgrass, thực vật một lá mầm (Monocotyledones hay Liliopsida) gồm cả cây trồng và cây mọc hoang dại thuộc chi cói (Cyperus), họ cói (Cyperaceae ), bộ cói (Cyperales). Họ cói có khoảng 95 chi với 3800 loài, phân bố rộng rãi khắp nơi, đặc biệt là ở vùng ôn đới và hàn đới. Trong đó chi Cyperus có 61 loài, đa phần là các loài hoang dại. Chi cói được mô tả chung là các loài cỏ nhiều năm có thân rễ hoặc cỏ hàng năm với rễ sợi. Thân 3 cạnh hay hình trụ. Lá hình đường, 1 theo sách Vân Đài Lại Ngữ của Lê Quí Đôn 2 đôi khi hình mũi mác. Cụm hoa dạng anten hay thu ngắn lại thành đầu gồm các bông. Hoa lưỡng tính, không có bao hoa. Nhị có 2-3. Quả 3 cạnh, đôi khi dẹp; đầu nhụy xẻ 3, đôi khi xẻ 2. Một số loài, giống cói phổ biến ở Việt Nam - Cói bông trắng dạng đứng/Cổ khoang bông trắng dạng đứng (C. tegetiformis Roxb) : Là loài cói được trồng phổ biến, ưu thế cho các vùng ven biển, nơi triều cao, đất bùn, đồng cói trong đê. Tiêm mọc đứng, thân màu xanh dài 60-200cm, đường kính (4,55,5mm), tiết diện thân hình tam giác hơi tròn. Cói Cổ khoang bông trắng dạng đứng sinh trưởng, phát triển tốt cho tỷ lệ cói dài tương đối cao, năng suất đạt cao nhất, thích hợp cho sản xuất chiếu xuất khẩu. - Cói Bông trắng dạng xiên/Cổ khoang bông trắng dạng xiên (C. tegetiformis Roxb) : Có tiêm mọc xiên, thân màu xanh đậm dài 80-200cm, đường kính (6-7mm), tiết diện thân ba cạnh góc nhọn. Cói Cổ khoang bông trắng dạng xiên sinh trưởng mạnh cho tỷ lệ cói loại 1 cao nhất (38,46%), năng suất và chất lượng ở mức trung bình. Khả năng chống chịu sâu bệnh và chống đổ kém, thích hợp cho sản xuất chiếu để xuất khẩu. - Cói Bông nâu/ Cói hoa tán/ Lác Tản phòng (C. corymbosus Rottb) : Phân bố trong trảng cỏ và được trồng chủ yếu ở vùng ven biển. Tiêm mọc đứng, thân có màng ngăn ngang mờ màu xanh vàng, cao 60-150cm, đường kính 4-5mm, tiết diện thân 3 cạnh góc tù (hơi tròn). Cói bông nâu sinh trưởng phát triển chậm, năng suất ở mức trung bình, không có cói loại 1 nhưng hàm lượng xenlluloza cao nhất (45%) thích hợp với sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ để xuất khẩu. - Cói chiếu (C. malaccensis Lamk) : Có tính thích ứng rộng, trồng được tại các vùng cửa sông, ven biển từ Quảng Ninh đến Cà Mau và cả một số vùng trên đất liền như Lạng Sơn, Hà Nội, Gia Lai… Tiêm mọc đứng, thân màu xanh cao 60-180cm, đường kính 1-1,2mm, tiết diện thân hình tam giác ba cạnh mặt lõm. Cây 3 sinh trưởng phát triển khá, năng suất ở mức khá, chất lượng cói tốt thích hợp với sản xuất chiếu thảm, đệm và nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ để xuất khẩu. - Cói bông cách/ U du/ U du thưa/ Lác Bông cách (C. distans) : Có phổ thích ứng rộng, mọc rải rác ở vùng núi, trung du, đồng bằng; trong trảng cỏ, ven rừng, ven đường, đồng ruộng, đầm lầy, độ cao tới 1.000m. Tiêm mọc đứng, thân màu xanh vàng, cao 3080cm, đường kính 2-3mm, tiết diện thân hình tam giác ba cạnh. Cây sinh trưởng phát triển trung bình, năng suất trung bình, chất lượng cói thích hợp cho sản xuất thảm, đệm. - Cói mào/ Cói cao/ U du/ Lác Mào (C. elatus L): Phân bố thành đám nhỏ ở vùng đồng bằng, ven biển; trong trảng cỏ, đồng ruộng, đầm lầy, ao hồ, đất chua hay lợ. Tiêm mọc đứng, thân màu xanh, cao 50-110cm, đường kính 4-7mm, tiết diện thân hình tam giác ba cạnh. Cây sinh trưởng phát triển mạnh, năng suất trung bình, chất lượng cói thích hợp cho sản xuất thảm, đệm, thân có thể làm thức ăn cho gia súc. - Cói ba cạnh/ Lác ba cạnh/U du nghiên (Cyperus nutans Vahl): Phân bố thành các đám nhỏ ở vùng núi, trung du, đồng bằng, lẫn trong các ruộng trồng cói bông trắng, trong trảng cỏ, đầm lầy. Thân 3 cạnh, cạnh sắc, cây cứng và dòn, gốc to, ngọn nhỏ, cao 80-100cm, đường kính 1-1,5mm. Cây sinh trưởng phát triển chậm, năng suất thấp, chất lượng cói kém, chỉ để sản xuất thảm và đệm. - Cói bông lợp/ Lác bông lợp/(Cyperus imbricatus Retz): Mọc rải rác hay thành đám nhỏ ở vùng núi, trung du, đồng bằng, nơi ẩm ướt, trong ruộng, trong trảng cỏ, ở độ cao tới 1.000m. Thân 3 cạnh, cao 50-100cm, đường kính 7-8mm. Cây sinh trưởng phát triển trung bình, năng suất thấp, chất lượng cói kém. Thân để sản xuất thảm và đệm, làm thức ăn gia súc. - Cói U du cao/ U du cao/ Lác cao( Cyperus exaltatus Retz) : Phân bố thành các đám nhỏ ở vùng núi, trung du, đồng bằng, lẫn 4 trong các ruộng trồng cói Bông trắng, trong trảng cỏ, đầm lầy. Thân 3 cạnh ở phía đỉnh, cây cao 100-200cm, đường kính 57mm. Cây sinh trưởng phát triển mạnh, năng suất khá, chất lượng cói trung bình, chỉ để sản xuất thảm và đệm. IV. GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ SỬ DỤNG Tại các vùng cói chính người dân đang sản xuất và kinh doanh các mặt hàng cói nguyên liệu thô, chiếu dệt bằng tay truyền thống (chiếu chẻ), quại và lõi, thảm cói và chiếu xe đan xuất khẩu và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Sản phẩm cói không những tiêu thụ nội địa mà còn có giá trị xuất khẩu cao nếu như có thiết kế tốt. Trồng cói có tác dụng bảo vệ đê điều. Trồng cói có tác dụng cải tạo đất mặn. Ở Việt Nam cói còn được dùng làm thuốc, bộ phận được dùng là thân rễ hay thân ngầm. Thân ngầm chứa 3,1% tanin; 0,7% flavonoid; 0,5 % tinh dầu và 0,5% alkaloid. Thân lá của một số loài cói được dùng làm thức ăn gia súc. Ở một số loài khác có chứa tinh dầu và dầu béo với tỷ lệ thấp có khả năng cải tạo môi trường nước ở đất chua- mặn trở nên nhạt hơn. Một số loài cói dại có kiểu dáng và hoa làm cây cảnh cũng được một số nghệ nhân quan tâm phát triển. Bổi cói và các phế phụ phẩm từ cói được dụng làm phân bón hữu cơ V. ĐẶC TÍNH SINH VẬT HỌC 5.1. Đặc điểm thực vật học của cây cói Cấu tạo của cây cói gồm 2 phần chính: Phần dưới mặt đất và phần trên mặt đất. Phần dưới mặt đất có rễ và thân ngầm. Phần trên mặt đất gồm thân khí sinh, lá, hoa, quả và hạt. 5 Rễ: Rễ cói mọc từ các đốt của thân ngầm. Rễ bao gồm rễ ăn sâu, rễ ăn ngang và rễ ăn nổi. Rễ ăn sâu có tác dụng hút chất khoáng ở dưới sâu, rễ ăn ngang hút chất màu ở tầng mặt đất, rễ ăn nổi hút chất dinh dưỡng hoà tan trong nước. Rễ cói có khả năng ăn sâu đến 1m, nhưng tập trung đại bộ phận ở tầng đất 10-20cm. Rễ lúc non màu trắng, khi già chuyển sang màu nâu hồng, khi chết màu đen. Thân : Thân cói được chia làm 2 phần: phần nằm dưới đất (thân ngầm) và phần trên mặt đất (thân khí sinh) là đối tượng thu hoạch. *. Nhánh hút, thân ngầm: Những mầm ăn sâu dưới đất gọi là nhánh hút, nhánh hút già đi thành thân ngầm. Nhánh hút và thân ngầm đều có đốt, mỗi đốt có vẩy (vẩy là hình thức thoái hoá của lá). Thân ngầm vừa giữ chức năng của thân vì có mắt có khả năng nảy mầm, vừa giữ chức năng tích luỹ và dự trữ. Nhánh hút và thân ngầm dùng để nhân giống vô tính. *. Thân khí sinh: Thân khí sinh là loại thân cỏ mọc thành cụm. Tiết diện cắt ngang thân thường 3 cạnh, lõm hoặc phẳng, phía gốc tròn hơn phía ngọn, màu xanh và xốp. Thân khí sinh lúc non màu xanh đậm bóng, lúc già màu vàng nhạt. Lá: Lá có bẹ ôm lấy thân mọc ra từ gốc, hai mép của bẹ thường dính nhau thành ống: lá xếp thành ba dãy theo thân. Lá gồm lá vẩy (vẩy) lá bẹ và lá mác. Lá vẩy hình thành sớm nhất có tác dụng bảo vệ thân ngầm. Lá bẹ có từ 2-4 cái, làm nhiệm vụ quang hợp và bảo vệ phần non ở gốc thân. Lá mác vừa làm nhiệm vụ quang hợp vừa bảo vệ hoa. Hoa : Hoa cói là loại hoa lưỡng tính, cấu tạo hoa rất đơn giản và kích thước nhỏ, theo hướng thích nghi với thụ phấn nhờ gió. Hoa chỉ có 3 nhị, bao phấn đính gốc và nhụy có đầu xẻ 3. Bộ nhụy 6 gồm ba lá noãn hợp thành bầu trên, một ô chỉ chứa một noãn, một vòi và ba đầu nhụy dài. Quả và hạt: Quả cói thuộc dạng quả hạch khô có 1 hạt, thường hình bầu dục hiếm khi hình trứng ngược hay thuôn. Hạt cói rất bé, có nội nhũ bột bao quanh phôi, gieo có thể mọc thành cây. 5.2. Thành phần sinh hóa trong cây cói Trong thân khí sinh khô của cây cói nước chiếm 13-14%, đạm có 1,06%, lân 0,41%, kali 1,03% và tro 3,65%. Thành phần trong thân khí sinh chẻ đôi gồm có nước 14,5%, chất xơ toàn phần 21,2%, pectin 1,41%, pentosan 16,54%, lignin 6,55% và các chất hào tan trong NaOH 1% có 29,9%( Nguyễn Hữu Nghĩa, Anh Hương, 1986) 5.3. Sự sinh trưởng và phát triển của cây cói Thời gian sinh trưởng của cây cói ( từ thân khí sinh phát triển đến khi ra hoa, xuống bộ, lụi chết) vòng đời chỉ trong phạm vi 34 tháng, song tuổi thọ phần thân ngầm của cả bụi cói lại kéo dài tới hàng chục năm hoặc hơn tuỳ theo điều kiện đất đai và kỹ thuật chăm sóc. Một chu kỳ sinh trưởng của cây cói từ nẩy mầm của thân ngầm đến thu hoạch được chia thành 4 giai đoạn chính: nẩy mầm của thân ngầm, đâm tiêm và đẻ nhánh, vươn cao, ra hoa và chín. Các thời kỳ sinh trưởng phát triển này chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố ngoại cảnh và có mối liên quan chặt chẽ với các yếu tố cấu thành năng suất. Thời kỳ nẩy mầm của thân ngầm Thời kỳ nẩy mầm bắt đầu sau khi cấy mống cói (thân ngầm có mang 1 đoạn thân) xuống ruộng. Trong điều kiện thuận lợi, các mầm nằm ở các đốt phía trên thân ngầm sẽ nẩy mầm phát triển thành nhánh mới. Mỗi thân ngầm thường có 4 mầm trong đó mầm 1 và 2 luôn luôn ở trạng thái hoạt động, mầm 3 và 4 ở trạng thái ngủ được lá bẹ và lá vảy bảo 7 vệ. Khi gặp hoàn cảnh bất lợi như ngập nước, nồng độ muối cao thì mầm 1 và 2 bị ngập và có thể chết còn mầm 3 và 4 thì an toàn, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ tiếp tục phát triển. Thời kỳ đâm tiêm và đẻ nhánh Đâm tiêm là giai đoạn đầu của đẻ nhánh. Từ mầm 1 ở thân ngầm sẽ mọc ra 2 nhánh, hai nhánh mọc ra từ một thân mầm sẽ tạo thành hai ngọn, khi các nhánh đó nhô lên khỏi mặt đất từ 5-20cm các lá mác vẫn chưa xoè ra được gọi là cói đâm tiêm. Sau khi tiêm mọc 5-7 ngày lá mác xòe ra gọi là đẻ nhánh. Thời kỳ đâm tiêm của cói chiếm một thời gian dài trong quá trình sinh trưởng và phát triển. Số lượng và chất lượng tiêm cói quyết định năng suất và phẩm chất cói. Thời kỳ vươn cao Sau khi nhánh đã có lá mác vượt quá 10cm khỏi lá bẹ, thân cói bắt đầu vươn cao. Thời gian vươn cao kể từ khi nhánh xuất hiện đến khi thân ngừng sinh trưởng kéo dài khoảng 30-45 ngày. Nhiệt độ có ảnh hưởng đáng kể đến thời kỳ vươn cao, ở nhiệt độ 25-270C cói sinh trưởng mạnh. Nhiệt độ thấp hạn chế vươn cao, làm cho cây cói nhỏ, thấp, chóng lụi. Nhiệt độ cao kèm theo mưa có tác dụng thúc đẩy cói vươn cao. Thời kỳ ra hoa và chín Cói chỉ ra hoa trong điều kiện ngày ngắn. Mầm hoa hình thành ở kẽ lá mác phía đầu thân khí sinh. Đối với vụ cói chiêm ở miền Bắc, cói ra hoa rộ từ tháng 5, đến trung tuần tháng 6 thì lụi dần. Còn vụ cói mùa thì ra hoa rộ vào tháng 8, đến trung tuần tháng 9 thì bắt đầu lụi. Hoa phơi màu và chín từ dưới lên trên. Hoa đầu tiên và hoa cuối cùng trên bông thường ra cách nhau 9-10 ngày. 5.4. Đặc điểm sinh lý Cói là cây chịu mặn và cần có độ mặn thích hợp để đảm bảo chất lượng sản phẩm. Để đạt năng suất cao phẩm chất cói tốt, ngoài yếu tố đất thịt nhiều màu, đất cần có độ mặn từ 0,1-0,2% là tốt 8 nhất. Các kiểu gen khác nhau có tính chịu mặn khác nhau. Giống cói Nhật, đây là giống cói được trồng ở vùng nước ngọt, có phản ứng khá rõ rệt với độ mặn. Ở mức độ mặn thấp dưới 1‰ cói Nhật sinh trưởng tốt, tuy nhiên khi độ mặn tăng cao thì sự sinh trưởng bị hạn chế đáng kể, đặc biệt là khi độ mặn vượt cao hơn 2‰. Giống cói Udu có khả năng chịu mặn khá tốt, ở mức độ mặn cao 4-8‰ cói Udu vấn sinh trưởng phát triển bình thường. VI. YÊU CẦU SINH THÁI 6.1. Nhiệt độ Nhiệt độ thích hợp cho cói sinh trưởng phát triển là 22-280C, ở nhiệt độ thấp cói chậm phát triển, khi nhiệt độ thấp dưới 120C cói ngừng sinh trưởng, nếu cao hơn 350c ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cói đặc biệt là vào giai đoạn cuối, sinh trưởng chậm.Ở nhiệt độ cao, cói mau xuống bộ (héo dần từ ngọn xuống dưới). 6.2. Ánh sáng Cói là cây không phản ứng chặt với quang chu kỳ. Sự ra hoa không phụ thuộc vào thời gian chiếu sáng trong ngày. Cói là cây ưa sáng. Cói cần nhiều ánh sáng ở thời kỳ đẻ nhánh, sau khi đâm tiêm và lá mác đã xoè. Ánh sáng có ảnh hưởng trực tiếp đến quang hợp của cây và khả năng vươn dài của cói. 6.3. Gió Tốc độ gió vừa phải, có ảnh hưởng tốt đến việc lưu thông không khí, điều hòa độ ẩm, giảm sâu bệnh hại, cây sinh trưởng tốt. Tuy nhiên tốc độ gió lớn ảnh hưởng đến khả năng đồng hóa của cây. Gió mùa đông bắc, gió heo may ảnh hưởng làm cói mau tàn, mau xuống bộ. 6.4. Nước 9 Nước cũng là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của câyc cói. Trong cây cói trồng, nước chiếm từ 80-88%, do vậy nước là nhu cầu quan trọng để cói sinh trưởng, phát triển. 6.5. Yêu cầu về đất Cói là cây chịu đất mặn, và cần có độ mặn thích hợp để đảm bảo chất lượng sản phẩm. Song loại đất thích hợp nhất cho cây cói là đất phù sa, màu mỡ vùng ven biển, hoặc ven sông nước lợ, độ sâu tầng đất từ 40-50cm trở lên; độ chua pH từ 6-7; độ mặn từ 0,10-0,20%, thoát nước. 6.6. Dinh dưỡng khoáng Cây cói có khả năng hút chất dinh dưỡng rất mạnh để sinh trưởng tạo sinh khối, nghĩa là càng bón nhiều phân, cây cói càng hút nhiều. Bón đủ đạm làm cho cói đâm tiêm nhanh, nhiều, chóng kín ruộng, sinh trưởng mạnh, thân cao, to, chậm ra hoa và lụi, năng suất tăng rõ rệt. Bón lân có tác dụng tăng chất lượng cói rõ rệt. Bón đủ lân cây cói cứng chắc, sợi bền và trắng bóng hơn, tỷ lệ cói chẻ tăng. Ngoài ra lân còn có tác dụng làm cho cói chín sớm và hạn chế sâu bệnh. Bón Kali có ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng và tác dụng làm tăng chất lượng cói, giúp cói cứng cây, giảm sâu bệnh và làm cho sợi cói trắng bóng hơn. VII. THỰC TRẠNG CANH TÁC CÓI Ở VIỆT NAM Việt Nam có 26 tỉnh, thành phố ven biển trồng cói, tập trung ở 3 vùng sinh thái lớn: vùng đồng bằng sông Hồng, vùng duyên hải Bắc Trung Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó các tỉnh Thanh Hoá, Ninh Bình, Vĩnh Long, Trà Vinh là những tỉnh có diện tích cói lớn nhất. 10 Hiện nay trong sản xuất cói nổi cộm một số vấn đề sau: - Giống trong sản xuất thoái hóa Ở các vùng trồng cói nói chung, huyện Nga Sơn nói riêng, mặc dù cây cói đã được trồng gần vài trăm năm nay nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nào về việc chọn lọc, phục tráng giống cói. Giống cói chủ yếu được người dân chọn lọc một cách tự phát. Do không được chọn lọc tốt, nên hấu hết các giống cói có độ lẫn tạp cao (lẫn sinh học: sự lai tạp trong quá trình ra hoa thụ phấn; lẫn cơ giới), giống bị thoái hóa là một trong những nguyên nhân làm năng suất và chất lượng cói suy giảm. - Kỹ thuật canh tác cói chưa hợp lý Cói là cây trồng ở các vùng đất ven biến (nước lợ), từ việc trồng quảng canh cho thu hoạch một vụ/năm, nay tiến hành trồng trọt thâm canh, thu hoạch 2 vụ/năm thậm chí một số hộ gia đình thu hoạch 3 vụ/năm. Mặt khác, cói được thâm canh theo phương pháp “tưới tràn, tháo kiệt” nghĩa là khả năng phân bón bị rửa trôi cao nếu như không có biện pháp bón phân thích hợp, do vậy đầu tư phân bón cho ruộng cói ngày một tăng. Theo số liệu điều tra của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (2006) thì đầu tư bình quân cho 1 ha trồng cói một vụ khoảng 1000-1200 kg đạm urê. Trong khi đó, khoảng 20-30 năm trước trồng cói hầu như không có đầu tư phân đạm. Bón phân đạm nhiều làm cho cói nhanh chết sau cắt, chu kỳ trồng cói rút ngắn (trước kia sau trồng từ 8-10 năm mới đảo cói một lần thì nay chỉ 3-5 năm), cói không chắc, cói kém dai hơn, dòn hơn… Bón nhiều đạm, mất cân đối làm cho cói dễ bị nhiễm sâu bệnh hơn, năng suất và chất lượng cói suy giảm. - Đầu tư chi phí cho vùng cói Đa phần các vùng trồng cói là những vùng nông thôn nghèo ven biển, vì vậy khả năng đầu tư thâm canh cây cói của hộ dân còn 11 nhiều hạn chế. - Sử dụng phân bón cho cói kém hiệu quả Phương pháp bón phân hiện nay nông dân đang sử dụng là phương pháp bón vãi truyền thống. Phương pháp bón này phụ thuộc nhiều vào thời tiết, chế độ tưới tiêu. Do nhu cầu sản lượng cói của thị trường, nông dân đã tập trung bón phân cho cây cói (Vụ xuân từ 4-5 lần và chủ yếu sử dụng phân đạm với lượng trung bình 36,5 kg/sào 500m2; vụ mùa lượng phân trung bình 30 kg/sào (Bảng 6). Số liệu cho thấy lượng phân bón mà người dân sử dụng là quá nhiều gấp 2 -3 lần so với nhu cầu của cây cói và với kỹ thuật bón vãi đã làm lãng phí (70 – 80%) lượng phân bón gây ô nhiễm môi trường (Ninh Thị Phíp, 2009). Mức độ và số lần bón đạm u rê cho cói của nông dân (kg/sào) Vụ chiêm Trung Cao Thấp bình nhất nhất 36.5 50 31 Vụ mùa Trung Cao Thấp bình nhất nhất 30 36 26 Cói 1 vụ/năm Trung Cao Thấp bình nhất nhất 30 35 22 Lần 1: tháng 2-3 Lần 1: Tháng 6-7 Lần 1: Tháng 4 Lần 2: tháng 4 Lần 2: Tháng 8 Lần 2: Tháng 6 Lần 3: Tháng 5 Lần 4: cuối tháng 5 Lần 3: Tháng 9 - Lần 3: Tháng 8 - - Quản lý nước kém hiệu quả Trong số 6 nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cói, ảnh hưởng nhiều nhất là do thiếu nước ngọt và không đủ nước cho cây cói sinh trưởng dẫn đến đất bị hạn và nồng độ muối cao, tiếp đến là sâu bệnh. Hiện nay tại hầu hết các vùng trồng cói chưa có hệ thống kênh mương hoàn chỉnh. Nguồn nước ngọt cung cấp có nguy cơ thiếu hụt, nhất là trong vụ đông xuân (tháng 11-3 năm sau) đối với các tỉnh Miền Bắc. Nguồn nước ngọt cung cấp thiếu dẫn đến việc xâm thực của nước biển càng vào sâu trong đất liền, nhiều cánh đồng 12 trồng cói thiếu nước ngọt, độ mặn tăng làm cói bị chết hàng loạt. - Sâu bệnh ngày càng nhiều hơn, chi phí bảo vệ thực vật tăng cao Theo số liệu điều tra của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (6/2006), chi phí đầu tư riêng cho tiền thuốc bảo vệ thực vật mỗi sào cói (360 m2) trên một vụ hết trung bình khoảng 57.600 đồng. Cói cũng như những cây trồng khác, cần phải áp dụng cùng một lúc nhiều biện pháp phòng trừ dịch hại, tiến tới xây dựng một quy trình quản lý dịch hại tổng hợp cho cói, lấy biện pháp canh tác làm trung tâm, sử dụng mống cói khoẻ và sạch bệnh, bón phân đầy đủ và cân đối làm tăng cường sức chống chịu dịch hại cho cói. Tránh lạm dụng thốc hóa học như hiện nay, mà chỉ nên sử dụng khi thực sự cần thiết. - Môi trường khu vực trồng cói đang bị ô nhiễm Lượng phân đạm sử dụng có xu hướng ngày càng tăng ở các vùng trồng cói, sử dụng thuốc hóa học trong bảo vệ thức vật một cách tràn lan, … đang làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh như tăng hàm lượng nitrat trong nước ngầm, ô nhiễm đất, không khí… qua đó ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân nhất là ở các vùng trồng cói thường thiếu nước ngọt vào mùa khô. - Công nghệ sau thu hoạch còn hạn chế Ngoài các yếu tố trong kỹ thuật canh tác, chất lượng (hình thái và màu sắc bề ngoài, độ dẻo, độ dai, …) chất lượng sản phẩm cói còn phụ thuộc nhiều vào công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch. Công nghệ sau thu hoạch đối với sản phẩm cói hiện nay chủ yếu là thủ công như: hoạt động cắt cói, phân loại cói, chẻ cói dẫn đến năng suất lao động thấp. Phơi cói chủ yếu tận dụng bờ ruộng, lề đường đi lại, một phần sân phơi gia đình… và hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu thời tiết. Các nguyên nhân trên dẫn đến không chủ động trong sản xuất và chế biến cói, năng suất lao động thấp, chất lượng cói chưa cao. - Những khó khăn của người dân vùng cói 13 Giá cói khô có sự biến động rất mạnh, đang từ 5.000 – 7.000đ/kg xuống chỉ còn khoảng 1.000 đ/kg chỉ trong vòng vài năm (20062008), đã tác động không nhỏ đến sự phát triển của các vùng trồng cói. Một số địa phương đã có chủ trương chuyển một phần diện tích cói sang trồng lúa, nuôi trồng thủy sản. Người dân thì chán nản, bỏ bê việc đầu tư chăm sóc cây cói. Các yếu tố khác như cơ sở vật chất hạ tầng bao gồm diện tích phơi, nhà kho, thiết kế hệ thống kênh mương, v.v. yêu cầu đầu tư ban đầu cao cũng đang là những trở ngại đối với việc khôi phục lại diện tích cói đã trồng trước kia. Do thu nhập từ cói rất bấp bênh, có nhiều dủi do về mặt thị trường, nên hầu hết những vùng trồng cói là những vùng nghèo. Các cây trồng khác như lúa, ngô v.v. được nhà nước quan tâm đầu tư hỗ trợ kỹ thuật, tập huấn khuyến nông, quy hoạch sản xuất.v.v. nhưng với cây cói thì hầu như vẫn giữ các biện pháp kỹ thuật canh tác truyền thống và bộ giống cũ đã bị thoái hóa. 14 VIII. QUY TRÌNH THÂM CANH CÓI 8.1. Chuẩn bị giống Sử dụng ruộng cói đúng giống, lưu gốc từ 3-5 năm để nhổ tỉa lấy mống (tách mống cói). Chọn mầm cói khi tách có chiều cao từ 15 -30 cm, đường kính từ 3 – 5 mm, là tốt nhất. Nếu sử dụng cây cói đã trưởng thành để nhân giống, nên cắt ngắn còn 30 cm. Tách mống để trồng, 2 - 3 mầm/khóm. Sau khi tách mầm cói nên trồng ngay. Trong điều kiện chưa kịp chuẩn bị đất, có thể bảo quản trong bóng mát, giữ ẩm gốc từ 3 – 5 ngày. Tỉa mống từ 1 sào có thể cung cấp giống trồng cho 8 sào. Làm đất Chọn ruộng đất thịt, phù sa tốt ở ven biển, ven sông nước lợ có độ mặn từ 0,1-0,2%; độ pH từ 6-7; độ sâu tầng đất trên 50cm, có độ sâu bùn 30-40cm, lớp cuối cùng không có cát trắng. Chọn chân ruộng có nước vào ra, lên xuống dễ dàng. Làm đất tơi nhuyễn kết hợp diệt cỏ dại theo các bước sau: Lần đầu cày sâu 18-20cm, tiếp tục bừa vỡ rồi cho nước vào xăm xắp vài hôm để cỏ mọc, sau đó bừa nhuyễn rồi cho nước ngập 20-25cm ngâm 7-10 ngày. Tiếp tục cày lật ở độ sâu 13-15cm, bừa vỡ lại cho nhừ cỏ, tiếp tục cho nước ngập 10-15cm trong 7-10 ngày sau đó rút nước bừa lại cho phẳng mặt ruộng 15 Dược để cấy cói: Bừa dược lần cuối phải tạo mặt ruộng thành hình mu rùa để thoát nước, ráo chân. Đối với những ruộng cói cũ, sau một thời gian trồng cói nhất định phải tiến hành đảo cói do năng suất lúc này giảm thấp. Thời gian tiến hành đảo cói thường từ 4 - 6 năm hoặc lâu hơn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mức độ thâm canh, mật độ và khoảng cách cấy mống ... Tuỳ theo điều kiện mà người dân có thể tiến hành các biện pháp làm đất cho phù hợp như sau: + Lộn trở đất hay còn gọi là đảo cói: Hoạt động này được thực hiện bởi hai người. Người thứ nhất sử dụng một dụng cụ bằng tay gọi là mong để đào đất thành từng tảng có kích thước 20 x 20cm và sâu 25 - 30cm. Sau đó, người thứ hai lật ngửa tảng đất lên và cói được lật úp xuống phía dưới. Vì biện pháp này tiến hành thủ công nên tốn rất nhiều công lao động. Hơn nữa, mặt ruộng sau khi tiến hành đảo cói xong không được bằng phẳng gây đọng nước ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây cói sau này. + Lật nghiêng nền đất trên ruộng cói: Tiến hành làm sạch mặt ruộng cói cũ, để nguyên gốc cói và tiến hành đào đất như trường hợp đảo cói. Sau đó, lật nghiêng tảng đất 900 theo cùng chiều và đảm bảo các mặt nghiêng có phần gốc cói tạo thành hàng tương tự trồng cói. Trong biện pháp làm đất này, từ gốc cây cói cũ sẽ mọc lên những chồi non và mọc thành cây mới. So với phương pháp đảo cói, phương pháp này không tốn công chọn giống và trồng cói. + Đào đất chuyển đi nơi khác để hạ thấp mặt bằng rồi mới trồng cói: Đây là biện pháp thường áp dụng đối với những vùng đất cói có chân ruộng cao hơn so với mực nước biển, không thuận lợi cho việc tưới nước. Kỹ thuật hạ thấp mặt ruộng cói bằng cách đào đất 16 giống như đảo cói, rồi tiến hành chuyển đất đi nơi khác, sau đó mới tiến hành làm sạch ruộng để trồng cói. * Làm cỏ chuẩn bị ruộng cấy: - Xử lý thuốc trừ cỏ trước khi tiến hành cấy cói từ 3 - 5 ngày. Làm cỏ bằng tay, vơ sạch cỏ dại lên bờ(không vùi lấp xuống bùn). - Xử lý thuốc diệt cỏ tiền nảy mầm: Sử dụng thuốc Butanic hoặc Heco với lượng 40 - 50ml/10l nước phun đều cho 1 sào. Sau khi phun nên giữ nước ở mức 3 - 5cm trong 4 - 5 ngày, tránh để mất nước làm nứt nẻ mặt dược(mặt ruộng), giảm hiệu quả của thuốc. * Làm rãnh tưới và nhong: Trên mặt ruộng, vét một rãnh nhỏ rộng 30cm, sâu 10 - 15cm. Ngoài ra, xung quanh ruộng cũng làm nhong để thuận cho tưới tiêu và hạn chế cỏ dại lây lan vào ruộng. Trong điều kiện sản xuất với qui mô lớn phải trồng cói thành vùng tập trung, gồm nhiều khu nhỏ có hệ thống đê, cống, kênh và mương để chủ động tưới tiêu. 8.2. Thời vụ Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của giống cói và điều kiện cụ thể của từng vùng sinh thái để chọn thời vụ thích hợp nhất. Tại các tỉnh đồng bằng Bắc bộ có thể tiến hành trồng vào 2 thời vụ: Vụ chiêm, trồng vào các tháng 3-4 đến tháng 9-10 thu hoạch vụ đầu. Vụ mùa, trồng vào tháng 7-8 đến tháng 5-6 năm sau cho thu hoạch. Tại các tỉnh Bắc Trung bộ, thường cấy vào cuối mùa mưa( tháng Chạp, tháng Giêng ). Nếu trồng muộn thường gặp hạn, mặt ruộng bị chua mặn bốc lên làm cói dễ bị chết. 8.3. Phân bón Cây cói cần được bón nhiều phân nhất là phân đạm, cân đối với các nguyên tố dinh dưỡng mới sinh trưởng tốt, cho năng suất và 17 chất lượng cao, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh. Muốn bón phân cho cói có hiệu quả cần căn cứ vào tính chất đất, tình hình sinh trưởng của cây và sản lượng thu hoạch hàng năm. a) Phương pháp bón phân viên nén So với các biện pháp bón phân truyền thống khác, phương pháp bón phân viên nén có rất nhiều ưu điểm: viên phân với thành phần có đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng N, P, K và các nguyên tố dinh dưỡng khác cần thiết cho cây được bón sâu xuống tầng đất canh tác nên phân không bị rửa trôi, bay hơi, tăng hiệu quả sử dụng phân bón, giúp cây cói sinh trưởng, phát triển tốt, tăng năng suất và chất lượng cói. Các bước tiến hành như sau: - Chuẩn bị ruộng: Ruộng trước khi bón cần phải được vệ sinh sạch sẽ, làm sạch cỏ và bổi cói; phát éo ở độ cao 30 - 50cm. - Kỹ thuật bón phân viên cho cói: + Thời điểm bón: Bón vào đầu vụ cói: vụ xuân 15-25/3, vụ mùa 15-25/7 dương lịch. + Mực nước: Điều tiết mực nước trên ruộng lúc dúi phân 1-2cm. + Lượng phân viên nén: 17 kg/sào 360m2 + Phương pháp bón bón: Bón vãi đều trên mặt ruộng vào hai thời điểm: lần 1 vào đầu vụ chăm sóc với lượng bón 30 lượng phân viên nén + 13 kg supe lân; lần 2 bón với lượng 70% lượng phân viên nén sau lần bón thứ nhất 30 ngày; lần 3: bón thúc 3 kg đạm urê trước khi thu hoạch 25 ngày b) Phương pháp bón phân truyền thống(bón vãi) + Lượng phân bón: 25kg đạm urê + 15kg supe lân/sào 360m2 + Kỹ thuật bón được áp dụng theo phương thức nhẹ đầu nặng cuối, đợt 1 chiếm 9%, đợt 4 và 5 chiếm 56,2% lượng phân bón cho cả vụ. - Chế độ bón phân cho cói trồng mới: 18
- Xem thêm -