Tài liệu Kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện kim sơn tỉnh ninh bình

  • Số trang: 197 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 52 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH TRẦN HỒNG QUẢNG kinh tÕ n«ng th«n trong x©y dùng n«ng th«n míi ë huyÖn kim s¬n tØnh ninh b×nh Chuyên ngành : Kinh tế chính trị Mã số : 62 31 01 02 LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG THỊ BÍCH LOAN TS. NGUYỄN MINH QUANG HÀ NỘI - 2015 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng. Những kết quả khoa học của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào. Tác giả luận án Trần Hồng Quảng MỤC LỤC Trang 1 MỞ ĐẦU Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài 1.2. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam có liên quan đến đế tài 1.3. Tổng quan kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài và vấn đề đặt ra 5 5 10 24 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ NÔNG THÔN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 2.1. Lý luận chung về kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới 2.2. Vai trò, nội dung, các chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới 2.3. Kinh nghiệm của quốc tế và trong nước về phát triển kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới 26 26 41 57 Chương 3: THỰC TRẠNG KINH TẾ NÔNG THÔN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN KIM SƠN TỈNH NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2008 - 2013 3.1. Đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình ảnh hưởng đến kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới 3.2. Thực trạng kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình 3.3. Đánh giá chung 74 74 81 103 Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN KIM SƠN TỈNH NINH BÌNH ĐẾN NĂM 2020 4.1. Quan điểm cơ bản phát triển kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình 4.2. Những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đến năm 2020 KẾT LUẬN DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 115 115 120 153 156 157 170 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CĐML : Cánh đồng mẫu lớn CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH : Công nghiệp hóa CNTB : Chủ nghĩa tư bản CNTBNN : Chủ nghĩa tư bản nhà nước CN, TTCN : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp CN, TTCN - XD : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng GDP : Tổng sản phẩm kinh tế quốc dân HĐND : Hội đồng nhân dân HĐH : Hiện đại hóa HTX : Hợp tác xã KH - CN : Khoa học - công nghệ KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình KTNT : Kinh tế nông thôn KT - XH : Kinh tế - xã hội LLSX : Lực lượng sản xuất Nxb : Nhà xuất bản QHSX : Quan hệ sản xuất TBCN : Tư bản chủ nghĩa UBND : Ủy ban nhân dân VAC : Vườn ao chuồng WTO : Tổ chức thương mại thế giới XDNTM : Xây dựng nông thôn mới XHCN : Xã hội chủ nghĩa DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 3.1: Tổng hợp giá trị, cơ cấu ngành nghề nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản qua các năm Bảng 3.2: 82 Tổng sản lượng thủy sản vùng ven biển huyện Kim Sơn 2008-2013 83 Bảng 3.3: Chất lượng lao động huyện Kim Sơn 2008 - 2013 86 Bảng 3.4: Kết quả phát triển kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn của huyện Kim Sơn giai đoạn 2008 - 2013 Bảng 3.5: Kết quả phát triển hạ tầng thủy lợi nông thôn huyện Kim Sơn Bảng 3.6: 91 Kết quả phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông nông thôn huyện Kim Sơn Bảng 3.8: 89 Kết quả phát triển hạ tầng nước sạch và môi trường nông thôn huyện Kim Sơn Bảng 3.7: 88 92 Thu nhập bình quân lao động/năm và thu nhập bình quân đầu người/năm ở nông thôn huyện Kim Sơn qua các năm 102 DANH MỤC CÁC HÌNH Trang Hình 2.1: Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước của nền kinh tế quốc dân 42 Hình 3.1: Cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kim Sơn qua các năm 81 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày 5/8/2008, BCH trung ương Đảng (khoá X) ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó yêu cầu: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo qui hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường. Theo yêu cầu này, phát triển kinh tế nông thôn là nội dung chủ yếu của quá trình thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới. Kim Sơn là huyện “đặc thù” của tỉnh Ninh Bình, thành lập năm 1829, là kết quả của công cuộc khẩn hoang dưới sự lãnh đạo tài tình của Doanh điền tướng công Nguyễn Công Trứ, bằng mồ hôi, sức lực của mình, người Kim Sơn đã kiên cường chiến thắng thiên nhiên tạo một vùng quê mới Kim Sơn - “Núi vàng”. Là huyện duy nhất của tỉnh có biển, là huyện trọng điểm về chính trị, kinh tế của tỉnh Ninh Bình, là nơi có đông đồng bào công giáo, với tỷ lệ đồng bào công giáo chiếm 46,7% số dân, trên địa bàn có Tòa Giám mục Phát Diệm, 31 giáo xứ, 156 giáo họ; 31 nhà thờ giáo xứ, 113 nhà thờ giáo họ, 5 nhà nguyện, 1 đền Đức Bà. Trong những năm vừa qua, KTNT huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đã có bước phát triển khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, đang dần phá thế thuần nông. Ngành nông nghiệp tăng trưởng khá và ổn định. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề, làng nghề ở nông thôn phát triển khá mạnh. Các hình thức tổ chức sản xuất trong kinh tế nông thôn được đa dạng hoá. Kết cấu hạ tầng KT - XH nông thôn từng bước được hoàn thiện. Thu nhập của nhân dân tăng dần, người dân có thêm điều kiện đầu tư phát triển các công trình phúc lợi như điện, đường, trường, trạm, bộ mặt nông thôn được đổi mới, tiến bộ hơn trước. 2 Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế của huyện. Trước yêu cầu phát triển kinh tế nông thôn trong thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, còn rất nhiều việc mà huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình phải làm. Công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới trong đó có quy hoạch phát triển kinh tế nông thôn chưa đạt yêu cầu, chậm tiến độ, chất lượng không cao. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới hình thức tổ chức sản xuất chậm; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội yếu kém, còn nhiều khó khăn cả đầu tư và hiệu quả khai thác; nghiên cứu chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế. Công nghiệp và dịch vụ phát triển chậm chưa thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ở nông thôn. Vấn đề việc làm và thu nhập lâu dài của một bộ phận dân cư đã và đang đặt ra, tính bền vững trong phát triển kinh tế nông thôn đang là trở ngại trên con đường xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Ninh Bình, nhất là ở vùng có đông đồng bào công giáo như huyện Kim Sơn. Vì vậy trong xây dựng nông thôn mới đặt trong bối cảnh ở vùng có đông đồng bào công giáo ở tỉnh Ninh Bình, thì vấn đề xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn bền vững là nội dung chủ yếu, cốt lõi mang tính chất quyết định. Để góp phần vào giải quyết vấn đề bức xúc này, từ thực tiễn công tác trên địa bàn một huyện có đông đồng bào công giáo, tôi chọn đề tài: “Kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình” để nghiên cứu làm luận án Tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới; luận án phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, đề xuất quan điểm và giải pháp để phát triển kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới; nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhanh chóng xây dựng nông thôn mới có hiệu quả ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục đích trên, luận án tập trung làm rõ các nhiệm vụ sau: 3 - Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về KTNT trong xây dựng nông thôn mới. - Phân tích và đánh giá thực trạng kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình trong thời gian qua. - Đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đến năm 2020. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là KTNT trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Làm rõ vai trò của phát triển KTNT đối với xây dựng nông thôn mới. 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Về thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu KTNT trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình chủ yếu từ năm 2008 đến năm 2013. Phần đề xuất quan điểm và giải pháp đến năm 2020. - Về địa điểm nghiên cứu khảo sát: Huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình (nơi có tỷ lệ đồng bào công giáo trên 46,7% so với số dân). 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận nghiên cứu Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam, chính sách của Nhà nước về kinh tế nông thôn trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và xây dựng nông thôn mới. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sinh sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp kết hợp lôgíc với lịch sử. Ngoài ra, nghiên cứu sinh còn sử dụng một số phương pháp của kinh tế học gồm: phương pháp khảo sát, điều tra, phương pháp thống kê; ở đây tác giả luận án đặc biệt chú trọng phương pháp điều tra khảo sát dưới dạng các bảng hỏi và từ đó tổng hợp các ý kiến và đánh giá tổng hợp lại các ý kiến đã điều tra. 4 Đồng thời có kế thừa kết quả nghiên cứu của một số công trình của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án. 5. Đóng góp mới của luận án - Luận giải rõ nội dung và chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới. - Luận giải rõ vai trò của phát triển kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới, nhất là đáp ứng các yêu cầu của xây dựng nông thôn mới, khai thác hiệu quả kết quả của chuyển dịch cơ cấu KTNT, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cho huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình. - Đánh giá thực trạng kinh tế nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2008 - 2013. - Đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình đến năm 2020. 6. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu gồm thành 4 chương, 11 tiết. Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới. Chương 3: Thực trạng kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2008 - 2013. Chương 4: Quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đến năm 2020. 5 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1.1. Các Tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin - Tác phẩm Tư phản [76] của C.Mác và Ph.Ăngghen là một công trình nghiên cứu kinh tế hết sức vĩ đại. C.Mác đã phân tích một cách khoa học và triệt để chủ nghĩa tư bản với tính cách là một hình thái kinh tế xã hội, đã vạch ra các qui luật ra đời, phát triển và diệt vong của CNTB. Trong tác phẩm này C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề cập đến các lĩnh vực sau đây liên quan đến đề tài: + Về hiệp tác trong sản xuất Trong chương XI, C.Mác đã làm rõ hiệp tác giản đơn TBCN, ở đây C.Mác đã khẳng định hiệp tác giản đơn TBCN là lao động tập thể chưa có phân công. C.Mác đã chỉ ra những ưu thế của hiệp tác so với sản xuất nhỏ cá thể như: tiết kiệm được tư liệu sản xuất; tạo ra một sức sản xuất mới, đó là một sức sản xuất tập thể trong phần lớn các công việc sản xuất, ngay sự tiếp xúc xã hội cũng đẻ ra sự thi đua; rút ngắn được thời gian lao động cần thiết để làm ra tổng sản phẩm; giải quyết những công việc khẩn cấp, mùa vụ ... Đồng thời C.Mác cũng làm rõ những điều kiện để tiến hành hiệp tác đó là: Hiệp tác lao động đòi hỏi phải có sự quản lý, điều khiển, kiểm soát; tích tụ một khối lượng tư liệu sản xuất vào tay những nhà tư bản riêng lẻ; Kế toán với tư cách là phương tiện kiểm soát và khái quát quá trình sản xuất trên ý niệm. + Về tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp với thị trường sức lao động Trong chương XIII, về máy móc và đại công nghiệp, C.Mác đã nghiên cứu cuộc cách mạng về công cụ lao động, làm rõ sự phát triển của máy móc. C.Mác khẳng định: máy móc gồm ba bộ phận cấu thành là: máy động lực, máy truyền lực và máy công tác, trong đó bộ phận máy công tác có tính chất quyết định. Chính cái máy công tác là cái máy đã mở đầu cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ 6 XVIII. Hệ thống máy móc hình thành, cơ sở kỹ thuật thay đổi dẫn đến tổ chức sản xuất thay đổi: hoặc là hiệp tác của nhiều máy cùng loại, hoặc là hệ thống máy có sự phân công như trong công trường thủ công. C.Mác đã làm rõ những ưu thế của máy móc. + Về sự lạc hậu tương đối của nông nghiệp so với công nghiệp Trong chương XXIV, cái gọi là tích lũy ban đầu, C.Mác đã phân tích sự ra đời của CNTB ở Anh. Ở đây C.Mác đã làm rõ bí mật của tích lũy ban đầu, tích lũy ban đầu là việc tước đoạt ruộng đất của nông dân, tạo sự ra đời của các cơ sở sản xuất đầu tiên của tư bản. C.Mác đã trình bày những đòi hỏi về bạo lực để tước đoạt ruộng đất của dân cư ở nông thôn. Những luận điểm của C.Mác chỉ rõ xuất phát điểm ban đầu từ nông nghiệp, do có tiến bộ của công cụ lao động, công nghiệp dần tách khỏi nông nghiệp và nhanh chóng trở thành ngành sản xuất chính có nhiều ưu thế so với ngành nông nghiệp, chính vì lẽ đó nông nghiệp luôn lạc hậu tương đối so với công nghiệp. - V.I.Lênin trong tác phẩm “những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền xô viết” [64] đã tập trung làm rõ: Nâng cao năng suất lao động và ý nghĩa xã hội của nó là một bộ phận cấu thành quan trọng trong học thuyết của Lênin. Nâng cao năng suất lao động là điều kiện chủ yếu để nâng cao mức sống của nhân dân. Một bộ phận cấu thành kế hoạch hợp tác hoá của Lênin là nâng cao trình độ văn hoá của nông dân. Cách mạng văn hoá còn có ý nghĩa lớn hơn nữa, ngay cả trong điều kiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nó vẫn cần thiết cho việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật thích hợp và nâng cao nhanh chóng trình độ văn hoá của nhân dân. - V.I.Lênin trong tác phẩm “Bàn về thuế lương thực” [67], để thấy rõ hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, đã dành một phần quan trọng nói về tính tất yếu và vai trò của CNTB nhà nước trong nền kinh tế thời quá độ. Lênin cũng chỉ rõ tính tất yếu khách quan của sự tồn tại các quan hệ TBCN trong thời kỳ quá độ và đề ra nhiệm vụ phải hướng sự phát triển của chúng vào con đường CNTB nhà nước. Trong tác phẩm này Lênin cũng nêu những hình thức 7 của CNTB nhà nước, đó là các hình thức: Tô nhượng, Chủ nghĩa tư bản hợp tác xã, đại lý, Nhà nước cho các nhà tư bản thuê xí nghiệp, vùng mỏ, khu rừng, khu đất… - V.I.Lênin trong tác phẩm “Bàn về chế độ hợp tác xã” [69] đã chỉ ra ý nghĩa đặc biệt của chế độ hợp tác xã trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính chế độ hợp tác xã cho phép kết hợp đúng đắn lợi ích cá nhân của người sản xuất hàng hoá nhỏ với lợi ích của xã hội, cho phép nhà nước thực hiện kiểm tra, kiểm soát, làm cho lợi ích tư nhân phục tùng lợi ích xã hội. Cái chính là chế độ hợp tác xã được bắt đầu bằng những hình thức đơn giản nhất: hợp tác xã cung tiêu, HTX mua bán, sau đó là hợp tác xã sản xuất - đó là hình thức đơn giản nhất, dễ tiếp thu và dễ hiểu nhất đối hàng triệu quần chúng nông dân. Lênin đã xem xét chế độ hợp tác xã gắn liền với sự phát triển và củng cố nền kinh tế xã hội chủ nghĩa (nói riêng là nền nông nghiệp). Trong những năm đầu, khi nền nông nghiệp còn yếu ớt, hợp tác xã cung tiêu hoạt động kết hợp với chủ nghĩa tư bản nhà nước; khi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa được củng cố, hợp tác xã gắn liền với ngành nông nghiệp xã hội chủ nghĩa, Lênin xác định hợp tác xã là một biện pháp hết sức quan trọng để giải quyết nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế nông nghiệp nhiều thành phần. 1.1.2. Các công trình khoa học của các học giả, tổ chức quốc tế Kinh tế nông thôn là một chủ đề đã được các nhà nghiên cứu ở nước ngoài quan tâm nhiều, ở những góc độ khác nhau. Trong thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu thuộc tổ chức Nông Lương của Liên hiệp quốc (FAO) và ở các nước như Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc... đã đưa ra một số công trình nghiên cứu về kinh tế nông thôn mà Việt Nam có thể tham khảo: - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: “Công nghiệp hóa nông thôn Hàn quốc: Bài học cho phát triển nông thôn Việt Nam” [116] gồm 24 bài viết của các học giả quốc tế và trong nước trình bày các nội dung công nghiệp hóa nông thôn ở Hàn Quốc; xu hướng phát triển nông thôn mới ở Hàn Quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn trong phát triển bền vững ở Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; kinh nghiệm phát triển nông thôn mới ở Hàn Quốc và bài học cho phong trào nông thôn mới ở Việt Nam. Đặc biệt kỷ yếu phân tích rõ Saemaul 8 Undong của Hàn Quốc (Phong trào đổi mới của cộng đồng Hàn Quốc hay là phong trào xây dựng làng mới). - Bài viết của tác giả Junior Davis [143] đã phân tích kinh tế phi nông nghiệp tại nông thôn ở các nền kinh tế chuyển đổi (từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường) ở Đông và Trung Âu, bán đảo Balkans và các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ trong giai đoạn từ 1991 - 2006. Theo kết quả nghiên cứu, kinh tế phi nông nghiệp chiếm từ (50 - 70)% thu nhập của nông dân các nước này, vì vậy không thể chỉ coi đó là cứu cánh tạm thời mà cần phải được xem xét trong chiến lược phát triển tổng thể. Nhiều hướng tiếp cận được gợi ý để phát triển khu vực kinh tế này, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của nhà nước trong việc cung cấp ổn định chính trị, kết cấu hạ tầng, giáo dục, hỗ trợ về tài chính và tín dụng… - Trong bài: “Cải cách chính sách nông nghiệp và điều chỉnh cấu trúc” tác giả: Hanho Kim, Yong-Kee Lee [140] đã phân tích chính sách nông nghiệp qua các thời kì ở Hàn Quốc (1950 - nay) và Nhật Bản (1860 - nay). Cả hai nước đều trải qua một thời kì dài bảo hộ nông nghiệp và an ninh lương thực được đề cao (đặc biệt với lúa gạo), sau đó là quá trình chuyển đổi mạnh mẽ hướng tới thị trường (từ cuối những năm 1980 đến nay) nhằm tăng cường năng suất lao động và tính cạnh tranh của nông nghiệp trong nước. Đồng thời, bài viết cũng đã làm rõ sự khác biệt về chính sách nông nghiệp ở hai nước trên cơ sở phân tích những điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, tính chất cơ cấu nông nghiệp… từ đó đưa ra những gợi ý cho những điều chỉnh chính sách trong tương lai. - Trong bài: “Cải cách hệ thống và cấu trúc nông nghiệp của Trung Quốc tiến tới gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO” [135], tác giả DuYing đã điểm lại những thành tựu của nông nghiệp Trung Quốc sau 20 năm tiến hành chuyển dịch cơ cấu và cải cách nông nghiệp (1978 - 1999). Đồng thời, tác giả cũng nhận định những cơ hội và thách thức đối với nông nghiệp Trung Quốc một khi nước này gia nhập WTO, trong đó thách thức được coi là nhiều hơn trong ngắn hạn và chỉ có thể vượt qua bằng một nỗ lực lớn từ phía nhà nước trong việc đưa ra các chính sách nông nghiệp hợp lý. Những chính sách được 9 gợi ý bao gồm tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sang những loại nông sản có lợi thế so sánh, phát triển công nghiệp chế biến, giải quyết lao động thừa ở nông thôn… - Trong bài: "Những việc không bao giờ kết thúc: Nông nghiệp Ấn Độ theo cải cách cấu trúc” [145] Servaas Storm đã phân tích những tác động trong trung hạn của chính sách tự do hóa thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp ở Ấn Độ giai đoạn 1985 - 1990, đặc biệt là tác động đến động cơ làm việc của nông dân vì sự thiếu thốn những khuyến khích được coi là cản trở chính đối với đầu tư tư nhân vào nông nghiệp và nỗ lực tăng năng suất lao động. Theo đó, can thiệp chủ động và tích cực của nhà nước trong việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, dỡ bỏ những hàng rào đối với đầu tư tư nhân vào nông nghiệp… được các tác giả gợi ý và ủng hộ mạnh mẽ. 1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.2.1. Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về kinh tế nông thôn - Đề tài: "Nghiên cứu sự hình thành và phát triển làng nghề mới gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng đồng bằng sông Hồng" [4]. Đề tài khoa học của Ban Kinh tế trung ương nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, trong đó chú ý làm rõ vai trò quan trọng của việc hình thành và phát triển làng nghề. - Tác giả Nguyễn Huy Oánh trong đề tài: “Nông nghiệp Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế” [84] đã tập trung phân tích làm rõ những thành tựu và hạn chế của nông nghiệp Việt Nam sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới khi hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Đồng thời cũng làm rõ những cơ hội và thách thức của nông nghiệp Việt Nam. Trên cơ sở đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp để đưa nông nghiệp Việt Nam phát triển bề vững trong điều kiện hội nhập. - Tác giả Nguyễn Tiến Dũng trong: “Phát triển kinh tế nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trong quá trình hình thành nền kinh tế thị trường định hướng 10 XHCN” [33] đã làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của KTNT trong quá trình hình thành nền kinh tế rhị trường định hướng XHCN. Từ việc phân tích thực trạng phát triển kinh tế nông thôn đồng bằng sông Hồng trong những năm đổi mới. Tác giả đã đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển KTNT vùng đồng bằng sông Hồng, trong quá trình hình thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy nhiên luận án này chưa bàn đến phát triển KTNT bền vững; chưa thực sự gắn kết giữa phát triển KTNT hàng hoá với tiến bộ, công bằng xã hội và văn hoá, môi trường, quốc phòng an ninh. - Tác giả Nguyễn Hữu Tập trong: “Phát triển kinh tế nông thôn và tác động của nó đến xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân ở nước ta hiện nay” [97] đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế nông thôn và tác động của nó đến xây dựng thế trận Quốc phòng toàn dân ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển kinh tế nông thôn và tác động của nó đến xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân ở nước ta. Tác giả đã nêu ra một số mâu thuẫn cần phải tập trung giải quyết trong phát triển kinh tế nông thôn và phát huy tác động tích cực của nó đến xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân ở nước ta thời gian tới đó là: Mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển kinh tế nông thôn bền vững, xây dựng thế trận quốc phòng vững mạnh với qui hoạch, sử dụng đất nông nghiệp chưa hợp lý, thiếu hiệu quả; Mâu thuẫn giữa yêu cầu đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh với thực trạng qui mô sản xuất nhỏ, ruộng đất manh mún, chính sách đất đai chưa hợp lý hiện nay; Mâu thuẫn giữa yêu cầu giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng thế trận quốc phòng vững mạnh với xu hướng dư thừa lao động trong nông nghiệp và sức hút lao động có hạn của các ngành công nghiệp, dịch vụ, chính sách bảo hộ quyền lợi của dân cư đô thị. Trên cơ sở đó, đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm đẩy nhanh phát triển kinh tế nông thôn và tăng cường thế trận Quốc phòng toàn dân ở nước ta trong thời gian tới. Nhưng luận án này chưa bàn đến phát triển kinh tế nông thôn bền vững trong hội nhập quốc tế. 11 - Tác giả Xỉ Xỏn Phăn Bun Sỉ trong: “Kinh tế nông thôn ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới” [128] trên cơ sở trình bày một số lý luận chung về kinh tế nông thôn luận án phân tích thực trạng phát triển kinh tế nông thôn ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, nêu những vấn đề cần tập trung giải quyết đó là: Hệ thống chính sách đối với kinh tế nông thôn chưa đồng bộ; Thị trường, nhất là thị trường nông thôn chưa được mở rộng; Hệ thống tín dụng chậm đổi mới; Đội ngũ cán bộ và nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới; Mối quan hệ giữa đô thị và đô thị hóa với phát triển kinh tế nông thôn chưa được chú ý; Những vấn đề ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo… cần được quan tâm. Luận án dự báo xu hướng phát triển của kinh tế nông thôn ở Lào; Đề xuất những quan điểm phát triển kinh tế nông thôn ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong thời gian tới. Luận án đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục phát triển kinh tế nông thôn ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào như: Xây dựng qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế nông thôn; Phát triển mạnh các ngành nghề truyền thống và các ngành nghề mới trên địa bàn nông thôn; Chú trọng phát triển nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế nông thôn; Tập trung thu hút nguồn lực để công nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế nông thôn; Phát triển kết cấu hạ tầng ở địa bàn nông thôn; Mở rộng thị trường cho phát triển kinh tế nông thôn; Tăng cường vai trò hỗ trợ, quản lý Nhà nước trong phát triển kinh tế nông thôn. - Tác giả Lê Vũ Anh trong luận án: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tây Bắc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [1] đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng. Phân tích thực trạng cơ cấu kinh tế nông thôn Tây Bắc giai đoạn từ 1989 đến nay để thấy được những thành công và hạn chế. Trên cơ sở đó luận án đưa ra phương hướng, quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tây Bắc theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. - Tác giả Trương Duy Hoàng trong: “Các giải pháp tài chính thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước” [47] đã phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Việt Nam và khẳng định việc khai thác tối đa thế mạnh của 12 từng vùng, địa phương để phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nhằn nâng cao đời sống người dân ở nông thôn, giảm bớt chênh lệch giầu nghèo giữa thành thị và nông thôn, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững, đủ sức cạnh tranh và hội nhập kinh tế thế giới. - Tác giả Nguyễn Thị Bích Đào trong: “Một số vấn đề lý luận và định hướng phát triển kinh tế nông thôn ở Việt Nam” [45] đã luận giải một số vấn đề lý luận về kinh tế nông thôn. Phân tích thực trạng phát triển kinh tế nông thôn ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; Từ đó làm rõ những tồn tại và mâu thuẫn trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam. Tác giả nêu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn ở Việt Nam. - Tác giả Nguyễn Quang Minh trong: “Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay” [82] đã trình bầy một số cơ sở lý luận về phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn. Phân tích thực trạng kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở tỉnh Thanh Hóa thời gian qua, để thấy được những thành tựu, hạn chế và những vấn đề đăth ra cần giải quyết. Từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới. - Tác giả Phan Đại Doãn và các cộng sự trong: “Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay - một số vấn đề và giải pháp” [32] đã làm rõ những hạn chế ở khu vực nông thôn nước ta. Trên cơ sở đó nhóm tác giả nhấn mạnh: Phát triển kinh tế nông thôn phải gắn kết chặt chẽ với ba vấn đề đó là: ổn định chính trị, xã hội; tăng trưởng kinh tế; công bằng xã hội thì mới bền vững. Tăng trưởng, phát triển kinh tế phải đi liền với cải thiện đời sống nông dân, phải đặt trong xã hội, đặt trong con người. - Tác giả Phạm Văn Nam và các cộng sự trong: “Phát triển nông thôn” [83] đã chỉ ra thực trạng của nông nghiệp, nông thôn trước thời kỳ đổi mới và tác động kinh tế - xã hội của đổi mới với phát triển nông thôn. Nhóm tác giả khẳng 13 định: Trình độ phát triển của kinh tế nông thôn nước ta còn thua kém nhiều nước. Để rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển, nhóm tác giả đã trích dẫn một số lý thuyết và mô hình phát triển nông thôn trên thế giới để tham khảo. Chẳng hạn như: + Lý thuyết đề cao vai trò của nông nghiệp trong quá trình chuẩn bị công nghiệp hoá cho rằng, việc xây dựng một nền công nghiệp vững mạnh và năng động sẽ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy công nghiệp phát triển và sự tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế. Nhưng hạn chế của lý thuyết này là chỉ đề cập tới việc khai thác các nguồn lực của nông nghiệp, nông thôn để phục vụ công nghiệp hoá, đô thị hoá, còn triển vọng phát triển của bản thân nông nghiệp như thế nào thì không được đề cập thoả đáng. + Lý thuyết chủ trương “nhảy thẳng” vào công nghiệp hoá , đô thị hoá lại xem nhẹ phát triển nông nghiệp, nông thôn, thu hẹp đến mức tối thiểu vai trò của KTNT trong nền kinh tế quốc dân và cho rằng nông nghiệp về cơ bản chỉ định hướng vào sản xuất lương thực, thực phẩm. + Lý thuyết chủ trương kết hợp hài hoà giữa nông nghiệp với công nghiệp nông thôn trong quá trình phát triển. Lý thuyết này có tính hợp lý hơn khi cho rằng phải chú ý tới phát triển nông nghiệp, nông thôn một cách thoả đáng, nhất là đối với các nước đang phát triển, nơi đại đa số dân cư sống ở nông thôn và tỷ lệ lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn. - Các tác giả Tô Đức Hạnh và Phạm Văn Linh trong cuốn: “Phát triển kinh tế hàng hoá trong nông thôn các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam thực trạng và giải pháp” [46] đã trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế hàng hoá trong nông thôn; nêu một số kinh nghiệm của Đài Loan và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) trong phát triển kinh tế hàng hoá ở nông thôn vùng núi. Cuốn sách đã đưa ra các giải pháp phát triển kinh tế hàng hoá nông thôn ở các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam là: thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở nông thôn, tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước; mở rộng phân công lao động gắn với xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý; phát triển thị trường; xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn; phát triển giáo dục, nâng cao dân trí gắn với 14 đào tạo nguồn nhân lực; huy động và sử dụng hợp lý các nguồn vốn cho phát triển kinh tế hàng hoá; phát triển khoa học công nghệ. - Lê Quốc Sử trong: “Chuyển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển của kinh tế nông nghiệp Việt Nam theo hướng CNH, HĐH từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI “trong thời đại kinh tế trí thức” [96] đã phân tích dưới dạng tổng quát một số mô hình về phát triển kinh tế nông nghiệp xưa và nay trên thế giới; Tổng quan những lý luận cơ bản về cơ cấu và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp nông thôn nói riêng. Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xu hướng phát triển của kinh tế nông thôn Việt Nam. Từ đó thấy được những thành tựu và tồn tại, khuyết điểm trong thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị. - Trần Xuân Châu trong: “Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở Việt Nam thực trạng và giải pháp” [21] cho rằng, phát triển nông nghiệp hàng hoá trong nông nghiệp là phương thức tối ưu để thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng nền kinh tế trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; là con đường duy nhất để giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng nông dân, nông thôn ra khỏi tình trạng lạc hậu và cũng là quy luật chung của sự phát triển kinh tế xã hội. Nền nông nghiệp nước ta đã và đang chuyển mạnh từ sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp sang sản xuất kinh doanh hàng hoá theo cơ chế thị trường, ngày càng hướng vào xuất khẩu, đây là một chuyển biến có ý nghĩa hết sức quan trọng và sâu sắc, làm thay đổi tính chất và các mối quan hệ cơ bản trong nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời theo tác giả, lợi thế và vai trò của nông nghiệp hàng hoá được khai thác chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển đổi chậm, tổ chức sản xuất còn yếu kém, chất lượng hàng hoá, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, thu nhập và đời sống của đa số nông dân còn thấp. Tác giả đã làm rõ các nội dung, đặc trưng, vai trò, điều kiện của việc đẩy nhanh phát triển nền nông nghiệp hàng hoá; trình bày kinh nghiệm của một số nước về phát triển nông nghiệp hàng hóa. Trên cơ sở những phân tích trên, cuốn sách đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở nước ta.
- Xem thêm -