Tài liệu Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự- qua thực tiễn tỉnh thanh hóa

  • Số trang: 111 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 329 |
  • Lượt tải: 4
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHẠM THỊ HOÀN KIÓM S¸T VIÖC TU¢N THEO PH¸P LUËT CñA VIÖN KIÓM S¸T NH¢N D¢N TRONG Tè TôNG D¢N Sù QUA THùC TIÔN TØNH THANH HãA Chuyên ngành: Lí luận và lịch sử nhà nước và pháp luật Mã số: 60 38 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS. HOÀNG THỊ KIM QUẾ HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Phạm Thị Hoàn MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ.................................................................................................................... 4 1.1. Vị trí, vai trò, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tổ chức bộ máy nhà nước ...............................................................................4 1.2. Nhận thức chung về tố tụng dân sự ........................................................12 1.3. Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự ..............................................15 1.3.1. Chức năng ..................................................................................................15 1.3.2. Nội dung thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự ............................................17 1.3.3. Vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự .........................................38 1.4. Vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân đối với công cuộc cải cách tư pháp, bảo vệ quyền con người, quyền công dân....................................39 1.5. Đặc điểm của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự .......................................48 Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ ...................................................................52 2.1. Thực trạng chung của công tác kiểm sát trong tố tụng dân sự ...........52 2.1.1. Kết quả đạt được ........................................................................................53 2.1.2. Hạn chế tồn tại ...........................................................................................53 2.1.3. Nguyên nhân của những hạn chế nhược điểm trên ....................................55 2.2. Công tác thực hiện chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay......................................................................................58 2.2.1. Công tác kiểm sát việc thụ lý giải quyết các vụ, việc dân sự ....................62 2.2.2. Kết quả đạt được và những ưu điểm ..........................................................63 2.2.3. Những hạn chế, nhược điểm và nguyên nhân ............................................69 2.3. Công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa ....................................72 2.3.1. Trong năm 2013, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa thực hiện công tác kháng nghị trong tố tụng dân sự ..........................................75 2.3.2. Những đóng góp của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa trong công tác xây dựng ngành ..................................................................90 Chương 3: GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ ........................................................95 3.1. Những giải pháp cơ bản về đảm bảo hiệu quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự ............95 3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về hoạt động tư pháp phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.........................................95 3.1.2. Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên làm công tác kiểm sát dân sự nhận thức đúng đắn về chức năng nhiệm vụ ....................96 3.1.3. Về bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân ..........97 3.2. Một số kiến nghị cụ thể về đảm bảo hiệu quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự ........................................................................................................98 KẾT LUẬN ............................................................................................................104 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................105 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra mục tiêu: Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ Quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao. Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực từ 01/01/2005. Sau 6 năm thực hiện đã phát sinh một số vấn đề vướng mắc, bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn và chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp. Để khắc phục những vướng mắc, bất cập của đạo luật này, ngày 29/3/2011, Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật số 65/2011/QH12 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2012. Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự; với việc ban hành Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi chức năng kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự của Viện kiểm sát nhân dân có sự điều chỉnh; thẩm quyền phạm vi tham gia tố tụng của Viện kiểm sát được xác định cụ thể và rộng hơn so với trước, đặc biệt mở rộng phạm vi tham gia các phiên toà xét xử dân sự sơ thẩm, phúc thẩm. Một trong những điểm sửa đổi bổ sung lớn nhất của Bộ luật tố tụng dân sự lần này là mở rộng phạm vi trách nhiệm tham gia phiên toà, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của Viện kiểm sát, theo đó Viện kiểm sát có trách nhiệm phải tham gia phiên toà sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự trong 4 trường hợp: những vụ án dân sự do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ; những vụ án dân sự có đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng; quyền sử dụng đất, nhà ở; đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần; Viện kiểm sát tham gia tất cả các phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, phiên toà, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự. 1 Từ những lý do đã phân tích trên, học viên xin chọn đề tài “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự - qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài Luận văn thạc sĩ. 2. Tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây đã có một số công trình khoa học cấp nhà nước, cấp bộ, luận án thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu về chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự … Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung có hiệu lực ngày 01/01/2012 đã mở rộng phạm vi, thẩm quyền tham gia tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân. Vì vậy, có khá nhiều bài viết về vấn đề này nhưng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ về nội dung mới sửa đổi bổ sung này. 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu - Phân tích, khái quát về việc Viện kiểm sát tham gia phiên toà, phiên họp giải quyết vụ, việc dân sự qua làm cơ sở thực tiễn của nghiên cứu đề tài. - Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện Bộ luật tố tụng dân sự trong ngành Kiểm sát đáp ứng yêu cầu công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong chiến lược cải cách tư pháp. - Hệ thống những lý luận cơ bản về công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự trong ngành Kiểm sát. - Đánh giá kết quả đã đạt được của công tác này trong ngành Kiểm sát khi Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung về chức năng nhiệm vụ. - Đưa ra một số vướng mắc và giải pháp mang tính kiến nghị của Viện kiểm sát trong quá trình thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu được tiến hành trên công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự của ngành Kiểm sát nhân dân - Phạm vi nghiên cứu: trong ngành Kiểm sát nhân dân - Thời gian từ khi Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi có hiệu lực 01/01/2012 đến 30/12/2013 2 5. Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: tổng hợp, phân tích, so sánh, điều tra, tổng kết thực tiễn... 6. Tính mới và những đóng góp của đề tài - Đề tài nghiên cứu trên cơ sở Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011, có hiệu lực 01/01/2012, đến nay hơn 2 năm thực hiện chắc chắn có rất nhiều điểm mới so với các đề tài nghiên cứu trước. Viện kiểm sát tham gia tất cả các phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, phiên toà, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự. - Thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát có sự thay đổi, tạo điều kiện thuận lợi trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự. Bước đầu, tuy còn nhiều khó khăn nhưng Viện kiểm sát đã nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ. - Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra một số phương hướng và giải pháp khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn để việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp, hi vọng luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu cho các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, giảng dạy. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương. Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Chương 2: Thực trạng công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Chương 3: Giải pháp đảm bảo hiệu quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự 3 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1. Vị trí, vai trò, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tổ chức bộ máy nhà nước Ngày 28/11/2013, Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 6 đó thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là sự kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng, tạo cơ sở hiến định để thực hiện thắng lợi các mục tiêu xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Cùng với việc tiếp tục kế thừa những giá trị to lớn của các bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992, Hiến pháp sửa đổi lần này đã đổi mới cả về nội dung và kỹ thuật lập hiến; thể chế hóa sâu sắc và toàn diện chủ trương đổi mới của Đảng trên các lĩnh vực; trong đó tư tưởng về con người, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân được xác định là tư tưởng đổi mới chủ đạo của Hiến pháp, là mục tiêu hướng đến của các thiết chế trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những yêu cầu của Hiến pháp về dân chủ, pháp quyền, đề cao con người có ý nghĩa tác động trực tiếp đến các cơ quan tư pháp nói chung và Viện kiểm sát nhân dân Viện kiểm sát nhân dân nói riêng, đòi hỏi các thiết chế này phải thực sự đổi mới trong nhận thức, tổ chức và hoạt động. Hiến pháp tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát là hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước, thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; bổ sung một số nguyên tắc tiến bộ của hoạt động tố tụng tư pháp như nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, tiếp tục khẳng định và ghi nhận mới một số quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực tư pháp v.v... Những điều chỉnh nêu ở trên của Hiến pháp đó đặt trách nhiệm rất cao với các cơ quan tư pháp, yêu cầu phải tổ chức công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật theo tinh thần mới. Hoạt động tư pháp không chỉ dừng lại ở mục tiêu phát hiện, xử lý tội phạm và vi phạm pháp luật mà còn phải tôn trọng 4 con người, vì sự phát triển của con người, đề cao dân chủ và phải đứng trên quan điểm đó để chứng minh tội phạm và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Bảo đảm dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân phải trở thanh mục tiêu và động lực hướng tới của các cơ quan tư pháp nói chung, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân. Đây chính là thước đo sự tiến bộ của nền tư pháp. Xác định rõ trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp chính là nhằm bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh trong đời sống xã hội. Thực hành quyền công tố hiểu một các khái quát là hoạt động nhằm phát hiện tội phạm, truy tố người phạm tội ra Tòa, yêu cầu Tòa án xét xử và áp dụng hình phạt đối với họ. Kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, bao gồm kiểm sát các hoạt động khởi tố,điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bổ trợ tư pháp... Kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước nói chung và thực hiện quyền lực trong lĩnh vực tư pháp nói riêng ở Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hoạt động có tính tất yếu, khách quan, xuất phát từ nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực đó được khẳng định trong Hiến pháp. Chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp thực chất là để bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm mọi tội phạm và vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện, xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, bảo đảm việc giải quyết các vụ án đúng pháp luật, nghiêm minh. Hiến pháp khẳng định trong điều kiện cụ thể của nước ta cần thiết phải duy trì Viện kiểm sát là một hệ thống cơ quan độc lập, có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp đúng theo nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước "Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp" [8]. Đảng, Quốc hội và nhân dân cần một thiết chế 5 giám sát độc lập, hoạt động trực tiếp, thường xuyên, có hiệu quả cao như Viện kiểm sát. Hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Kiểm sát nhân dân đó góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ Hiến pháp và pháp luật. Trên cơ sở đó, Hiến pháp sửa đổi tiếp tục khẳng định: "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp" [8, Điều 107]. Triển khai thi hành Hiến pháp trong thời gian tới, mỗi cán bộ, Kiểm sát viên và từng cấp kiểm sát phải thấm nhuần và thực thi đầy đủ Hiến pháp. Tập trung kiện toàn cả về tổ chức bộ máy và cán bộ, xây dựng cho được bộ máy làm việc khoa học với đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên thực sự vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm. Cùng với việc tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, Hiến pháp đã bổ sung quy định "Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân" [8]. Quy định này một mặt đáp ứng yêu cầu tăng tính độc lập cho Kiểm sát viên, ngăn ngừa sự can thiệp trái pháp luật của các cá nhân, tổ chức vào hoạt động thực thi công vụ của Kiểm sát viên, đồng thời phù hợp với nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành Kiểm sát, bảo đảm sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát mỗi cấp và sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với toàn hệ thống. Triển khai thi hành Hiến pháp được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của toàn bộ hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong năm 2014 và các năm tiếp theo. Chúng ta tin tưởng rằng, với sự vào cuộc tích cực và trách nhiệm của các ngành, các cấp, các đoàn thể nhân dân, Hiến pháp chắc chắn sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống, phát huy tác dụng tích cực và tạo sự chuyển biến sâu rộng trên các lĩnh vực đời sống xã hội, là cơ sở quan trọng để sự nghiệp cải cách tư pháp nhà nước tiếp tục thu được những kết quả lớn hơn nữa. Hiến pháp năm 2013 của nước Việt Nam sửa đổi Hiến pháp 1992 có hiệu lực thi hành 01/01/2014, Viện kiểm sát nhân dân được quy định: 6 Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [8, Điều 107]. Như vậy, tiếp tục duy trì Viện kiểm sát nhân dân với tính cách là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước với hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, đồng thời có các cơ chế pháp lý để tăng cường hiệu lực, hiệu quả các khâu công tác kiểm sát hoạt động tư pháp chính là biện pháp quan trọng góp phần thúc đẩy các cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở đất nước ta. Tuy nhiên để Đảng, Nhà nước, Quốc hội và nhân dân tiếp tục ghi nhận chức năng, vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp sửa đổi thì toàn ngành và mỗi cán bộ, kiểm sát viên cần thấy rõ hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và có các biện pháp cụ thể để tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nhằm đáp ứng với yêu cầu của cải cách tư pháp và mục đích xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh bảo vệ pháp luật, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhà nước và các quyền, lợi ích chính đáng của công dân. Một trong những biện pháp trước mắt cũng như lâu dài là phải xây dựng đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm. Đó cũng là mục tiêu mà cán bộ, kiểm sát viên ngành Kiểm sát nhân dân cần quyết tâm phấn đấu để đạt được. Để có sự ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013 như hiện nay, chúng ta nên xem lại quá trình hình thành và phát triển của ngành Kiểm sát nhân dân với tiến trình lịch sử như sau: 7 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa họp lần thứ 8 ngày 29/4/1958 đã quyết định thành lập Tòa án tối cao và hệ thống Tòa án, lập Viện Công tố Trung ương và hệ thống cơ quan Công tố, cả hai tách khỏi Bộ Tư pháp. Viện Công tố Trung ương có quyền hạn và trách nhiệm ngang một Bộ và trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Hình thành một Viện Công tố độc lập thuộc Hội đồng Chính phủ quản lý ngành dọc là một ưu điểm lớn để tạo ra sự độc lập trong hoạt động truy tố tội phạm và đây là một bước quá độ để hình thành hệ thống cơ quan Viện kiểm sát sau này. Nhiệm vụ chung của Viện Công tố là: Giám sát việc tuân thủ và chấp hành pháp luật Nhà nước, truy tố theo luật hình những kẻ phạm pháp để bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tài sản công, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, bảo đảm cho công cuộc kiến thiết và cải tạo Xã hội chủ nghĩa tiến hành thuận lợi. Hiến pháp năm 1959 ra đời với chế định mới về Viện kiểm sát nhân dân đã đánh dấu một bước chuyển lớn trong tổ chức bộ máy Nhà nước của Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử bộ máy Nhà nước ta, Viện kiểm sát được quy định thành một cơ quan Nhà nước độc lập. Hiến pháp năm 1959 quy định về Viện kiểm sát nhân dân như sau: Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát các phạm vi do luật định. Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là 5 năm. Tổ chức của các Viện kiểm sát nhân dân do luật định. Viện kiểm sát nhân dân các cấp chỉ chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. 8 Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội [8, Điều 105-108]. Như vậy, theo Hiến pháp năm 1959, Viện kiểm sát nhân dân có một chức năng hoàn toàn mới, khác hẳn với Viện Công tố trước kia là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân, mở ra một trang mới trong sự phát triển hệ thống tư pháp nước ta nói chung và Viện kiểm sát nói riêng Hiến pháp năm 1980 quy định về Viện kiểm sát như sau: Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các Cơ quan ngang Bộ, các Cơ quan khác thuộc Chính phủ, các Cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm do luật định [8, Điều 138]. Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định về Viện kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm do luật định [8, Điều 137]. Cụm từ: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật, xuất hiện lần đầu tiên tại Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp 1980; đến Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) được giữ nguyên và cụ thể hơn "kiểm sát các hoạt động tư pháp". Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, năm 2002, quy định: "Viện 9 kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật" [9, Điều 1]. Ở Việt Nam, kiểm sát là hoạt động riêng có của cơ quan kiểm sát, một loại cơ quan hiến định. Viện kiểm sát nhân dân là một loại cơ quan quyền lực, do cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước - Quốc Hội- lập ra để kiểm soát quyền lực. Theo các Hiến pháp trước đây, chỉ duy nhất có cơ quan Viện kiểm sát nhân dân mới có quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Khi thành lập Viện kiểm sát nhân dân trước đây, theo mô hình các nước Xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan kiểm sát nhân dân là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước - cơ quan hành pháp. Tuy nhiên đến năm 2001, với Nghị quyết của Quốc Hội khóa X sửa đổi bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 thì chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân bị thu hẹp đáng kể. Lúc này, Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện kiểm sát hoạt động tư pháp. Hoạt động tư pháp là hoạt động thực hiện quyền lực - quyền nhân danh nhà nước xét xử và tuyên án, do đó hoạt động tư pháp cũng cần được kiểm sát chặt chẽ để tránh lạm dụng quyền lực. Kiểm sát hoạt động tư pháp mà thực chất là kiểm sát hoạt động xét xử - một loại hình của kiểm sát quyền lực, điều này phù hợp với thể chế nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nơi quyền lực nhà nước cao nhất thuộc về Quốc hội. Về nguyên tắc, chính Quốc hội mới là cơ quan toàn quyền kiểm sát, giám sát hoạt động xét xử. Để thực hiện quyền hạn của mình, Quốc hội, ngoài mình tự mình tiến hành các hoạt động kiểm sát, còn lập ra và giao nhiệm vụ kiểm sát quyền lực cho một số thiết chế độc lập, trong đó có Viện kiểm sát. Viện kiểm sát giúp Quốc hội thực hiện hoạt động kiểm sát tư pháp. Kiểm sát xét xử là việc thực hiện kiểm sát quyền lực tư pháp từ bên ngoài, do cơ quan có thẩm quyền được Quốc hội lập ra thực hiện. Do đó, hoạt động kiểm sát xét xử là nhân danh Quốc hội- cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và kết quả của hoạt động này là phải báo cáo Quốc hội. Quyền kiểm sát hoạt động xét xử được giao cho Viện kiểm sát nhân dân. 10 Xét về khía cạnh lịch sử lập pháp: Hiến pháp năm 1946, Cơ quan Công tố được tổ chức theo sắc lệnh của Chính phủ, theo Sắc lệnh nói trên thì Cơ quan Công tố nằm trong cơ cấu tổ chức của Tòa án, do bộ Tư pháp quản lý. Ngay trong cơ cấu này thì chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật cũng được thể hiện đó là các Công tố viên có quyền giám sát công tác điều tra của Tư pháp cảnh sát, kiểm soát công việc quản trị lao tù, có quyền kháng cáo bản án hình sự đã tuyên, riêng người đứng đầu Viện Công tố của Tòa Thượng thẩm (Chưởng lý) còn có cả nhiệm vụ giám sát việc thi hành các đạo luật, Sắc lệnh và quy tắc hiện hành trong quản hạt của mình. Tại kỳ họp thứ 8 Quốc Hội khóa I, Quốc hội đã quyết định Viện Công tố Trung ương trực thuộc Chính phủ được thành lập trên cơ sở tách bộ phận Công tố trực thuộc Tòa án. Tuy nhiên ngay cả mô hình này thì Viện Công tố cũng đã có những nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật như giám sát việc chấp hành pháp luật của Cơ quan điều tra, giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác xét xử của Tòa án, giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc thi hành các bản án hình sự, dân sự và trong hoạt động của các Cơ quan giam giữ, cải tạo, khởi tố và tham gia tố tụng những vụ án dân sự. Như vậy, ngay từ khi mới hình thành, Cơ quan công tố đã thể hiện rõ xu hướng độc lập cả về tổ chức lẫn thẩm quyền hoạt động. Chức năng không chỉ giới hạn ở thực hành quyền công tố mà còn giám sát hoạt động điều tra, giám sát đối với các hoạt động tư pháp và tham gia hoạt động tố tụng dân sự, kháng cáo bản án hình sự, dân sự. Sau đó, Hiến pháp năm 1959- Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử lập hiến của nước ta ghi nhận sự ra đời của một loại hình cơ quan nhà nước mới trong bộ máy nhà nước, đó là cơ quan Viện kiểm sát, tại điều 105 Hiến pháp năm 1959. Sự ra đời của mô hình Viện kiểm sát thay thế cho mô hình Viện Công tố ở nước ta gắn liền với yêu cầu của nhiệm vụ bảo đảm pháp chế thống nhất, điều kiện nền tảng cho việc xây dựng nhà nước kiểu mới. Xét bối cảnh lịch sử ra đời của Viện kiểm sát thì thấy việc lựa chọn mô hình này ở nước ta, Ban soạn thảo Hiến pháp năm 1959 do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu quyết định chuyển Viện Công tố thành Viện kiểm sát bao gồm cả chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật là hoàn toàn có sự cân nhắc, 11 tính toán và thể hiện tính khách quan chứ không phải là sự sao chép máy móc mô hình Viện kiểm sát ở một số nước trên thế giới. Đến Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 thì chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật vẫn luôn được giao cho Viện kiểm sát. 1.2. Nhận thức chung về tố tụng dân sự Trong cuộc sống hàng ngày, đôi khi một cá nhân hay một cơ quan, tổ chức phải sử dụng quyền khởi kiện đến Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi đó sẽ phát sinh một quy trình tố tụng mà trong đó Tòa án là cơ quan đại diện cho Nhà nước có trách nhiệm giải quyết vụ việc. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện (nguyên đơn dân sự), cơ quan, tổ chức, cá nhân bị kiện (bị đơn dân sự), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người phiên dịch, người làm chứng, người giám định, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự… là những chủ thể tham gia tố tụng. Trong trường hợp này chúng ta có một tố tụng dân sự theo nghĩa hẹp: một Tòa án cụ thể, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng cụ thể, những hành vi tố tụng cụ thể…ví dụ: hành vi nộp đơn khởi kiện và thụ lý đơn khởi kiện, hành vi thu thập, xuất trình chứng cứ, hành vi khiếu nại, kháng cáo phúc thẩm của đương sự… những quan hệ pháp luật tố tụng cụ thể, một thời gian giải quyết được ấn định cụ thể, tức là có một trình tự thủ tục để giải quyết một vụ án cụ thể. Thông thường, có bao nhiêu vụ án dân sự có bấy nhiêu "tố tụng dân sự", đó cũng là quan niệm đơn giản nhất về tố tụng dân sự được nhiều luật gia chia sẻ. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định: Phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng dân sự Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ 12 việc dân sự) tại Tòa án; thi hành án dân sự; nhiệm vụ; quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, của cá nhân, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức) có liên quan nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ, việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật [11, Điều 1]. Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành quy định thẩm quyền của Tòa án giải quyết những tranh chấp dân sự sau Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án 1. Tranh chấp giữa cá nhân với các nhân về quốc tịch Việt Nam 2. Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản 3. Tranh chấp về hợp đồng dân sự 4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 29 của Bộ luật này. 5. Tranh chấp về thừa kế tài sản 6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 7. Tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai 8. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật 9. Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. 10. Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự 11.Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. 13 12. Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định [11, Điều 25]. Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án 1. Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự. 2. Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó. 3. Yêu cầu tuyên bố một người mất tích, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích… [11, Điều 26] Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: 1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn 2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn 4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ … [11, Điều 27] Những yêu cầu về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án 1. Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật 2. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn 3. Yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn 4. Yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn… [11, Điều 28] Như vậy, khi có một quan hệ pháp luật dân sự nảy sinh trong thực tế, người dân có quyền đề nghị các cơ quan pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Tòa án là một trong các cơ quan pháp luật được nhà nước quy định có trách nhiệm cùng với Viện kiểm sát và các cơ quan nhà nước khác tiến hành giải quyết 14 các quan hệ pháp luật có tranh chấp, hoặc yêu cầu theo một quy trình tố tụng chặt chẽ tại Bộ luật tố tụng dân sự. 1.3. Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự 1.3.1. Chức năng Hiến pháp năm 2013 của nước Việt Nam sửa đổi Hiến pháp 1992 có hiệu lực thi hành 01/01/2014, Viện kiểm sát nhân dân được quy định: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [8, Điều 107]. Như vậy, theo quy định của Hiến pháp, Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, để tăng cường hiệu lực, hiệu quả các khâu công tác kiểm sát hoạt động tư pháp chính là biện pháp quan trọng góp phần thúc đẩy các cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở đất nước ta. Mỗi cán bộ, kiểm sát viên cần thấy rõ hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và có các biện pháp cụ thể để tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nhằm đáp ứng với yêu cầu của cải cách tư pháp và mục đích xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh bảo vệ pháp luật, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhà nước và các quyền, lợi ích chính đáng của công dân. Quốc hội khóa XIII thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa 15 Việt Nam. Hiến pháp sửa đổi lần này đó đổi mới cả về nội dung và kỹ thuật lập hiến; thể chế hóa sâu sắc và toàn diện chủ trương đổi mới của Đảng trên các lĩnh vực; trong đó tư tưởng về con người, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân được xác định là tư tưởng đổi mới chủ đạo của Hiến pháp, là mục tiêu hướng đến của các thiết chế trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuyệt đối tránh việc lạm dụng các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân thay cho các biện pháp thu thập chứng cứ khách quan. Bảo đảm dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân phải trở thanh mục tiêu và động lực hướng tới của các cơ quan tư pháp nói chung, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân. Đây chính là thước đo sự tiến bộ của nền tư pháp. Xác định rõ trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp chính là nhằm bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh trong đời sống xã hội. Thực hành quyền công tố hiểu một các khái quát là hoạt động nhằm phát hiện tội phạm, truy tố người phạm tội ra Tòa, yêu cầu Tòa án xét xử và áp dụng hình phạt đối với họ. Kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, bao gồm kiểm sát các hoạt động khởi tố,điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bổ trợ tư pháp... Kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước nói chung và thực hiện quyền lực trong lĩnh vực tư pháp nói riêng ở Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hoạt động có tính tất yếu, khách quan, xuất phát từ nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực đó được khẳng định trong Hiến pháp. Chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp thực chất là để bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm mọi tội phạm và vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện, xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, bảo đảm việc giải quyết các vụ án đúng pháp luật, nghiêm minh. Kết quả lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp, ý kiến của các đại biểu 16
- Xem thêm -