Tài liệu Khóa luận tốt nghiệp tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển ngành thủy sản ở việt nam

  • Số trang: 57 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 88 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành, sâu sắc đến cô giáo: Tiến sĩ Đỗ Thúy Mùi – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để tôi nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu trường Đại học Tây Bắc, Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa, phòng Quản lý khoa học, phòng Đào tạo, Thư viện trường Đại học Tây Bắc cùng các phòng ban chức năng khác đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu. Tôi xin chân thành cảm ơn sự động viên giúp đỡ của các thầy cô giáo và bạn bè cùng gia đình trong thời gian nghiên cứu khóa luận. Mặc dù đã rất cố gắng song khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo và các độc giả để khóa luận được hoàn thiện hơn. Sơn La, tháng 5 năm 2013 Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 1 2. Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài ...................................................... 2 2.1. Mục tiêu ...................................................................................................... 2 2.2. Nhiệm vụ ..................................................................................................... 2 2.3. Giới hạn ...................................................................................................... 2 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................. 2 4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 4 4.1. Phương pháp thu thập tài liệu ...................................................................... 4 4.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh ................................................... 4 5. Đóng góp của đề tài ........................................................................................ 5 6. Cấu trúc của đề tài .......................................................................................... 5 CHƯƠNG 1. NHỮNG TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN Ở VIỆT NAM ................................................................................................... 6 1.1. Vị trí địa lý ................................................................................................. 6 1.2. Điều kiện tự nhiên ..................................................................................... 6 1.2.1. Địa hình ven biển ..................................................................................... 6 1.2.2. Khí hậu ..................................................................................................... 7 1.2.3. Thủy văn …………..……………………………………………..……….8 1.2.4. Nguồn lợi hải sản biển .............................................................................. 9 1.2.5. Các ngư trường lớn ................................................................................. 11 1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội ........................................................................ 12 1.3.1. Dân cư và nguồn lao động ...................................................................... 12 1.3.2. Vốn và yếu tố khoa học công nghệ ......................................................... 14 1.3.2.1. Vốn...................................................................................................... 14 1.3.2.2. Khoa học công nghệ ............................................................................ 14 1.3.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật ........................................................................... 15 1.3.3.1. Số lượng, công suất tàu thuyền khai thác hải sản ................................. 15 1.3.3.2. Về ngư cụ ............................................................................................ 16 1.3.3.3. Hệ thống nhà máy chế biến thủy sản .................................................... 16 1.3.3.4. Hệ thống các cảng cá ........................................................................... 17 1.3.4. Đường lối chính sách .............................................................................. 18 1.3.5. Thị trường tiêu thụ .................................................................................. 20 1.3.5.1. Thị trường trong nước ......................................................................... 20 1.3.5.2. Thị trường thế giới ............................................................................... 21 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN ..................................................................................... 24 2.1. Thực trạng ............................................................................................... 24 2.1.1. Đánh bắt thủy sản ................................................................................... 25 2.1.1.1. Sản lượng và năng suất ........................................................................ 26 2.1.1.2. Hoạt động khai thác thủy sản phân theo vùng ...................................... 27 2.1.2. Nuôi trồng thủy sản ................................................................................ 33 2.1.2.1. Diện tích, sản lượng và năng suất nuôi trồng ....................................... 33 2.1.2.2. Cơ cấu sản phẩm nuôi trồng ................................................................ 37 2.1.2.3. Hoạt động nuôi trồng thủy sản phân theo vùng ................................... 38 2.2. Giải pháp để phát triển ngành thủy sản ở Việt Nam ............................. 44 2.2.1. Định hướng phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam đến năm 2030 ............. 44 2.2.2. Những giải pháp cụ thể ........................................................................... 45 2.2.2.1. Đối với khai thác thủy sản ................................................................... 45 2.2.2.2. Đối với nuôi trồng thủy sản ................................................................. 46 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 50 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 52 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Các chữ viết tắt Giải nghĩa NT Ngư trường XK Xuất khẩu NK Nhập khẩu CV Mã lực (công suất của động cơ tàu thuyền) ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSH Đồng bằng sông Hồng ĐNB Đông Nam Bộ DANH MỤC CÁC HÌNH ST T Số hình 1 Hình 2.1 Tên hình Sản lượng và giá trị sản xuất thủy sản nước ta, giai đoạn 1990 – 2010. Trang 24 DANH MỤC BẢNG BIỂU TT Số bảng Tên bảng biểu Trang 1 Bảng 1.1 Nguồn lợi hải sản Việt Nam. 2 Bảng 2.1 Mười tỉnh đứng đầu cả nước về khai thác thủy sản, năm 2011. 27 3 Bảng 2.2 Sản lượng thủy sản khai thác các tỉnh Duyên hải miền Trung, giai đoạn 2000 – 2011. 29 4 Bảng 2.3 Sản lượng thủy sản khai thác các tỉnh Đông Nam Bộ, giai đoạn 2000 – 2011. 30 5 Bảng 2.4 Sản lượng thủy sản khai thác các tỉnh Tây Nam Bộ, giai đoạn 2000 – 2011. 32 6 Bảng 2.5 Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản phân theo môi trường nước. 34 7 Bảng 2.6 Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản phân theo các vùng, giai đoạn 1995 – 2009. 35 8 Bảng 2.7 Sản lượng tôm nuôi, cá nuôi năm 2010 và 2011 phân theo vùng. 36 9 Bảng 2.8 Sản lượng nuôi trồng thủy sản ở Đông Nam Bộ, giai đoạn 2000 – 2011. 42 10 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Ngành thuỷ sản đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của nước ta. Thuỷ sản không những cung cấp thực phẩm giàu dinh dưỡng mà còn là một ngành kinh tế tạo công ăn việc làm và thu nhập cho nhân dân, đặc biệt ở những vùng nông thôn và vùng ven biển. Thuỷ sản cũng có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Nước ta có nhiều tiềm năng để phát triển ngành thủy sản. Diện tích mặt nước trên lục địa lớn với nhiều ao, hồ, sông, suối, là môi trường thuận lợi cho hoạt động nuôi trồng thủy sản. Trên biển, nguồn tài nguyên hải sản phong phú, tổng trữ lượng hải sản ước tính khoảng 4,0 triệu tấn. Nguồn tài nguyên hải sản kết hợp với đặc điểm khí hậu, thủy văn, địa hình ven biển… là điều kiện để ngành đánh bắt hải sản nước ta phát triển mạnh mẽ. Trong một thời gian dài, thuỷ sản Việt Nam đã có những bước phát triển thăng trầm. Từ một lĩnh vực có thể nói là chưa được chú trọng phát triển, còn ở quy mô nhỏ lẻ, sau những năm thực hiện công cuộc đổi mới, ngành đã có những bước đi khẳng định mình trong nền kinh tế Việt Nam cũng như trong nền kinh tế thế giới. Ngành thuỷ sản từng bước vươn lên phát triển một cách mạnh mẽ và hiện nay đang là một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Việt Nam đã trở thành một trong 20 quốc gia hàng đầu thế giới về sản lượng thủy sản, là 1 trong 10 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng bình quân 20 %/năm. Mặc dù trong thời gian qua ngành thủy sản nước ta đã có nhiều khởi sắc, nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Bên cạnh đó, nảy sinh những hạn chế về suy giảm nguồn tài nguyên, kỹ thuật khai thác, nuôi trồng, chế biến; những khó khăn về vốn đầu tư và sự biến động của thị trường. Ngành còn gặp nhiều rủi ro và phát triển không bền vững, gây tổn thất không nhỏ cho các doanh nghiệp và ngư dân. Việc phát triển ngành thủy sản là vấn đề mang tính thời sự trong giai đoạn hiện nay. Ngành này cũng đang nhận được sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước ta. Đặc biệt, việc khai thác hải sản hiện nay không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa lớn trong việc khẳng định được chủ quyền biển đảo Việt Nam. Tìm hiểu về ngành thủy sản để có kiến thức trong giảng dạy Địa lý ở trường phổ thông, đồng thời để thêm hiểu biết và tự hào về quê hương đất nước Việt Nam, góp một tiếng nói để khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam. 1 Chính vì lẽ đó, tôi đã chọn tìm hiểu vấn đề “Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển ngành thủy sản ở Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp của mình. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài 2.1. Mục tiêu Mục tiêu của đề tài là đánh giá những tiềm năng và thực trạng phát triển ngành này ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp phù hợp để phát triển ngành thủy sản. 2.2. Nhiệm vụ Để đạt được những mục tiêu đề ra ở trên, đề tài tập trung đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau: - Tìm hiểu điều kiện về tự nhiên và kinh tế – xã hội để phát triển ngành thủy sản. - Tìm hiểu thực trạng phát triển ngành thủy sản Việt Nam trên hai mặt hoạt động đó là đánh bắt thủy sản và nuôi trồng thủy sản. Trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá đúng đắn về các vấn đề nghiên cứu. - Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững hơn. 2.3. Giới hạn - Về nội dung: Đánh giá những tiềm năng, thực trạng và đưa ra những giải pháp phát triển ngành thủy sản ở Việt Nam. - Về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động thủy sản từ năm 2000 đến nay và đưa ra những giải pháp đến năm 2030. - Về không gian: Đề tài nghiên cứu tiềm năng, thực trạng phát triển ngành thủy sản trên lãnh thổ Việt Nam, chú trọng tìm hiểu hoạt động thủy sản trên các vùng kinh tế trong cả nước. 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trên bình diện cả nước, đã có nhiều tác giả đề cập đến ngành thủy sản. Tác giả Nguyễn Thị Thu Hương, trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng với tác phẩm “Sử dụng và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản Việt Nam”. Trên cơ sở phân tích nguồn lợi thủy sản Việt Nam, tình hình khai thác nguồn lợi thủy sản, từ đó tác giả đã có những định hướng để sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản, bảo vệ tài nguyên môi trường và đa dạng sinh học nghề cá. Tác giả Nguyễn Đình Thắng (trường Đại học Kinh tế Quốc dân) viết giáo trình “Kinh tế thủy sản”, giáo trình 2 đã trình bày những vấn đề lý luận chung nhất về vai trò, đặc điểm ngành thủy sản, công nghệ chế biến thủy sản, luật thủy sản và thị trường thủy sản… Tác giả Nguyễn Việt Thắng trong cuốn “Bách khoa thủy sản” đã phân tích, đánh giá về môi trường, nguồn lợi thủy sản, các hình thức khai thác, nuôi trồng thủy sản. Cuốn sách đã giúp cho người đọc có cái nhìn tổng quan về ngành thủy sản Việt Nam. Dưới góc độ Địa lý, tác giả Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức đã có nhiều chương trình nghiên cứu trong “Địa lý kinh tế – xã hội Việt Nam và Địa lý nông – lâm – ngư ngiệp”. Các tác giả cũng đã đánh giá được tiềm năng, thực trạng của ngành thủy sản ở Việt Nam. Đây là những nguồn tư liệu quý để tôi nghiên cứu, tổng hợp trong khóa luận của mình. Đối với mỗi vùng của cả nước cũng có nhiều tác giả đã nghiên cứu về ngành thủy sản. Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Tạ Ngọc Anh (trường Đại học Sư phạm Vinh) với đề tài “Giải pháp phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh Bắc Trung Bộ đến năm 2015”. Đề tài trọng tâm tìm hiểu những kết quả đạt được của ngành thủy sản trong thời kỳ 2000 – 2007 ở Bắc Trung Bộ, so sánh đối chiếu với những tiêu chí của phát triển bền vững, qua đó đánh giá và nhận xét tình hình thực tế. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp cụ thể đối với địa bàn các tỉnh Bắc Trung Bộ. Trong phạm vi mỗi địa phương cũng có những bài viết của nhiều tác giả khác nhau. Bàn về việc phát triển thủy sản ở Bến Tre, tác giả Lê Xinh Nhân (trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh) đã viết luận văn Thạc sĩ “Tiềm năng và định hướng phát triển thủy sản ở Bến Tre”. Luận văn đã đi sâu phân tích những mặt mạnh và hạn chế để phát triển ngành thủy sản, giải thích nguyên nhân và đề xuất những giải pháp phát triển bền vững môi trường thủy sản của tỉnh trong tương lai. Hàng ngày, trên các phương tiện thông tin đại chúng như: báo chí, đài phát thanh truyền hình cũng đang đề cập đến tình hình xuất khẩu thủy sản Việt Nam ra thị trường thế giới, tình hình chế biến thủy sản của các doanh nghiệp Việt Nam… Ví dụ, các bài viết: “Hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản” (Báo Giáo dục – 13/4/2013), “ Xuất khẩu thủy sản còn nhiều thách thức” (Báo Sài Gòn Giải Phóng – 10/4/2013), “53 năm Thủy sản Việt Nam: Không ngừng phát triển, hướng tới tương lai”( Tạp chí thủy sản Việt Nam 7/4/2013)… 3 4. Phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp thu thập tài liệu Đây là phương pháp truyền thống được sử dụng trong các nghiên cứu khoa học địa lý. Khoa học không thể phát triển được nếu như không có tính kế thừa, thiếu đi sự tích lũy những thành tựu của quá khứ. Bởi vậy, phương pháp thu thập tài liệu có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nguồn tài liệu thu thập tương đối đa dạng và phong phú bao gồm các tài liệu đã được xuất bản, các đề tài nghiên cứu, các tài liệu trên mạng internet… Trong đề tài này, tôi quan tâm nhiều đến các nguồn tài liệu như bách khoa toàn thư, sách, tạp chí kinh tế, các bảng số liệu thống kê và các tài liệu trên các trang web có độ tin cậy cao. Các tài liệu nghiên cứu phải có tính cập nhật và tính thực tế cao, phục vụ cho quá trình đánh giá, rút ra những kết luận cần thiết khi nghiên cứu vấn đề. 4.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh Sau khi thu thập được tài liệu, ta phải xử lý tài liệu theo mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Trong quá trình xử lý số liệu, hàng loạt các phương pháp truyền thống được sử dụng như phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp. Việc sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp có ý nghĩa quan trọng, trước hết là đối với việc thống nhất tài liệu, đặc biệt là số liệu. Các số liệu cho cùng một đối tượng nghiên cứu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, vì thế phải được phân tích, so sánh đúng vấn đề, rút ra những kết luận chính xác. Thông qua phương pháp này, nguồn tài liệu đã được xử lý sao cho phù hợp với thực tế khách quan. Tiếp theo, tài liệu được phân tích, tổng hợp, đối chiếu để từng bước biến chúng thành cơ sở cho những nhận định hoặc những kết luận khoa học khi nghiên cứu. 4.3. Phương pháp biểu đồ, bảng số liệu Biểu đồ là phương pháp đặc trưng của khoa học địa lý, là nguồn tài liệu hết sức quan trọng trong việc khai thác những vấn đề địa lý. Các bảng số liệu được sử dụng rộng rãi và có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu địa lý. Khi sử dụng bảng số liệu, người nghiên cứu đã tìm ra các mối liên hệ giữa các số liệu, phân tích chúng theo nội dung từng vấn đề thể hiện trong các cột dọc, hàng ngang. Việc so sánh, đối chiếu các số liệu theo cột hay hàng là hết sức cần thiết để từ đó rút ra những nhận xét và kết luận. Trong khóa luận, tác giả đã xây dựng 4 được biểu đồ Sản lượng và giá trị sản xuất thủy sản nước ta, giai đoạn 1990 – 2010 và 9 bảng số liệu. Các biểu đồ, bảng số liệu đã thể hiện chân thực các số liệu mà tác giả đã nghiên cứu. 5. Đóng góp của đề tài Đề tài hoàn thành sẽ có một số đóng góp sau đây: - Đề tài là nguồn tư liệu tham khảo cho các giáo viên, học sinh, sinh viên trong quá trình giảng dạy và học tập. - Đề tài sẽ giúp cho người đọc có những nhận xét, đánh giá đúng đắn hơn về ngành thủy sản Việt Nam. Trên cơ sở đó, có ý thức hơn trong việc chung sức bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam. 6. Cấu trúc của đề tài Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 2 chương: Chương 1: Những tiềm năng phát triển ngành thủy sản ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng và những giải pháp phát triển ngành thủy sản ở Việt Nam. 5 CHƯƠNG 1. NHỮNG TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN Ở VIỆT NAM 1.1. Vị trí địa lý Việt Nam nằm ở rìa đông bán đảo Đông Dương, tiếp giáp với biển Đông rộng lớn. Đường bờ biển của Việt Nam kéo dài 3.260 km, diện tích thềm lục địa rộng, nông, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Biển Đông có diện tích rộng khoảng 3.477 triệu km2, là 1 trong 6 biển lớn nhất thế giới. Biển Đông được bao bọc bởi 10 quốc gia và vùng lãnh thổ, đó là: Việt Nam, Trung Quốc, Mailaixia, Indonexia, Philippin, Brunay, Thái Lan, Campuchia, Singapo, Đài Loan. Trong biển có 2 vịnh lớn là vịnh Bắc Bộ (diện tích 150.000 km2) và vịnh Thái Lan (diện tích 462.000 km2). Ở cả 3 hướng đông, nam và tây nam của lãnh thổ nước ta tiếp giáp biển Đông với bờ biển kéo dài từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang). Đường bờ biển chạy dài theo đất nước đã tạo điều kiện cho 28 trong số 63 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương có điều kiện trực tiếp khai thác nguồn lợi từ biển để phát triển ngành thủy sản. Diện tích vùng nội thuỷ và lãnh hải của Việt Nam rộng 226.000 km2 và vùng biển đặc quyền kinh tế trải rộng trên 200 hải lý. Như vậy, vùng biển Việt Nam có diện tích khoảng 1 triệu km2 ở biển Đông, rộng gấp 3 lần diện tích đất liền. Đây là không gian rộng lớn để đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản. Việt Nam nằm ở nơi tiếp xúc của các dòng hải lưu trên biển Đông. Hải lưu lạnh phương bắc đi từ Nhật Bản qua eo Đài Loan xuống tận vĩ tuyến 12 oB, đã mang đến cho vùng biển nước ta những loài cá Nhật Bản – Trung Hoa bên cạnh những loài cá của khu hệ Ấn Độ – Malaixia. Điều đó đã làm tăng cường tính đa dạng của các loài cá trên vùng biển nước ta. Việt Nam nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương nên thuận lợi cho hoạt động thông thương buôn bán thủy sản với các quốc gia trên thế giới bằng đường biển. 1.2. Điều kiện tự nhiên 1.2.1. Địa hình ven biển Trong vùng biển nước ta có nhiều vũng vịnh, đầm, phá, cửa sông. Dọc bờ biển có 12 vịnh. Các vịnh tiêu biểu như vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, vịnh Cam Ranh. Có nhiều đầm phá với tổng diện tích 1.160 km2, có nhiều đảo và vũng 6 vịnh tạo điều kiện hình thành các bãi cho cá sinh sản. Đồng thời những vịnh sâu rộng và đầm phá được che chắn bởi các mỏm đá tạo nơi trú đậu cho tàu thuyền đánh cá an toàn. Dọc ven biển nước ta có 112 cửa sông, là những vùng nhiều phù du sinh vật biển, đây là nguồn cung cấp thức ăn dồi dào cho các loại cá tôm. Một số hải đảo có các rạn đá là nơi tập trung nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế. Trong vùng biển Việt Nam có trên 4.000 hòn đảo, tập trung nhiều nhất ở khu vực từ Móng Cái đến Ðồ Sơn. Trong đó có nhiều đảo lớn như Cô Tô, Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Hòn Mê, Phú Quí, Côn Ðảo, Phú Quốc... có cư dân sinh sống, đang và sẽ được xây dựng thành một tuyến căn cứ cung cấp các dịch vụ hậu cần, trung chuyển sản phẩm cho đội tàu khai thác hải sản, đồng thời làm nơi trú đậu cho tàu thuyền trong mùa bão. Ven biển nước ta có trên 400 nghìn hécta rừng ngập mặn, là những khu vực cũng rất thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Tuy nhiên, trong vùng biển nước ta, có những vùng biển có thềm lục địa nông gây khó khăn cho tàu thuyền neo đậu và trú ẩn. 1.2.2. Khí hậu Lãnh thổ nước ta nằm trong vành đai nội chí tuyến Bắc bán cầu và khu vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa châu Á. Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của Việt Nam được thể hiện ở đặc điểm nổi bật là nóng ẩm. Tổng bức xạ lớn, cân bằng bức xạ dương khiến cho nhiệt độ trung bình năm cao, vượt tiêu chuẩn khí hậu nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình năm trên toàn quốc đều lớn hơn 20oC (trừ vùng núi cao), nhiều nắng, tổng số giờ nắng tùy nơi từ 1400 đến 3000 giờ/năm. Các khối khí di chuyển qua biển (trong đó có biển Đông) đã mang cho nước ta lượng mưa lớn, trung bình năm từ 1500 mm đến 2000 mm. Độ ẩm không khí cao, trên 80%, cân bằng ẩm luôn dương. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho các hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản diễn ra quanh năm. Khí hậu, thời tiết Việt Nam chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, song ở mỗi miền có đặc trưng khác nhau. Miền Bắc: Nhiệt độ không khí trung bình 22,2 – 23,5oC, lượng mưa trung bình từ 1.500 – 2.400 mm, tổng số giờ nắng từ 1.650 – 1.750 giờ/năm. Mùa mưa từ tháng 6 – tháng 8, và chịu ảnh hưởng lớn của bão, bão ở đây xuất hiện sớm nhất trong cả nước. Vùng biển khu vực này thuộc nhật triều với biên độ 3,2 – 3,6 m. Miền Trung: Nhiệt độ trung bình 25,5 – 27,5oC, mưa tập trung vào cuối tháng 9 – tháng 11, nắng nhiều từ 2.300 – 3.000 giờ/năm. Chế độ thủy triều gồm nhật triều và bán nhật triều, có nhiều đầm phá thích hợp nuôi thủy sản. 7 Miền Nam: Khí hậu mang tính chất xích đạo, nhiệt độ trung bình 22,6 – 27,6 C, mưa tập trung từ tháng 5 – tháng 10. Lượng mưa trung bình 1.400 – 2.400 mm, nắng trên 2.000 giờ/năm. Vùng này chủ yếu chế độ bán nhật triều biên độ 2,5 – 3 m. Chế độ khí hậu, thời tiết, các điều kiện tự nhiên đa dạng tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản đa loài, nhiều loại hình. o Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với nền nhiệt độ cao, biển không đóng băng, chính vì vậy hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản diễn ra quanh năm. Nền nhiệt độ cao còn thuận lợi cho phơi sấy và bảo quản sản phẩm thủy hải sản. Bị chi phối bởi đặc thù của vùng biển nhiệt đới, nguồn lợi thuỷ sản nước ta có thành phần loài đa dạng, kích thước cá thể nhỏ, tốc độ tái tạo nguồn lợi cao. Chế độ gió mùa tạo nên sự thay đổi căn bản điều kiện hải dương học, làm cho sự phân bố của cá cũng thay đổi rõ ràng, sống phân tán với quy mô đàn nhỏ. Tỷ lệ đàn cá nhỏ có kích thước dưới 5 x 20 m chiếm tới 82% số đàn cá, các đàn vừa (10 x 20 m) chiếm 15%, các đàn lớn (20 x 50 m trở lên) chỉ chiếm 0,7% và các đàn rất lớn (20 x 500 m) chỉ chiếm 0,1% tổng số đàn cá. Số đàn cá mang đặc điểm sinh thái vùng gần bờ chiếm 68%, các đàn mang tính đại dương chỉ chiếm 32%. Tuy nhiên, hàng năm có tới 9 – 10 cơn bão xuất hiện ở biển Đông và khoảng 30 - 35 đợt gió mùa đông bắc, gây thiệt hại về người và tài sản, hạn chế số ngày ra khơi. 1.2.3. Thủy văn Trong nội địa, hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và các hồ thủy lợi, thủy điện, đã tạo cho nước ta có tiềm năng lớn về mặt nước với khoảng 1.700.000 ha, trong đó: Ao hồ nhỏ, mương vườn 120.000 ha, hồ chứa mặt nước lớn 340.000 ha, ruộng có khả năng nuôi thủy sản 580.000 ha. Trên cả nước có 2.360 con sông dài từ 10 km trở lên, trong đó có 106 dòng sông chính và 2.254 phụ lưu. Trung bình cứ 1km2 thì có gần 1km sông suối, đi trên mặt đất thì cứ 600 – 1.000 m lại gặp 1 dòng nước chảy qua. Đi dọc bờ biển nước ta, cứ khoảng 20 km lại có một cửa sông đổ ra biển. Vùng cửa sông nhiều phù du sinh vật là nguồn thức ăn cho cá, tôm sinh sống. Các sông lớn như sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Cửu Long với nhiều hệ thống các chi lưu, rất thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản nước ngọt. Nước ta có nhiều sông suối, kênh rạch, ao hồ, các ô trũng ở vùng đồng bằng có thể nuôi thả tôm cá nước ngọt. Cả nước đã sử dụng hơn 850.000 ha diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản, trong đó có 45% thuộc tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu. 8 Tuy nhiên, nhiều sông nước ta ngắn và dốc, không thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản nước ngọt. Vùng triều có khoảng 660.000 ha và khoảng 300.000 – 400.000 ha eo, vịnh, đầm phá ven biển có thể sử dụng vào nuôi trồng thủy sản chưa được quy hoạch. 1.2.4. Nguồn lợi hải sản biển Theo những đánh giá mới nhất của Viện Nghiên cứu hải sản (Bộ Thủy sản), vùng biển nước ta có tổng trữ lượng hải sản khoảng 3,9 – 4,0 triệu tấn, cho phép khai thác hàng năm khoảng 1,9 triệu tấn. Biển Việt Nam có trên 2.000 loài cá, trong đó khoảng trên 100 loài cá có giá trị kinh tế cao, như: cá trích, cá thu, cá nục, cá hồng, cá ngừ, cá bạc má... Bên cạnh cá, biển còn nhiều nguồn lợi tự nhiên như có 1.647 loài giáp xác, trong đó có trên 100 loài tôm, sản lượng cho phép khai thác 50 – 60 nghìn tấn/năm, có giá trị cao là tôm biển, tôm hùm, tôm rồng và tôm mũ ni, cua, ghẹ...; khoảng 2.500 loài động vật thân mềm, trong đó có ý nghĩa kinh tế cao nhất là mực (với 25 loài) và bạch tuộc (cho phép khai thác 60 – 70 nghìn tấn/năm). Ngoài ra, biển nước ta còn có trên 600 loài rong biển, hàng năm có thể khai thác từ 45 đến 50 nghìn tấn rong biển có giá trị kinh tế, như: rong câu, rong mơ v.v... Bên cạnh đó, còn rất nhiều loài đặc sản quí, như: bào ngư, đồi mồi, chim biển và có thể khai thác vây cá, bóng cá, ngọc trai, v.v... Vùng biển nước ta còn có đủ loại cá nổi, cá đáy, nhưng nhiều hơn cả là cá nổi, chiếm 63% tổng trữ lượng cá biển. Điều này tạo điều kiện cho hoạt động đánh bắt diễn ra an toàn và đỡ tốn kém. Phân bố trữ lượng và khả năng khai thác cá đáy tập trung chủ yếu ở vùng biển có độ sâu dưới 50 m (56,2%), tiếp đó là vùng sâu từ 51 – 100 m (23,4%). Theo số liệu thống kê, khả năng cho phép khai thác cá biển Việt Nam bao gồm cả cá nổi và cá đáy ở khu vực gần bờ có thể duy trì ở mức 600.000 tấn. Nếu kể cả các hải sản khác, sản lượng cho phép khai thác ổn định ở mức 700.000 tấn/năm, thấp hơn so với sản lượng đã khai thác ở khu vực này hàng năm trong một số năm qua. Trong khi đó, nguồn lợi vùng xa bờ còn lớn, chưa khai thác hết. Nước ta đã thống kê được 544 loài trong 18 bộ, 57 họ, 228 giống cá nước ngọt. Với thành phần giống loài phong phú nước ta được đánh giá là có đa dạng sinh học cao. Trong 544 loài có nhiều loài có giá trị kinh tế. Biển nước ta có 186 loài cá nước lợ, nước mặn. Một số loài có giá trị kinh tế như: cá song, cá hồng, cá tráp, cá vược, cá măng, cá cam, cá bống, cá bớp, cá đối, cá dìa. Trong đó đã đưa vào nuôi: cá vược, cá giò, cá song, cá măng, cá cam... 9 Nước ta còn có nhiều loại tôm, trong đó có 16 loài chủ yếu có giá trị kinh tế và đưa vào nuôi: tôm sú, tôm lớt, tôm he Ấn Độ, tôm rảo, tôm nương, tôm hùm bông, tôm càng xanh. Các loài nhuyễn thể ở nước ta khá phong phú như: trai, hầu, điệp, nghêu, sò, ốc, hầu... và đang được đưa vào nuôi các loại như: trai, nghêu, sò, hầu... Ngoài ra còn có nhiều loại rong tảo, với 90 loài có giá trị kinh tế. Trong đó, đáng kể là rong câu (có 11 loài), rong mơ, rong sụn... Theo vùng và theo độ sâu, nguồn lợi cá cũng khác nhau. Vùng biển Ðông Nam Bộ cho khả năng khai thác hải sản xa bờ lớn nhất, chiếm 49,7% khả năng khai thác cả nước, tiếp đó là Vịnh Bắc Bộ (16,0%), biển miền Trung (14,3%), Tây Nam Bộ (11,9%), các gò nổi (0,15%), cá nổi đại dương (7,1%),… Bảng1.1: Nguồn lợi hải sản Việt Nam STT 1 2 3 4 5 6 Vùng biển Vịnh Bộ Loài cá Độ sâu Bắc Cá nổi nhỏ Miền Trung Cá đáy Cộng Cá nổi nhỏ Cá đáy Cộng Đông Nam Cá nổi nhỏ Bộ Cá đáy Cộng Tây Nam Cá nổi nhỏ Bộ Cá đáy Cộng Gò nổi Cá nổi nhỏ Toàn vùng Cá nổi đại dương biển Tổng cộng Cá nổi nhỏ Cá đáy Cá nổi đại dương Toàn bộ <50m >50m Cộng <50m >50m Cộng <50m >50m Cộng <50m >50m Cộng Trữ lượng Tỷ lệ Tấn (%) 390.000 57,3 39.204 251.962 291.116 681.166 500.000 18.494 87.905 106.399 606.399 524.000 349.154 1.202.735 1.551.889 1.551.889 316.000 190.670 506.679 10.000 300.000 1.740.000 2.140.000 300.000 4.180.133 5,7 37,0 42,7 100,0 82,5 3,0 14,5 17,5 100,0 25,2 16,8 58,0 74,8 100,0 62,0 38,0 100,0 100,0 Khả năng khai thác Tỷ lệ Tấn (%) 156.000 57,3 15.682 100.785 116.467 272.467 200.000 7.398 35.162 42.560 242.560 209.600 139.762 418.094 620.856 830.456 126.000 76.272 202.272 2.500 120.000 694.100 855.885 120.000 1.669.985 5,7 37,0 42,7 100,0 82,5 3,0 14,5 17,5 100,0 25,2 16,8 58,0 74,8 100,0 62,0 38,0 100,0 100,0 Tỷ lệ 16,3 14,5 49,7 12,1 0,2 7,2 100 100,0 (Nguồn: Trung tâm Tin học thủy sản, năm 2008) 10 Không kể trữ lượng cá đại dương di cư và sinh vật vùng triều, cá biển nước ta tập trung trong 15 bãi cá lớn, trong đó có 12 bãi cá phân bố ở vùng ven bờ và 3 bãi cá ở ngoài khơi. Đặc trưng nổi bật nhất ở vùng biển nước ta là quanh năm đều có cá sinh sản nên hoạt động đánh bắt diễn ra quanh năm. Biển nước ta cũng là nơi phát sinh và phát tán của nhiều nhóm sinh vật biển vùng nhiệt đới Ấn Độ – Thái Bình Dương, với khoảng 11.000 loài đã được phát hiện. Như vậy, Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên thủy sản phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, hiện nay nguồn lợi hải sản đang có nguy cơ cạn kiệt, do khai thác chủ yếu ở ven bờ, khai thác bằng các phương pháp hủy diệt. Ô nhiễm môi trường biển do hoạt động tàu thuyền, sự cố tràn dầu và ô nhiễm do chất thải của các nhà máy chế biến thủy sản cũng là những nguyên nhân gây suy thoái nguồn tài nguyên quan trọng này. 1.2.5. Các ngư trường lớn Theo tài liệu nghiên cứu về "Đặc điểm nguồn lợi cá biển Việt Nam, trữ lượng và khả năng khai thác", vùng biển nước ta có 15 ngư trường khai thác chính. Hầu hết các ngư trường này nằm dọc theo các vùng nước ven bờ, gần các đảo, có độ sâu dưới 200 m. Ở vùng Vịnh Bắc Bộ có 3 ngư trường (NT), mùa vụ khai thác chính từ tháng 6 đến tháng 8 gồm: NT 1 – nằm ở khu vực xung quanh đảo Bạch Long Vĩ, có độ sâu 50 mét nước, với các loài cá chiếm ưu thế chính là cá nục sồ, cá tráp. NT 2 – nằm giữa Vịnh Bắc Bộ, có độ sâu 50 mét. Đối tượng đánh bắt chính là cá tráp, cá nục sồ, cá phèn khoai, cá phèn hai sọc, cá lượng. NT 3 – nằm ở phía nam Vịnh, vùng xung quanh đảo Hòn Mê, Hòn Mát có độ sâu khoảng 20 mét nước. Với các loài cá chính là cá phèn, cá muối thường, cá lượng và cá khế. Vùng biển miền Trung có 5 NT, mùa khai thác chính từ tháng 4 đến tháng 7, gồm: NT 4 – quanh đảo Hòn Gió (Thuận An) có độ sâu 45 – 70 mét, với các loài cá có sản lượng lớn là cá lượng, cá phèn, cá mối thường, cá háo và cá bạch điều. NT 5 – nằm ở đông bắc đảo Cù Lao Chàm, với độ sâu dao động từ 100 đến 300 mét (rộng hơn 1.300 hải lý vuông), đáy bùn cát. Các loài cá đánh bắt chủ yếu là cá mối thường, cá ngân, cá phèn. NT 6 – nằm ở tây bắc Đà Nẵng (kéo dài theo hướng đông nam – tây bắc), có độ sâu 50 – 200 mét. Các loài cá chủ yếu đánh bắt được là cá tráp, cá đù bạc, cá ngân, cá mối thường và cá lượng. NT 7 – vùng gò nổi 125, ngoài khơi vùng biển Đà Nẵng, có độ sâu 215 mét, đáy trầm tích hữu cơ, với các loài cá đánh bắt chủ yếu là cá đỏ môi, cá hố đầu nhỏ. NT8 – vùng gò nổi Marges – seamouth, nằm theo hướng tây bắc – đông nam, ngoài 11 khơi Quy Nhơn, có độ sâu 290 – 350 mét nước và độ dốc gò nổi 20 – 30, rất thích hợp với nghề kéo lưới đáy. Vùng biển Nam Bộ có 5 NT, gồm: NT 9 – vùng gò nổi ngoài khơi tỉnh Phan Rang, có độ sâu 280 mét, với đối tượng đánh bắt chính là cá đỏ môi, chiếm 62% tổng sản lượng các loài cá đánh bắt tại ngư trường này. NT 10 – nằm phía đông Phan Thiết, mùa vụ đánh bắt chính từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Có loài cá mối vạch (có thể đánh bắt được chúng quanh năm), cá trác đuôi dài, cá nục sồ, cá mối thường. NT 11 – nằm ở phía nam Cù Lao Thu, có độ sâu 50 – 200 mét. Mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) là mùa đánh bắt chính, nhưng có thể khai thác quanh năm (vào khoảng tháng 4 đến tháng 7 năng suất giảm). Các loài đánh bắt chính là cá mối vạch, cá trác ngắn, cá mối thường, cá hồng và cá phèn khoai. NT 12 – nằm quanh khu vực đảo Côn Sơn, đáy cát mịn và vỏ sò. Có độ sâu 25 – 40 mét. Mùa khai thác chính là giai đoạn giao thời giữa thu sang đông, với các loài cá đánh bắt được là cá nục sồ, cá hồng, cá mối thường, cá chỉ vàng, cá phèn, cá lượng. NT 13 – nằm ở cửa sông Hậu, có độ sâu 10 – 12 mét, có thể khai thác quanh năm. Mật độ cá tập trung cao nhất là khu vực cửa sông Hậu, có cá sạo, cá nhụ, cá trích, cá khế, cá đù nanh, cá hồng đỏ… Vùng vịnh Thái Lan có 2 NT, gồm: NT 14 – nằm ở vùng ven bờ biển tây nam Việt Nam. Chỉ sâu khoảng 10 – 15 mét, có thể đánh bắt với năng suất cao quanh năm. Các loài cá chính ở đây là cá liệt (chiếm 70% sản lượng đánh bắt hàng năm), cá chỉ vàng, cá hồng, họ cá căng, cá lượng. NT 15 – nằm phía tây nam đảo Phú Quốc, sâu 10 – 15 mét, cũng có thể khai thác quanh năm với sản lượng cao. Ở đây có các loài cá chủ yếu là cá liệt (chiếm 25 – 30%), cá chỉ vàng, cá hồng, họ cá căng và cá cơm... Trong vùng biển nước ta có 4 NT trọng điểm, đó là: NT Cà Mau – Kiên Giang (NT vịnh Thái Lan), NT Ninh Thuận, Bình Thuận – Bà Rịa Vũng Tàu, NT Hải Phòng – Quảng Ninh (NT vịnh Bắc Bộ) và NT quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa. 1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội 1.3.1. Dân cư và nguồn lao động Nguồn lao động là yếu tố hàng đầu trong mọi hoạt động sản xuất thủy sản. Trên lãnh thổ nước ta, với hơn 4 triệu dân sống ở đầm phá, tuyến đảo của 714 xã phường, thuộc 28 tỉnh, thành phố có biển và hàng chục triệu hộ nông dân. Đây là lực lượng lao động quan trọng cho phát triển nghề cá. 12 Hiện nay số lượng lao động tham gia nuôi trồng đông đảo nhất với 2.219.400 người, sau đó là khai thác thủy sản với 435.000 người, chế biến 250.000 người, cơ khí hậu cần 110.000 người và những dịch vụ hậu cần khác, tỷ lệ tương ứng là 67% cho nuôi trồng, 13% cho khai thác, 7,5% cho chế biến và 3,3% cho dịch vụ cơ khí (năm 2008). Nghề cá ở Việt Nam ra đời từ rất sớm và trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau gắn liền với diễn biến lịch sử thăng trầm của đất nước. Chính vì thế nhân dân ta có kinh nghiệm, truyền thống đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản. Ngư dân ở Duyên hải miền Trung có nghề đánh bắt lâu đời nên rất giỏi “ra khơi, vào lộng”, đặc biệt ngư dân Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Định có nghề đánh bắt cá ngừ đại dương sớm và giỏi nhất cả nước. Do đặc điểm của các hình thức tổ chức sản xuất thủy sản chủ yếu là kinh tế tư nhân và tập thể nên lực lượng lao động bao gồm cả những người trong độ tuổi lao động (theo quy định của luật lao động) và những người ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất. Lao động thủy sản chuyên nghiệp là những người có thu nhập chủ yếu từ các hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biến hoặc dịnh vụ hậu cần thủy sản. Họ có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp nhất định. Bên cạnh đó, còn có số lượng đông đảo lao động thủy sản bán chuyên nghiệp. Những người này tham gia sản xuất thủy sản vào thời kì nông nhàn hoặc kết hợp làm thủy sản trong quá trình sản xuất nông – lâm nghiệp để tăng thu nhập. Lao động thủy sản cũng mang tính thời vụ, rõ nét hơn cả là trong nuôi trồng và khai thác. Điều này làm phức tạp thêm cho việc sử dụng lao động trong ngành thủy sản. Nếu hiểu chất lượng nguồn lao động bao gồm thể lực và trí lực thì trong ngành thủy sản có biểu hiện không đều trong các lĩnh vực sản xuất. Nó phụ thuộc đặc điểm và yêu cầu công việc. Trong khai thác đòi hỏi lao động trẻ, khỏe, chỉ có đàn ông tham gia đi biển. Lao động nuôi trồng thủy sản có đối tượng tham gia rộng rãi hơn nhiều, bao gồm cả phụ nữ, người già và thanh thiếu niên. Còn lao động trong lĩnh vực chế biến thủy sản đòi hỏi phải có kỹ năng nghề nghiệp và được đào tạo nhiều hơn. Lao động trong ngành thủy sản được tách riêng khi thủy sản trở thành một nghề chính ở nông thôn và các vùng ven biển, đặc biệt là từ sau những năm 1950. Ngày nay, khi hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thủy sản ngày càng phát triển đã thu hút lực lượng lao động thủy sản tăng lên mạnh mẽ. Bên cạnh đó, cũng cần thấy rằng, với đặc thù nông thôn, ven biển, dân vốn đông, trình độ dân trí còn hạn chế, đã làm giảm đi năng suất và chất lượng trong 13 sản phẩm ngành thủy sản. Hàng năm dân số tăng nhanh kéo theo sự dư thừa lao động ngư nghiệp. Về phát triển nguồn nhân lực, tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” vẫn phổ biến ở cả khu vực doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh. Hệ thống các cơ sở đào tạo chưa được phát triển cân đối giữa các vùng sinh thái, các khu vực trọng điểm. Thực tế cho thấy cán bộ kỹ thuật của các tỉnh quá mỏng chưa quán xuyến nổi khâu phòng bệnh, đào tạo và hướng dẫn nông dân chăm sóc các đối tượng nuôi. 1.3.2. Vốn và yếu tố khoa học công nghệ 1.3.2.1. Vốn Vốn đầu tư cho ngành thủy sản được huy động từ nhiều nguồn như: Ngân sách Nhà nước, các doanh nghiệp, người dân, vốn ODA, FDI và các nguồn khác theo khuôn khổ pháp luật Việt Nam. Các hình thức vốn tín dụng ngắn hạn và trung hạn được các ngân hàng và doanh nghiệp triển khai thông thoáng, tạo điều kiện cho người dân và nhà máy chế biến xuất khẩu thủy sản thúc đẩy quá trình sản xuất. Tổng lượng vốn đầu tư vào ngành tương đối lớn, thời kì 1996 – 2000 là gần 9 tỷ đồng, thời kỳ 2000 – 2010 xấp xỉ 100 nghìn tỷ đồng, và một điểm nổi bật là vốn đầu tư của dân chiếm tỷ trọng 18,53% tổng vốn đầu tư. Tuy nhiên, thu hút vốn FDI vào ngành thủy sản không hề dễ dàng, do thu lợi từ nuôi trồng không cao, tỷ lệ lợi nhuận bấp bênh. Vì thế, vốn đầu tư cho ngành thủy sản vẫn chủ yếu phải dựa vào vốn đầu tư của Nhà nước. Thực tế, những năm qua, không chỉ vốn FDI vào thủy sản rất eo hẹp, mà vốn ngân sách Nhà nước đầu tư vào ngành này cũng rất ít ỏi. Thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, năm 2010, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho ngành thủy sản đạt 1.480 tỷ đồng, đáp ứng khoảng 10% nhu cầu. Trong khi đó, vốn FDI đổ vào lĩnh vực này chiếm chưa tới 1% tổng vốn FDI của cả nước. Mười năm qua, rất nhiều dự án, chương trình phát triển thủy sản đã được đưa ra, song không thể triển khai do thiếu vốn. Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến 2020 đã được Thủ tướng phê duyệt tháng 1 năm 2006, nhưng các vùng thủy sản vẫn chưa được hình thành trong cả nước đã gây trở ngại cho thu hút FDI vào lĩnh vực này. 1.3.2.2. Khoa học công nghệ Khoa học công nghệ ngày càng trở thành một yếu tố sản xuất trực tiếp thúc đẩy sản xuất phát triển. Trong ngành thủy sản, tiến bộ khoa học công nghệ là một nhân tố quyết định sự phát triển, công nghiệp hóa và hiện đại hóa nghề cá. 14 Tiến bộ về khoa học công nghệ trong ngành thủy sản Việt Nam đã tập trung ở một số lĩnh vực như sau: - Hoàn thiện phương pháp sinh sản nhân tạo các loài cá nuôi như: Mè, trôi Ấn Độ, chép, trắm cỏ, rô phi, cá sấu. Tiến hành việc lai tạo và thuần chủng một số loài cá như: chép lai, trê, trôi Ấn Độ nhằm mở rộng và tối ưu hóa đàn cá nuôi trong điều kiện khí hậu Việt Nam. Đồng thời nghiên cứu và hoàn thiện phương pháp sinh sản nhân tạo một số loài hải sản khác như: tôm càng xanh, tôm sú, cua biển, ngọc trai nước ngọt, ba ba… Cuộc cách mạng về giống thủy sản nuôi trồng đã đem lại bước nhảy vọt về năng suất và sản lượng nuôi, đặc biệt cho giá trị xuất khẩu lớn trong những năm gần đây. - Kỹ thuật vận chuyển con giống thủy sản ngày càng phát triển. Phương tiện vận chuyển đường dài bằng xe ô tô, xe hỏa, máy bay đảm bảo tỷ lệ sống cao trên 90%. Với kỹ thuật vận chuyển kín bằng túi hoặc thùng nhựa có bơm oxy, kết hợp hạ thấp nhiệt độ nước, gây mê cho cá tôm “ngủ”, sử dụng một số biện pháp sinh hóa làm giảm sự hoạt động của tôm cá, nâng cao tỷ lệ sống và tăng được mật độ vận chuyển. Hiện nay, kỹ thuật vận chuyển đường dài không chỉ còn bó hẹp trong lĩnh vực con giống mà đã mở rộng sang lĩnh vực chuyên chở cá bố mẹ, cá hậu bị, cá sấu, cá cảnh… phục vụ phát triển nuôi trồng thủy sản nội địa và xuất khẩu ra nước ngoài. - Công nghiệp khai thác cá trên biển đã và đang chuyển từ giai đoạn lưới chài bằng đay gai sang nilon hóa, tiếp theo là giai đoạn động cơ hóa tàu thuyền khai thác vào đầu những năm 90. Dựa vào khả năng đầu tư cho khai thác, từ năm 1997 nước ta đã có hạm tầu đánh cá biển khơi, trang bị động lực lớn, thiết bị hiện đại cho liên lạc và thăm dò cá. - Phát triển kỹ thuật đông lạnh và chế biển thủy sản có giá trị cao. Nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản đạt tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm công nghiệp quốc tế, tiêu chuẩn HACCP để xuất khẩu vào thị trường EU và Bắc Mĩ. Tiến bộ khoa học và công nghệ với tư cách là một yếu tố sản xuất trực tiếp đã đẩy mạnh sản xuất kinh doanh thủy sản kể cả chiều rộng và chiều sâu, mở rộng cả không gian và cường độ hoạt động, tạo thuận lợi cho ngành thủy sản Việt Nam phát triển mạnh mẽ. 1.3.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật 1.3.3.1. Số lượng, công suất tàu thuyền khai thác hải sản 15
- Xem thêm -