Tài liệu Khóa luận tốt nghiệp một số gairi pháp nâng cao hiểu quả quản trị rủi ro tín dụng

  • Số trang: 106 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 186 |
  • Lượt tải: 1
tranvantruong

Đã đăng 3224 tài liệu

Mô tả:

khóa luận tốt nghiệp một số gairi pháp nâng cao hiểu quả quản trị rủi ro tín dụng
Tr-êng ®¹i häc ngo¹i th-¬ng khoa QU¶N TRÞ KINH DOANH chuyªn ngµnh KINH DOANH QUèC TÕ -------***------- KHãA LUËN TèT NGHIÖP §Ò tµi: Mét sè gi¶i ph¸p n©ng cao hiÖu qu¶ qu¶n trÞ rñi ro tÝn dông doanh nghiÖp nhá vµ võa t¹i Vietcombank thêi kú khñng ho¶ng kinh tÕ Sinh viªn thùc hiÖn : NguyÔn Th¶o Quúnh Líp : Anh 4 Khãa : 44A Gi¸o viªn h-íng dÉn: TS. §µo ThÞ Thu Giang Hµ Néi, th¸ng 5/2009 1 LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Đào Thị Thu Giang, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị thuộc Phòng Tín dụng Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam và Phòng Chính sách tín dụng, Hội sở chính Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam đã hết sức tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài. Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2009 Sinh viên Nguyễn Thảo Quỳnh 2 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 7 DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ 8 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DNNVV CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 9 I. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG DNNVV CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 9 1 2 3 4 II. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Hoạt động tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại Phân loại tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa Vai trò của tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam RỦI RO TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1 Khái niệm rủi ro và rủi ro tín dụng ngân hàng 2 Phân loại rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa 3 Đặc điểm của rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa 4 Những căn cứ chủ yếu xác định mức độ rủi ro tín dụng DNNVV 5 Hậu quả của rủi ro tín dụng 6 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa III.QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 9 12 16 17 18 18 20 21 21 24 25 26 1 Sự cần thiết của công tác quản trị rủi ro tín dụng DNNVV 26 2 Nhiệm vụ của công tác quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa 27 3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng DNNVV 27 4 Đo lường rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa 28 5 Nguyên tắc Basel về quản lý rủi ro tín dụng 31 6 Quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 34 CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DNNVV TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM 38 I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG 38 II. CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ - TÀI CHÍNH THẾ GIỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA NÓ ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG DNNVV CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 40 1 Tóm tắt diễn biến của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới từ năm 2008 đến nay và những ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế thế giới 40 3 2 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam 47 3 Một số chính sách tác động của Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước trong năm 2008 và đầu năm 2009 52 III.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DNNVV TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005 – 2008 55 1 Tổng quan về hoạt động tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam 55 2 Phân tích cụ thể hoạt động tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam giai đoạn 2005 - 2008 57 3 Thực trạng và nguyên nhân rủi ro tín dụng 60 4 Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Vietcombank 68 5 Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Vietcombank 74 CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DNVVN TẠI VIETCOMBANK THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TÀI CHÍNH THẾ GIỚI 78 I. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CỦA VIETCOMBANK VỀ CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN NĂM 2015 78 1 Quan điểm 78 2 Mục tiêu 80 II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DNNVV TẠI VIETCOMBANK THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ - TÀI CHÍNH THẾ GIỚI 81 1 Hoàn thiện Tổ chức bộ máy cấp tín dụng & Quy trình tín dụng 2 Hoàn thiện các văn bản liên quan đến cấp tín dụng 3 Xây dựng chính sách tín dụng hiệu quả 4 Xây dựng chính sách khách hàng 5 Củng cố và hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng 6 Các giải pháp phòng ngừa rủi ro 7 Các giải pháp hạn chế, bù đắp tổn thất khi xảy ra rủi ro 8 Các giải pháp về nhân sự 9 Một số kiến nghị khác KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 4 81 84 85 86 90 92 97 100 101 104 105 LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, thị trường tín dụng dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang được các ngân hàng thương mại tại Việt Nam hết sức quan tâm. Đây là một khu vực thị trường có nhiều tiềm năng, vừa góp phần làm tăng doanh thu lại vừa góp phần phân tán rủi ro cho các ngân hàng. Nhận thấy rõ vai trò của phân khúc thị trường tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tương lai, từ năm 2002 đến nay, Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam đã hết sức chú trọng đầu tư cả về nhân lực và vật lực để phát triển mảng thị trường này. Do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới diễn ra từ nửa cuối năm 2008 đến nay, hoạt động tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam nói riêng đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, biểu hiện rõ nét nhất là tỷ lệ nợ xấu tăng cao trong năm 2008, vượt quá tỷ lệ cho phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. “Làm thế nào để nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế?” là một vấn đề hết sức cấp thiết đối với Vietcombank. Cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa là hoạt động mà tôi dành nhiều sự quan tâm, cùng với những kinh nghiệm thực tế có được sau thời gian ba tháng thực tập tại Phòng Tín dụng Doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc Sở giao dịch Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Vietcombank thời kỳ khủng hoảng kinh tế” làm đề tài nghiên cứu. 2. Mục đích nghiên cứu Đề tài nghiên cứu giải quyết 3 vấn đề cơ bản như sau:  Làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận trong quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại.  Phân tích ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới đến hoạt động tín dụng DNNVV tại Vietcombank và thực trạng công tác quản trị rủi ro tín 5 dụng DNNVV tại Vietcombank, từ đó đưa ra những mặt tích cực và những mặt hạn chế của công tác quản trị này.  Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng DNNVV tại Vietcombank thời kỳ khủng hoảng kinh tế. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam giai đoạn 2005 - 2008. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp nghiên cứu thống kê, so sánh, phân tích…đi từ cơ sở lý thuyết đến thực tiễn nhằm giải quyết và làm sáng tỏ mục đích đặt ra trong khóa luận. 5. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khóa luận được chia làm 3 chương, cụ thể: Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng DNNVV tại Vietcombank thời kỳ khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới. 6 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Kí hiệu Giải thích CBTD Cán bộ tín dụng CIC Credit information center (Trung tâm thông tin tín dụng) CAR Capital Adequacy Ratio (Hệ số an toàn vốn) CDS Credit default swaps (Hợp đồng hoán đổi tín dụng) DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNN Doanh nghiệp Nhà nước FDI Foreign Direct Investment (Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) FED Federal Reserve System (Cục dự trữ Liên bang Mỹ) LSCB Lãi suất cơ bản LSHĐ Lãi suất huy động LSCV Lãi suất cho vay MBS Mortgage-backed securities (chứng khoán được đảm bảo bằng các khoản vay thế chấp) NHNN Ngân hàng Nhà nước NHTM Ngân hàng thương mại NHTW Ngân hàng Trung ương PR Public Relations (Quan hệ cộng đồng) TCTD Tổ chức tín dụng TRS Total return swap ( Hợp đồng hoán đổi tổng thu nhập) TMCP Thương mại Cổ phần 7 DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ Hình Tên hình Trang Hình 1-1 Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay 7 Hình 1-2 Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng 11 Hình 1-3 Phân loại rủi ro tín dụng 16 Hình 3-4 Quy trình của một Hợp đồng hoán đổi tổng thu nhập (TRS) 88 Bảng Tên bảng Bảng 2-1 Một số chỉ tiêu chủ yếu của Vietcombank từ năm 2003 – 2008 34 Bảng 2-2 Chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh tế năm 2008 của một số quốc gia 38 Bảng 2-3 Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam qua các năm từ 2003-2008 40 Bảng 2-4 Một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động của các ngân hàng thương 45 mại Việt Nam năm 2008 Bảng 2-5 Số liệu dư nợ tín dụng cho các DNNVV giai đoạn 2005 - 2008 52 Bảng 2-6 Nợ quá hạn 56 Bảng 2-7 Tổng hợp phân loại nợ cho các DNNVV của Vietcombank 57 Bảng 2-8 Lãi suất cho vay tại Vietcombank cuối 2008 - đầu 2009 63 Bảng 2-9 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng DNNVV 68 Bảng3-10 Xếp hạng khách hàng Biểu đồ BĐ 2-1 81 Tên biểu đồ Tốc độ tăng trưởng GDP tại một số quốc gia trong các quý năm 39 2008 và cả năm 2008, 2009 BĐ 2-2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2003-2008 41 BĐ 2-3 Diễn biến các lãi suất chủ chốt tại Việt Nam trong năm 2008 42 BĐ 2-4 Biến động tỷ giá USD/VND theo tháng trong năm 2008 43 BĐ 2-5 Dư nợ cho vay đối với các DNNVV tại Vietcombank giai đoạn 53 2005-2008 BĐ 2-6 So sánh nợ quá hạn và nợ xấu trong tín dụng cho DNNVV giai đoạn 2005-2008 8 58 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DNNVV CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG DNNVV CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI I. 1 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Sự ra đời của ngân hàng Ngân hàng ra đời vào khoảng năm 2000 trước công nguyên. Nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy sự hình thành các ngân hàng đầu tiên là việc sử dụng tiền vàng của người nguyên thủy. Khi hoạt động sản xuất trong xã hội nguyên thủy ngày càng phát triển và mọi người bắt đầu có nhiều của cải dư thừa, họ đã biết dùng hàng hóa mình có được để trao đổi với nhau. Tuy nhiên, một khó khăn nảy sinh là khi một người có gà và muốn đổi lấy cừu thì phải tìm được đúng người có cừu và muốn đổi lấy gà. Hoạt động trao đổi diễn ra dễ dàng hơn khi có sự xuất hiện của vàng làm vật ngang giá chung. Khi đó, người ta có thể đổi gà lấy vàng và đem vàng đó đi đổi lấy cừu. Việc dùng vàng trong xã hội nguyên thủy ngày càng phổ biến. Vàng được đúc thành những đồng xu có khối lượng nhất định. Tuy vậy, vận chuyển một khối lượng vàng lớn trên một quãng đường xa, phương tiện giao thông chưa phát triển là một công việc khó khăn và chứa đựng nhiều rủi ro. Các chủ cửa hiệu vàng đã nghĩ ra dịch vụ giúp người chủ sở hữu trông giữ vàng, các vật quý giá và nhận một khoản tiền công. Thay vào đó, họ sẽ cấp cho những người chủ sở hữu vàng một giấy chứng nhận để những người này mang đi giao dịch và có thể lấy vàng ra bất cứ lúc nào họ muốn. Sau một thời gian, người chủ hiệu vàng nhận thấy khách hàng của mình rất ít khi quay lại để rút vàng ra và họ đang ngồi trên một đống vàng nhàn rỗi. Đầu óc kinh doanh của họ lại lóe lên ý tưởng sinh lời mới, đó là mang những món tiền nhàn rỗi đó cho những người thiếu vốn vay lấy lãi. Lượng tiền trong tay họ không phải bao giờ cũng bị đòi trong cùng một thời gian, tức là có độ chênh lệch giữa lượng tiền cần gửi và lượng tiền cần rút của người chủ sở hữu. 9 Những hoạt động này chính là những nghiệp vụ đầu tiên cơ bản nhất của ngân hàng nói chung là huy động vốn và cho vay vốn. Sự kết hợp hai nghiệp vụ cơ bản này đã tạo nên những ngân hàng thương mại đầu tiên. 1.2 Khái niệm ngân hàng, ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại Ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế, vậy mà vẫn có nhiều sự nhầm lẫn trong việc định nghĩa về ngân hàng. Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Theo luật pháp của Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng. Trong Luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam 1997 (bổ sung, sửa đổi năm 2004), khái niệm ngân hàng cũng được giải thích khá rõ, theo đó “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng, bao gồm hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan” [6]. Về cơ bản, nội dung của khái niệm ngân hàng quy định trong luật pháp của Mỹ và trong Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam giống nhau ở điểm ngân hàng là nơi nhận tiền gửi, và sau đó sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cũng như cung cấp các dịch vụ thanh toán. Tuy nhiên, trong luật pháp của Mỹ có quy định rõ cho vay thương mại cũng là một hoạt động của ngân hàng, trong khi đó ở Việt Nam đối tượng kinh doanh của ngân hàng thường được nói đến là tiền tệ. Trong hệ thống ngân hàng gồm có ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại với các chức năng và nhiệm vụ khác nhau. “Ngân hàng trung ương là cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và làm các dịch vụ tiền tệ cho chính phủ” [7]; “Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ với nội dung cơ bản là nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi đó để cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. 10 Ngân hàng trung ương giữ vai trò quản lý các ngân hàng thương mại thể hiện qua một số cách. Một, ngân hàng trung ương là trung tâm thanh toán, chuyển nhượng, bù trừ của các ngân hàng thương mại. Vì các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính trong nước đều phải mở tài khoản và kí quỹ tại ngân hàng trung ương nên hoàn toàn thực hiện được vai trò điều tiết thanh toán giữa các ngân hàng giống như đối với những thân chủ có quan hệ mua bán với nhau và cùng có một tài khoản ở một ngân hàng. Hai, ngân hàng trung ương quản lý các khoản dự trữ bắt buộc của hệ thống ngân hàng thương mại. Dự trữ bắt buộc là tiền mặt và tỉ lệ dự trữ bắt buộc tối thiểu là tỉ lệ % tiền mặt trên tổng số tiền mặt do nhân dân gửi vào mà các ngân hàng thương mại phải lưu lại trong kho tiền mặt của ngân hàng mình hay kí gửi tại ngân hàng trung ương, không được cho vay hết. Bên cạnh đó, ngân hàng trung ương còn thực hiện vai trò “cứu cánh cuối cùng” khi các ngân hàng thương mại rơi vào tình trạng bị rút tiền ồ ạt và không thể huy động vốn vay từ nguồn nào khác.1 1.3 Các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại Ngân hàng là tổ chức chuyên nghiệp trong việc tạo lập và cung cấp các dịch vụ quản lý tài chính cho các cá thể, hộ gia đình và các doanh nghiệp, đồng thời còn thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế (xem hình 1-1). Hình 1 - 1: Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay 1 Lê Vinh Danh (1996), Chính sách tiền tệ và sự điều tiết vĩ mô của NHTW, NXB Chính Trị Quốc Gia, [32- 66]; GS.TS Lê Văn Tư (2004), Ngân hàng thương mại, NXB Tài Chính. 11 Nguồn: Peter S.Rose (2001), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài Chính. Thực sự ngân hàng đã trở thành “bách hóa tài chính” ở kỷ nguyên hiện đại. Việc hợp nhất các dịch vụ tài chính như ngân hàng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán… dưới một mái nhà chính là xu hướng mà người ta thường gọi là Universal Banking ở Mỹ, Canada và Anh; là Allginanz ở Đức; và là Bancassurance ở Pháp [12]. 2 Hoạt động tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thƣơng mại 2.1 Khái niệm về Doanh nghiệp nhỏ và vừa Mỗi quốc gia có quy định khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế - chính trị của các quốc gia đó. Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đã quy định về việc xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta theo hai chỉ tiêu là vốn và lao động: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên. Nghị định cũng nêu cụ thể các đối tượng là doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm: - Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Doanh nghiệp tư nhân); - Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước; - Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã; - Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về Đăng ký kinh doanh. Cơ sở xác định vốn và lao động: - Lao động trung bình hàng năm là số lao động bình quân mà doanh nghiệp đã đăng kí với cơ quan quản lí lao động và có tham gia đóng bảo hiểm xã hội (không bao gồm số lao động doanh nghiệp kí hợp đồng thời vụ, hợp đồng công việc). 12 - Vốn đăng kí: đối với DNNN là vốn điều lệ được nhà nước cấp, đối với các doanh nghiệp còn lại là vốn ghi trên đăng kí kinh doanh, giấy phép đầu tư. 2.2 Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường Các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một thành phần kinh tế năng động có vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Trong điều kiện nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay, khối doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm ưu thế trên nhiều phương diện.  DNNVV chiếm tỷ lệ cao về số lượng doanh nghiệp, về thu hút lao động và về đóng góp thu nhập quốc dân cho đất nước Do có nhiều lợi thế như: chỉ cần một số vốn nhỏ cũng có thể thành lập được công ty; có thể mở văn phòng, xưởng sản xuất tại gia đình với chi phí quản lý thấp, tính năng động và tính linh hoạt cao; có khả năng thích ứng với nhu cầu thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng… nên số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong những năm qua phát triển khá nhanh. Theo con số thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 6/2008 nước ta có 349,305 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 93.96% trên tổng số doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hàng năm đóng góp khoảng 40% GDP của cả nước, thu hút khoảng 50.13% tổng số lao động trong doanh nghiệp, vốn chiếm 28.92%, doanh thu chiếm 22.07%, lợi nhuận chiếm 11.78% và nộp ngân sách chiếm 17.46%. Kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu là nửa cơ giới, lao động sống chiếm tỷ lệ khá cao. Mặt khác phần lớn các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến nông, lâm, hải sản, xây dựng và giao thông vận tải... nên có khả năng thu hút nhiều lao động, tạo nhiều việc làm cho xã hội và tăng thu nhập bảo đảm đời sống cho người lao động. Trong khi đó các doanh nghiệp lớn với kỹ thuật sản xuất hiện đại, công nghệ tiên tiến, nhất là đối với các xí nghiệp tự động hoá sản xuất và sử dụng công nghệ người máy đã làm cho số người thất nghiệp ngày càng tăng, phát sinh nhiều tiêu cực xã hội.  DNNVV đáp ứng tích cực nhu cầu tiêu dùng xã hội ngày càng phong phú, đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được 13 Ngày nay, trong thực tế tiêu dùng xã hội có nhiều mặt hàng mà người tiêu dùng yêu cầu về chất lượng, chủng loại mẫu mã, kiểu cách không ngừng thay đổi. Trong trường hợp này các doanh nghiệp lớn với dây truyền sản xuất chuyên môn hóa cao không thể đáp ứng được; trái lại các doanh nghiệp nhỏ và vừa do quy mô sản xuất nhỏ, có khả năng điều chỉnh hoạt động linh hoạt nên có khả năng đáp ứng những nhu cầu nói trên của người tiêu dùng một cách nhanh chóng.  DNNVV có thế mạnh trong lĩnh vực lưu thông phân phối sản phẩm Trong quá trình tái sản xuất xã hội, hàng hoá từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng phải thông qua mạng lưới phân phối trung gian. Công việc lưu thông phân phối hầu hết là do các đại lý, cửa hàng thương nghiệp dịch vụ bán buôn và bán lẻ đảm nhận với những ưu điểm như: phân tán rộng, vốn đầu tư nhỏ và tận dụng cơ sở hạ tầng của gia đình sẵn có nên chi phí lưu thông thấp.  DNNVV có vai trò quan trọng trong sản xuất, chế biến hàng hóa xuất khẩu Hiện nay trong tổng kim ngạch xuất khẩu ở nước ta, các mặt hàng truyền thống do các doanh nghiệp nhỏ và vừa, kể cả thành phần kinh tế hộ gia đình sản xuất chế biến chiếm tỷ trọng đáng kể. Đó là những mặt hàng nông sản, thực phẩm, hải sản, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như: gốm sứ, mây tre, sơn mài, hàng thêu dệt, hàng may mặc...  DNNVV có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện có văn phòng làm việc, nhà xưởng, kho tàng ở khắp mọi nơi trên lãnh thổ của đất nước, kể cả những nơi cơ sở hạ tầng chưa phát triển như ở vùng núi cao, hải đảo, ở vùng nông thôn rộng lớn nhằm khai thác tiềm năng và thế mạnh của từng vùng. 2.3 Khái niệm tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa trong các NHTM Tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa được hiểu đơn giản là hoạt động tín dụng hay các khoản tín dụng mà các ngân hàng thương mại cấp cho khách hàng là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Như vậy, tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa là một bộ phận trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, được phân chia dựa trên tiêu chí là đối tượng khách hàng. 14 Khái niệm chung về tín dụng ngân hàng là: “Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán” [14]. Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có một số đặc trưng sau: Thứ nhất, tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng được chuyển giao theo hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản, động sản). Thứ hai, xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. Thứ ba, sự hoàn trả trong quan hệ tín dụng là bắt buộc và không kèm theo bất cứ một điều kiện nào, đó là sự hoàn trả vô điều kiện. Thứ tư, giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Để thực hiện được nguyên tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỉ lệ lạm phát, hay nói cách khác phải xác định lãi suất thực dương (Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát). Hình 1 - 2: Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng 2.4 Quy trình tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cấp tín dụng, trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng. Đây là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn có tính chất liên hoàn, theo một trật tự nhất định, đồng thời có quan hệ chặt chẽ và gắn bó với nhau. Quy trình tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa là quy trình tín dụng được thiết kế riêng nhằm áp dụng cho việc cấp 15 tín dụng đối với khách hàng là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nói chung, các quy trình tín dụng đều có năm bước cơ bản giống nhau, đó là: 1. Hướng dẫn và thiết lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng 2. Phân tích tín dụng 3. Quyết định tín dụng 4. Giải ngân 5. Giám sát tín dụng, thu nợ và thanh lý tín dụng. Quy trình tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò to lớn trong việc hạn chế và kiểm soát rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Một quy trình tín dụng hợp lý sẽ hướng dẫn cho các nhân viên tín dụng và các bộ phận có liên quan thực hiện việc cho vay nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. Một số vai trò thường thấy của quy trình tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với hoạt động quản trị của ngân hàng là: Quy trình tín dụng phân định rõ trách nhiệm của từng cá nhân, phòng ban trong hoạt động cho vay, do đó mỗi nhân viên đều biết được trách nhiệm và quyền hạn của mình, từ đó có thái độ đúng đắn trong công việc. Bên cạnh đó, quy trình tín dụng giúp định hướng cho việc xây dựng mô hình tổ chức thích hợp tại ngân hàng và công tác quản trị nhân sự tại ngân hàng sẽ được điều chỉnh kịp thời cho hợp lý và hiệu quả nhất. Hơn nữa, một quy trình tín dụng được quy chuẩn hóa, được thiết kế rõ ràng và thích ứng với từng nhóm khách hàng sẽ giúp cho việc giao dịch với khách được thuận tiện, nhanh chóng, tránh những thiếu sót, nhầm lẫn, mang lại lợi ích cho cả đôi bên. Và cuối cùng, quy trình tín dụng còn là cơ sở để kiểm soát tiến trình cấp tín dụng và có những điều chỉnh kịp thời, phù hợp với thực tiễn. Những vai trò nêu trên đã cho thấy việc thiết lập một quy trình tín dụng cẩn trọng, khoa học và hợp lý trong hoạt động cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng là vô cùng cần thiết. Các ngân hàng đều cần đầu tư kĩ lưỡng cho việc thiết lập quy trình tín dụng riêng của ngân hàng mình. 3 Phân loại tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa Tương tự như việc phân loại tín dụng ngân hàng nói chung, có nhiều căn cứ để phân loại tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tùy theo mục đích phân loại.  Căn cứ vào thời hạn tín dụng - Tín dụng ngắn hạn. 16 - Tín dụng trung hạn. - Tín dụng dài hạn.  Căn cứ vào mục đích cấp tín dụng - Tín dụng xuất khẩu. - Tín dụng nhập khẩu. Ngoài ra, tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa còn được phân loại theo phương pháp hoàn trả và theo khả năng bao tín dụng. 4 Vai trò của tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Đối với các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tuy là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng lại chiếm giữ một vai trò quan trọng cho sự phát triển của ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu. Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm xuống và thu nhập từ dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm từ 1/2 đến 2/3 thu nhập ngân hàng. Bởi vậy, các ngân hàng luôn muốn tìm mọi biện pháp nhằm tăng nguồn thu từ tín dụng đồng thời đảm bảo giảm thiểu hóa rủi ro. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một lực lượng đông đảo trong nền kinh tế, là một thành phần kinh tế năng động và đang phát triển với tốc độ rất nhanh chóng. Do vậy, thị trường tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa là một thị trường tín dụng giàu tiềm năng. Cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ giúp cho các ngân hàng tăng doanh thu từ tín dụng mà đồng thời sự đa dạng hóa về khách hàng sẽ giúp ngân hàng phân tán và hạn chế rủi ro, rất phù hợp với mục tiêu của ngân hàng. Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, tín dụng ngân hàng cũng có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa thể hiện ở bốn điểm sau: Thứ nhất, tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng nhu cầu vốn của các doanh nghiệp để duy trì liên tục quá trình sản xuất đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế. Tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, nó kích thích tiết kiệm và cũng là phương tiện cho đầu tư phát triển, thúc đẩy tiến bộ khoa học kĩ thuật, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội. Thứ hai, tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất, thúc đẩy sự chuyên môn hóa và tăng cường quy mô hoạt động của các doanh nghiệp. Hoạt động 17 của các ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng, trên cơ sở đó cho vay các đơn vị tạm thời thiếu vốn. Bởi vậy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có điều kiện vay được nguồn vốn lớn từ ngân hàng để đầu tư chuyên môn hóa sản xuất. Thứ ba, tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế mũi nhọn. Với các ngành kinh tế mũi nhọn được ưu tiên phát triển, Nhà nước thu hút tín dụng để tài trợ phát triển các ngành đó, từ đó tạo điều kiện phát triển các ngành khác. Thứ tư, tín dụng ngân hàng góp phần tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đặc trưng cơ bản của vốn tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức, nhờ vậy mà hoạt động tín dụng đã kích thích các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn, tạo điều kiện nâng cao doanh lợi của doanh nghiệp. RỦI RO TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA II. 1 Khái niệm rủi ro và rủi ro tín dụng ngân hàng Rủi ro (trong hoạt động ngân hàng) là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Trong các hoạt động ngân hàng, hoạt động tín dụng đem lại nhiều lợi nhuận nhất nhưng cũng là hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Các thống kê và nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng. Trong tài liệu “Measuring local government credit risk and improving creditworthiness”, George E. Peterson định nghĩa rủi ro tín dụng là khi người đi vay không thanh toán đủ và đúng hạn các khoản nợ. Mức độ rủi ro phụ thuộc vào quy mô khoản nợ và thời gian chậm trả nợ. Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) – tổ chức này hàng năm đều bỏ phiếu xếp hạng để phân hạng rủi ro tín dụng của các nước – thì rủi ro tín dụng là rủi ro mà trong đó một bên của hợp đồng tài chính không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện các điều khoản và bởi vậy bên kia phải chịu thiệt hại. Các trung gian tài chính là nơi khách hàng gửi tiền nên khách hàng đánh giá về năng lực tài chính của các trung gian này thông qua kết quả giám sát rủi ro tín dụng của họ được thể hiện trên các thông số tài chính, ví dụ như lấy các khoản cho vay không hiệu quả chia cho tổng các khoản cho vay. Còn tại 18 khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Các định nghĩa khá đa dạng nhưng tựu trung lại chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản của rủi ro tín dụng như sau: Rủi ro tín dụng là khi người vay sai hẹn (default) trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn và/ hoặc lãi. Sự sai hẹn có thể là trễ hạn (delayed payment) hoặc không thanh toán (nonpayment); Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn, trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản; Đối với các nước đang phát triển, các ngân hàng thiếu đa dạng trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì vậy tín dụng được coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu, thậm chí gần như là duy nhất, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ. Vì vậy rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng; Mặt khác, rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định (lợi nhuận kỳ vọng càng cao thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn); Rủi ro là yếu tố khách quan nên người ta không thể loại trừ hoàn toàn được mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác hại do chúng gây ra. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất. Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất. Một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ rất cao nếu danh mục đầu tư tín dụng tập trung vào một nhóm khách hàng, ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng được chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo chống đỡ và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra. 19 2 Phân loại rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu. Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau đây: Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, lựa chọn phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng); rủi ro bảo đảm (rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo); rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề). Rủi ro danh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội tại (xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế) và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao). Hình 1 - 3: Phân loại rủi ro tín dụng Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì rủi ro tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất 20
- Xem thêm -