Tài liệu Khoá luận tốt nghiệp không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết hồn bướm mơ tiên

  • Số trang: 51 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 60 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39801 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGŨ'VĂN ĐOÀN THỊ HƯƠNG KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT HÒN BƯỚM M ơ TIÊN KHÓA LUẬN TỔT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • • • Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Người hướng dẫn khoa học: TS. THÀNH ĐỨC BẢO THẤNG HÀ NỘI-2015 LỜ I CẢM ƠN Tác giả khóa luận xin cảm ơn TS. Thành Đức Bảo Thắng, người đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thức hiện đề tài. Tác giả cũng cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ Văn đặc biệt các thầy cô trong tổ văn học Việt Nam đã động viên, tạo điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận. Do điều kiện và khả năng có hạn nên nội dung của đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô để rút kinh nghiệm và bổ sung kiến thức cho bản thân. Em xin chân thành cảm ơn ỉ Hà Nội ngày 15 thảng 5 năm 2015 Tác giả khóa luận Đoàn Thị Hương LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi nghiên cứu trong khóa luận là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn TS. Thành Đức Bảo Thắng. Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu nào, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Hà Nội ngày 15 thảng 5 năm 2015 Tác giả khóa luận Đoàn Thị Hương MỤC LỤC MỞ ĐẦ U.................................................................................................................1 1. Lý do chọn đề tài................................................................................................ 1 2. Lịch sử vấn đ ề .................................................................................................... 2 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................3 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cún ........................................................................ 3 5. Phương pháp nghiên cứu................................................................................... 4 6. Những đóng góp của khóa luận........................................................................ 4 7. Bố cục khóa luận................................................................................................4 NỘI DUNG.............................................................................................................5 Chương 1: NHỮNG VÁN ĐÈ CHUNG............................................................5 1.1. Khái niệm và vai trò của không gian nghệ thuật.......................................... 5 1.1.1. Khái niệm ..................................................................................................... 5 1.1.2. Vai trò của không gian nghệ thuật..............................................................6 1.2. Khái Hưng và tác phẩm Hồn bướm mơ tiên..............................................7 1.2.1. Khải Hưng.....................................................................................................7 1.2.2. Tác phấm Hổn bướm mơ tiên.................................................................... 12 Chương 2. BIỂU HIỆN CỦA KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT 14 TRONG HỎN BƯỚM MO TIÊN...................................................................................... 14 2.1. Không gian thiên nhiên.................................................................................14 2.1.1. Không gian thiên nhiên quen thuộc yên bình...........................................14 2.7.2. Không gian thiền nhiên thơ mộng gợi tình.............................................. 17 2.2. Không gian tôn giáo.................................................................................... 33 2.2.7. Không gian tôn giáo linh thiêng huyền bí khơi gợi cảm xúc, cảm giác 33 2.2.2. Không gian tôn giáo cứu vớt tâm hồn con người....................................41 KÉT LUẬN..........................................................................................................46 TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................ 48 MỞ ĐÀU 1. Lý do chọn đề tài Khái Hưng là tiểu thuyết gia tài hoa, một trong những cây bút chủ chốt và tiêu biểu của nhóm Tự lực vãn đoàn. Tiểu thuyết của ông không chỉ thể hiện sâu sắc ý nghĩa về mặt văn học mà còn mang ý nghĩa về mặt xã hội. Với sự nghiệp sáng tác của mình Khái Hưng đã góp phần đang kể vào quá trình hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1932-1945. Vì vậy việc tìm hiểu, nghiên cún tiểu thuyết của Khái Hưng mang lại nhiều ý nghĩa. Hồn bướm mơ tiên (1993) là tác phấm đầu tay của Tự lực văn đoàn và cũng là tiểu thuyết mở đầu cho sự nghiệp sáng tác của Khái Hưng. Truyện viết về chuyện tình lãng mạn giữa một chàng sinh viên và một chú tiếu gái giả trai. Họ gặp nhau ở chùa Long Giáng và đem lòng yêu nhau nhưng tình yêu ấy không tiến đến hôn nhân mà họ yêu nhau trong tâm hồn trong lý tưởng giữa không gian thiên nhiên thơ mộng dưới bóng từ bi của Phật tổ. Đọc tác phẩm độc giả thấy được một tình yêu đầy trong sáng với những diễn biến tâm lý nhẹ nhàng, những xung đột tình cảm không quá phức tạp của các nhân vật. Hồn bướm mơ tiên đã gợi lên gợi lên những mâu thuẫn giữa tình yêu và tôn giáo và thông qua xung đột đó khẳng định quyền tự do, quyền sống của con người. Tự lực văn đoàn là một tổ chức văn học có chủ trương hiện đại hóa văn học. Họ muốn phá bỏ rào cản lễ giáo phong kiến giải phóng cho con người giúp mỗi cá nhân vươn lên khắng định cái tôi chính mình... Tự lực văn đoàn đã đưa ra những mục đích tôn chỉ cụ thể. Khi sáng tác, các thành viên phải dựa trên những nguyên tắc chung của nhóm và Hồn bưóm mơ tiên của Khái Hưng cũng không ngoại lệ. Nghiên cứu tiểu thuyết này sẽ là cơ sơ để nghiên cứu những tác phẩm, tác giả khác trong nhóm Tự lực văn đoàn. 1 Là sinh viên năm cuối lựa chọn nghiên cứu đề tài này, điều đó sẽ giúp tôi bước đầu làm khoa học và đồng thời có thêm những hiểu biết về Khái Hung cũng như nhóm Tự lực văn đoàn để phục vụ cho việc nghiên cún, học tập sau này. 2. Lịch sử vấn đề Hơn 80 năm qua giới nghiên cún đã tốn không ít giấy mực để bàn về Khái Hưng đặc biệt là về tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên. Tuy nhiên các nhà khoa học phần nhiều là khai thác trên phương diện tác giả, nghiên cún cụ thể về tác phẩm không nhiều. Có chủ yếu cũng chỉ bàn về nội dung tác phẩm và xoay xung quanh tìm hiếu diễn biến tâm lý nhân vật. Còn không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết vẫn chỉ đề cập khái quát và chưa đi phân tích một cách cụ thể. Năm 1933, khi viết lời tựa Hồn bướm mơ tiên, Nhất Linh đã nhận xét: “Ông Khái Hung khéo đem một vài nhận xét tinh vi, một vài việc xảy ra thích đáng để phô diễn tâm lý những nhân vật trong truyện” [ 9;11]. Nhà văn Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại cũng bàn về nội dung của tác phẩm: “Cái tình yêu của Ngọc và Lan trong Hồn bướm mơ tiên là thứ ái tình thanh cao quá, thứ ái tình lý tưởng đặc biệt, ít khi có thể thấy ở một đôi trai gái yêu nhau” [13; 756 ]. Trong Từ điến thuật ngữ văn học chủ yếu nói tới khía cạnh nội dung của tiểu thuyết: “Một chuyện tình éo le đầy ảo mộng dưới mái chùa; một tình yêu lý tưởng hóa, không cần sum họp mà “Yêu nhau trong linh hồn trong lý tưởng” [ 10;346]. Vu Gia (1933), Khái Hưng nhà tiểu thuyết, NXB Văn hóa Hà Nội. Trong công trình này ông giới thiệu các tiểu thuyết của Khái Hung trong đó có nói đến Hồn bướm mơ tiên. Tác giả đã có sự phân tích đánh giá nội dung và nghệ thuật tiểu thuyết Khái Hưng nhưng mới chỉ đi sâu vào nhân vật, ngôn 2 ngữ, kết cấu của tiểu thuyết mà chưa đi sâu nghiên cứu các vấn đề không gian nghệ thuật trong tiểu thyết. Ngô Văn Thư (1998), bàn về tiểu thuyết Khái Hưng , NXB thế giới. Trong công trình nghiên cứu của mình ông có cái nhìn toàn diện về tiểu thuyết của Khái Hưng, trong đó ông có nhận xét về nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật của Khái Hưng trong đó có Hồn bướm mơ tiên “Ông miêu tả tâm lý nhân vật qua việc thấu hiểu những sự việc đã xảy ra, nhũng suy nghĩ, cử chỉ, động tác, những đối thoại ở những thời điểm, hoàn cảnh khác nhau” [18; 86] Như vậy từ khi tiểu thuyết hồn bướm mơ tiên ra đời cho tới nay đã có nhiều nhà nghiên cún đánh giá về nghệ thuật của Hồn bướm mơ tiên tuy nhiên chưa ai đi vào nghiên cứu cặn kẽ không gian nghệ thuật trong truyện. Từ nhận định trên chúng tôi xây dựng nghiên CÚ11 đề tài: “Không gian nghệ thuật trong Hồn bướm mơ tiên 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cún không gian Hồn bướm mơ tiên trong tiểu thuyết từ đó để thấy được nội dung ý nghĩa cái hay của tác phẩm, tài năng của tác giả và những đóng góp quan trọng đối với quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng Đe tài chủ yếu đi sâu khai thác “Không gian nghệ thuật trong Hồn bướm mơ tiên 4.2. Phạm vi Đe giải quyết những vấn đề chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu là tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng. Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sẽ so sánh đối chiếu với tiếu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh và một vài tiểu thuyết văn học hiện thực phê phán. 3 5. Phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp lịch sử - xã hội. 5.2. Phương pháp phân tích. 5.3. Phương pháp so sánh - đối chiếu. 5.4. Phương pháp tổng họp. 6. Những đóng góp của khóa luận Từ việc tìm hiểu về không gian nghệ thuật từ đó là tiền đề quan trọng để tìm hiểu sâu hơn nội dung của tác phẩm. Hiểu được những tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm, đồng thời giúp người đọc hiểu các giá trị của tác phẩm. 7. Bố cục khóa luận Chương 1: Những vấn đề chung Chương 2: Biểu hiện của không gian nghệ thuật trong Hồn bướm mơ tiên 4 NỘI DUNG C h ư ơng 1: N H Ữ N G V Ấ N ĐÈ C H U N G 1.1. Khái niệm và vai trò của không gian nghệ thuật. 1.1.1. Khái niệm Có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về không gian nghệ thuật.Theo Từ điển thuật ngữ văn học : “không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Sự miêu tả, trần thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong trường nhất định của nó:cái này bên cái kia, lien tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần, rộng, dài tạo thành viễn cảnh nghệ thuật. Không gian nghệ thuật găn với cảm thụ về không gian mang tính chủ quan” [11; 160]. Trong giáo trình Lí luận văn học, nhà ngiên cún Hà Minh Đức cho rằng: Không gian nghệ thuật “trong tiểu thuyết hình tượng không_thời gian tồn tại với sự vận động của cốt truyện và đường đời nhân vật. Có không gian rộng và không gian hẹp, không gian vật thể, không gian tâm tưởng, không gian thấp và không gian tầm cao. Từ một vùng quê yên tĩnh đến một khu đô thị ồn ào, từ một cánh rừng mưa tuôn thác xối và bom đạn ngút trời đến một “ dòng sông phang lặng” ...Tất cả hiện lên trong tác phẩm như một môi trường bao bọc xung quanh đời sống nhân vật, nơi lưu giữ quãng đời, ký ức, hoài niệm,khát vọng, đam mê, lầm lỗi... của nhân vật”[6;252]. Cuốn Dan luận thi pháp học,Trần Đình Sử nhận định: “Không gian nghệ thuật là một phạm trù quan trọng của thi pháp học nó là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật”[15;107] hay “không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống”. [15; 108]. 5 Do có nhiều quan niệm khác nhau về không gian nghệ thuật nhung chúng ta đều hiểu không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian hiện thực. Nói cách khác không gian nghệ thuật đã được tái hiện qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ giúp nhân vật bộc lộ những tâm tư, tình cảm, hành động một cách cụ thể nhất, đồng thời qua đó tác giả thể những tư tưởng, quan niệm nhân sinh của mình về cuộc sống. 1.1.2. Vai trò của không gian nghệ thuật. Một tác phẩm muốn để lại ấn tượng tốt cho bạn đọc không chỉ ở nội dung hay mà yếu tố hình thức như nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ nghệ thuật, thời gian... đóng một vai trò rất quan trọng và đối với một tiểu thuyết yếu tố đó càng có sức nặng gấp bội trong việc làm nên thành công cho đứa con tinh thần của mỗi tác giả. Một trong yếu tố thi pháp góp phần không nhỏ trong việc tạo nên sự hấp dẫn, lôi cuốn cho một cuốn tiểu thuyết phải kể đến yếu tố không gian nghệ thuật. Không có hình thức nghệ thuật nào không có thời gian, không có nhân vật nào không có một nền cảnh nào đó, nếu như mọi vật trong thế giới đều tồn tại trong không gian ba chiều: cao, rộng, xa, thì hình tượng nghệ thuật nào cũng phải có không gian nghệt thuật. Bản thân người kể chuyện nhìn sự vật trong khoảng cánh, góc nhìn nhất định mỗi nhân vật được đặt trong những không gian phù hợp và thông qua những không gian đó bạn đọc có thể thấy được tất cả mọi hành động, suy nghĩ tâm lý của nhân vật đang diễn ra như thế nào. Mỗi không gian cho phép bộc lộ một phương diện của con người, do vậy tác giả muốn thể hiện quan điểm của mình đều phải tạo ra một không gian thích hợp. Trong Lý luận văn học - tập 2 Trần Đình Sử đã nhận xét “phân tích không gian nghệ thuật là cơ sở để đọc hiểu thế giới tác phẩm và nhân vật”[16;85] hay ta hiểu đó là một trong chìa khóa để mở cánh cửa đi sâu 6 khám phá ý nghĩa tận cùng của tác phẩm mà tác giả muốn gửi tới bạn đọc. Không gian nghệ thuật là một mặt quan trọng để nhà văn thể hiện tư tưởng và quan điếm nghệ thuật về cuộc đời và con người. Trong Hồn bướm mơ tiên không gian là một yếu tố vô cùng quan trọng để xây dựng tác phẩm thành công. Nổi bật trong đó là không gian thiên nhiên của vùng núi trung du bắc bộ với sự yên bình, thanh tĩnh nhẹ nhàng và không gian tôn giáo đầy huyền bí, linh thiêng. Nơi mà con người ta có thể rũ bỏ lòng trần tục để vươn tới miền cực lạc. Đặt nhân vật trong không gian ấy, Khái Hung đã khai thác thành công nhũng suy nghĩ, tâm trạng, hành động, sự mâu thuẫn xung đột rất riêng tư trong đời sống tâm hồn con người. Điều đó tạo nên sự sinh động sức hấp dẫn lôi cuốn cho tác phẩm. 1.2. Khái Hưng và tác phấm Hồn bướm mơ tiên /.2.7. Khái Hưng. Những năm 1930-1945 của thế kỉ XX, trên văn đàn văn học Việt Nam xuất hiện những ngôi sao sáng với tài năng văn xuôi rực rỡ: nhóm Tự lực vãn đoàn, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao... và trong đó phải kể đến Khái Hưng cây bút chủ lực của nhóm Tự lực văn đoàn. Ông được coi là “linh hồn”; “trụ đồng”; “trụ cột” của nhóm. Khái Hung tên thật là Trần Khánh Giư (1896-1974). Xuất thân trong một gia đình quan lại ở làng c ổ Am (một làng có tiếng trong thời chế độ khoa cử Hán Học), huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương (nay thuộc Hải Phòng). Cha ông giữ chức Tuần phủ, cụ Tuần có tới 5 vợ, nên gia đình rất đông con, Khái Hưng là con của bà vợ cả. Cha vợ ông là Lê Văn Đính cũng giữ chức Tổng đốc Bắc Ninh và em ruột ông là nhà văn Trần Tiêu. Thân phụ và nhạc phụ đều là đại quan đều làm công chức cho Pháp nhung có gốc văn hóa cũ, không phải bọn tay sai bán nước cầu vinh xuất thân từ thầu khoán, bếp bồi, thong ngôn mới phất, cho nên tuy làm việc cho Pháp 7 họ không thật sự được tin dùng và có phần tư tưởng ghét Tây. Khái Hưng được sống trong môi trường trưởng giả nên ông có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với tư tưởng, ý thức nếp sống và văn hóa phương Tây đồng thời ông cũng trải nghiệm cuộc sống đại gia đình biết bao hủ tục, luật lệ phiền toái nhưng bên cạnh đó ông không thể phủ nhận sạch trơn những dấu ấn truyền thống văn hóa cổ truyền của dân tộc còn phảng phất trong cả hai đại gia đình Trần-Lê. Khái Hung là bút danh chính được ghép từ chính chữ cái trong tên thật của ông, ngoài ra ông còn có các bút danh khác như : Bán than, Nhát dao cạo, Chàng lẩn thẩn, Tò mò và Nhị Linh. Thưở nhỏ, Khái Hung theo học Nho học tới năm 12 tuổi, rồi chuyển sang học trường College Paul Bert (sau đổi thành trường Albert Sarraut). Sau khi thi đậu tú tài Pháp phần thứ nhất năm 1927, Khái Hưng không tiếp tục học để ra làm quan như đa số những người cùng thời mà ông bỏ đi buôn làm đại lý hãng dầu Standard Oil tại Ninh Giang. Vì tính tình phóng khoáng bán nhiều dầu nhưng không thu được nợ ông thất bại sau 3 năm kinh doanh. Ông bỏ Ninh Giang lên Hà Nội làm thầy giáo tại trường trung học tư thục Thăng Long. Trong thời gian dạy học này ông làm chủ bút và viết một số bài nghị luận cho báo Phong hoá, cơ quan truyền bá do ông Phạm Hữu Ninh chủ trương. Đồng thời, ông cũng viết một số bài nghị luận khác cho tờ “văn học tạp chí” của anh em ông Dương Bá Trạch và Dương Tự Quán. Cũng trong thời gian này, một việc xảy ra tại chốn quê nhà đã có tác động mạnh vào tâm hồn Khái Hưng: năm 1930, nhân vụ khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học, lãnh tụ Việt Nam Quốc dân đảng. Làng c ổ Am đã nổi lên biểu tình giết chết viên tri huyện Vĩnh Bảo là Hoàng Gia Mô. Do đó, làng Cổ Am bị thực dân Pháp cho máy bay dội bom tàn phá. Năm 1921, ông lập gia đình, lên Phú Thọ buôn son. Nhạc phụ ông là cụ Lê Văn Đính ban đầu làm tuần phủ Phú Thọ sau làm Tổng Đốc Bắc Ninh và phong cảnh vùng này sau được tả nhiều trong các tác phẩm của ông. 8 Năm 1930, Trần Khánh Giư bắt đầu viết cho tờ báo của Chu Mậu những bài xã thuyết, những chuyện vui hàng tuần và kế chân hai ông Lãnh nhân Phùng Tất Đắc và TchyA Đái Đức Tuấn làm tờ báo Duy Tân cho đến khi nổi tiếng trên báo Phong Hoá. Ngày Nay. Năm 1931, gặp ông Nguyễn Tường Tam ở trường Thanh Long, và từ đây có sự thay đổi đáng kể trong sự nghiệp văn chương của Trần khánh Giư. Hai người nên đôi bạn tâm giao khi thấy mình có cùng chung lập trường về văn chương, xã hội. Mối giao tình càng trở nên khăng khít hơn sau này khi thấy vợ chồng Khái Hưng hiếm muộn, ông bà Nhất Linh đã cho người con trai thứ về làm con nuôi họ Trần (Trần Khánh Triệu). Năm 1932, sau khi được Phạm Hữu Ninh trao lại cho tờ báo Phong Hoá. Khái Hưng cùng Nhất Linh đem toàn lực ra xây dựng tờ báo này. Năm 1933, tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên của ông được in thành sách và ông được đông đảo độc giả hoanh nghênh nhiệt liệt. Từ đây. Ông viết rất đều tay, viết khá nhiều thể loại. Khái Hung tiếp tục làm báo, viết văn đến đầu nhũng năm 40. Do những biến chuyển của thời cuộc, một số người trụ cột trong nhóm Tự lực văn đoàn cơ bản nghiêng về hoạt động chính trị. Người lãnh đạo cũng không ai ngoài Nguyễn Tường Tam. Nguyễn Tường Tam lập ra đảng Đại Việt Dân Chính. Khái Hưng cũng đã tham gia vào phong trào này. Năm 1941, Khái Hưng cùng với Hoàng Đạo bị Pháp bắt tại Hà Nội, sau bị lên giam tại lao xá Vụ Bản thuộc châu Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Tới năm 1943. Khái Hưng bị giải về quản thúc tại Hà Nội. Ngày 5 tháng 5 năm 1945, Khái Hưng cộng tác với Nguyễn Tường Bách cho ra tờ báo Ngày Nay Kỉ nguyên mới.Ông và Hoàng Đạo đóng vai trò trụ cột cho tờ báo này. Sau đó, ông còn viết cho tờ nhật báo Việt Nam của 9 Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội, và tò' tuần báo Chính Nghĩa của Việt Nam Quốc dân Đảng. Sau ngày Nhật lật Pháp ở Việt Nam, các đại diện văn hoá Nhật ở Đông Dương cho ra tờ báo hàng ngày lấy tên Bình Minh. Các ông Komatsu và Omya nhờ Nguyễn Giang (thứ nam cụ Nguyễn Văn Vĩnh), Khái Hưng và Nguyễn Doãn Vượng (Chủ nhiệm tờ Trung- Bắc chủ nhật) đúng ra làm tờ Bình Minh. Nhung, Nguyễn Doãn Vượng không nhận, nên còn hai người. Sau đó, Khái Hưng bỏ. Cuộc chiến tranh Việt- Pháp nổ ra. Khái Hưng bỏ Hà Nội về quê vợ ở Nam Định và mất năm 1947 tại huyện Xuân Trường, Nam Định. Vợ ông mắc bệnh đau tim và mất tại quê nhà năm 1954. Là cây viết sáng tạo dồi dào nhất của Tự lưc văn đoàn. Hoạt động báo chí và sáng tạo văn chương của Khái Hung khá phong phú. Với vai trò nhà báo Khái Hưng xuất hiện khá đều đặn trên báo Phong hóa và Ngày nay, khi viết báo ông xoay xung quanh chủ yếu mấy đề tài: đấu tranh cái cũ, phê bình các báo, thời sự, chính trị... Với hoạt động văn chương ông viết rất nhiều thể loại (truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết, truyện trẻ em ...) Vào nghề không phải là sớm ba mươi sáu tuổi mới có tiểu thuyết đầu tiên được xuất bản (Hồn bướm mơ tiên -1993) nhưng sau đó ông đã thành đạt rất nhanh và ông cho ra đời cuốn tiểu thuyết đời cuốn thứ 2 (Nửa chừng xuân - 1934) cả hai cuốn tiểu thuyết đều gây được tiêng vang lớn trên văn đàn văn học lúc đó mà theo Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại - tập 2 thì: “Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Trống mái đều là những tiểu thuyết về lý tưởng của Khái Hưng” [14;755]. Cả hai cuốn tiêu thuyết này đều được rất nhiều phụ nữ tri thức hoan nghênh. Trong tác phẩm người ta thấy tính tình , cảnh vật đầy thơ mộng, đẹp đẽ và êm ái, rất họp với tâm hồn của phụ nữ, rồi những cử chỉ ngôn ngữ của các nhân vật về phái đẹp 10 bao giờ tác giả cũng rất tinh tế nhưng bên cạnh đó Nửa chừng xuân đồng thòi còn có khuynh hướng nghiêng về phong tục . Là người có tài lại lao động miệt mài nên dù chỉ sáng tác trong vòng mười năm nhưng Khái Hưng đã để lại một sự nghiệp văn học khá phong phú bao gồm 12 cuốn tiểu thuyết như: Hồn bướm mơ tiên (1933), Đời mưa gió cùng Nhất Linh (1933); Nửa chừng xuân (1934); Gánh hàng hoa cùng Nhất Linh (1934); Trống mái, Gia đình (1936)... và tiểu thuyết cuối cùng là Thanh Đức (1942). về truyện ngắn có 8 tập truyện như: Anh phải sống cùng Nhất Linh (1934); Tiếng suối reo (1935); Đợi chờ (1940); Cái ve (1944)... về kịch có 4 tập: Tụy lụy, Đồng bệnh, Nhất tiểu, Khúc Nghê thường. Dù sáng tác ở rất nhiều thể loại nhung thành công nhất đưa tên tuổi ông bay cao,vang xa trên diễn đàn lúc bấy giờ chính là thể loại tiểu thuyết. Được coi là người có biệt tài viết tiểu thuyết bằng tài năng của mình Khái Hưng góp phần làm phong phú cho thể loại tiểu thuyết, theo Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại: nhà văn có các loại tiểu thuyết lãng mạn, phong tục, tâm lý. Theo Thanh Lãng trong Bảng lược đồ vãn học: tiếu thuyết của Khái Hưng có ý hướng, ý hướng thơ, ý hướng đấu tranh, ý hướng lịch sử, ý hướng tâm lý. Có thể nói đến Khái Hưng tiểu thuyết có nhiều hình thức như tiểu thuyết lý tưởng, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết phong tục, tiếu thuyết tâm lý... Như vậy từ khi tham gia Tự lực văn đoàn được sự cổ vũ lại thành công ngay trong cuốn tiểu thuyết đầu tay điều đó đã khắng định tài năng vượt trội của tác giả. Nhờ tài năng của ông mà thể loại tiểu thuyết đã được đưa lên trở thành sáng tác chủ lực của Tự lực văn đoàn lúc bấy giờ và đồng thời góp phần không nhỏ để bạn đọc thấy yêu mến, tin tưởng vào tác phẩm của nhóm. 11 1.2.2. Tác phẩm Hằn bườm mơ tiên Hồn bướm mơ tiên (1933) là tiểu thuyết được sự đón nhận nồng nhiệt của bạn đọc ngay từ những ngày đầu ra mắt công chúng. Sự yêu mến từ phía độc giả đã tạo ra một vị thế riêng cho tác phẩm khi liên tiếp được đăng nhiều kì trên tờ báo Phong Hóa năm 1932. Điều đó tạo ra một uy tín lớn cho báo Phong hóa và nhóm Tự lực văn đoàn, khích lệ các nhà văn của nhóm sáng tác, đồng thời đưa tiểu thuyết của nhóm giành vị trí hàng đầu trên văn đàn văn học trong một thời gian dài. Hồn bướm mơ tiên là câu chuyện kể về tình yêu, một mối tình đẹp đẽ không phải xảy ra chốn phồn hoa đô hội mà trong cảnh chùa tĩnh lặng, dưới bóng từ bi của Phật tổ. Ngọc vốn là sinh viên trường Canh Nông trong dịp nghỉ hè đã lên thăm người bác tu ở chùa Long Giáng tại đây Ngọc đã gặp chú tiểu tên Lan.Thấy Lan là người có học, tính tình hòa nhã lại “nước da trắng mát tiếng nói dịu dàng trong trẻo như tiêng con gái” Ngọc thấy quý mến Lan ngay từ buổi đầu tiên gặp, những ngày ở lại chùa Ngọc và Lan như đôi bạn tri kỉ tâm đầu ý họp, nếu chỉ dừng lại tại đây thì truyện không có gì là đặc sắc nhưng tác giả xây dựng cốt truyện đầy sức hấp dẫn sự truy tìm giữa cái thực và cái hư, Lan là con gái hay con trai? Tại sao người con gái ấy phải cải trang gửi mình nơi cửa Phật? Tiếp xúc lâu Ngọc càng cảm mến Lan, càng nghi ngờ nhiều hơn và điều bí mật mà Ngọc muốn tìm cũng là điều mà độc giả quan tâm. Khái Hưng đã giấu kín bí mật cho đến cuối, Ngọc đã vô tình nhìn thấy Lan dùng vải nịt ngực, khắng định là gái Ngọc đã viết thư cho Lan nhưng trước thái độ hờ hững của nàng ngọc đã đem xé bỏ. Lan nhặt được và ghép lại biết tình cảm Ngọc dành cho mình Lan rất cảm động, biết không thể giấu mãi thân phận được Lan đã thú thật tất cả với Ngọc. Lan thực sự là gái người con gái được học hành tử tế, cha mẹ mất sớm ở với chú bị chú ép gả Lan vào nhà phú quý nhưng từ nhỏ Lan đã ảnh hưởng của mẹ nên tâm lúc nào cũng hướng 12 về đạo Phật. Lan bỏ nhà cải nam trang đến chùa Long Giáng xin tu. Dù biết tình cảm Ngọc dành cho mình và cũng rất yêu Ngọc nhưng Lan quyết chí tu hành, không thể làm gì thuyết phục Lan, Ngọc đành đau khổ chia tay trở về thành phố và tình yêu ấy vẫn tồn tại trong “tâm hồn lý tưởng” mỗi người ở chốn cửa thiền, dưới bóng từ bi của Phật tổ. Trong Hồn bướm mơ tiên nguyên nhân đẩy Lan vào cuộc đời tu hành là nguyên nhân xã hội có ý nghĩa thời sự tình trạng hôn nhân ép gả theo kiểu đẳng cấp xã hội, chịu áp lực đồng tiền còn rất phổ biến trong xã hội nhưng Khái Hưng không quan tâm khai thác khía cạnh này mà ông tập trung miêu tả tình yêu lãng mạn, sự xung đột trong tâm hồn giữa lý tưởng và ái tình của đôi nam nữ thanh niên trong ngôi đền thiêng của tôn giáo. Là cuốn tiếu thuyết đầu tay nhưng Khái Hưng đã chiếm được cảm tình đông đảo của người đọc, đặc biệt là tầng lóp nam thanh nữ tú đương thời, đồng thời đồng thời thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Lê Hữu Mục cho rằng đây là cuốn tiếu thuyết “ mở đầu kỉ nguyên văn học mới” [17]. 13 Chương 2. BIỀU HIỆN CỦA KHỒNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG HÔN BƯỚM M ơ TIÊN 2.1. Không gian thỉên nhiên 2.1.1. Không gian thiên nhiên quen thuộc yên bình Không gian thiên nhiên là sự vật bao quanh con người như trời, đất, núi, sông,... làm khung cảnh rộng lớn, đa dạng. Thiên nhiên một mặt gắn liền với hoạt động của nhân vật mặt khác cũng gắn với tâm trạng người kể chuyện. Trong không gian nghệ thuật dù cùng miêu tả về một hiện tượng nhung mỗi tác phẩm lại có nhũng điểm nhìn riêng, nói cách khác không gian lúc này là mô hình thế giới độc lập có tính chủ quan và mang ý nghĩa tượng trung của tác giả. Nắm bắt được điều đó cùng với một tâm hồn tinh tế nhạy cảm, Khái Hưng đã nhận ra vẻ đẹp lãng mạn, tinh tuý của thiên nhiên vũ trụ. Ồng đã xây dựng cho nhân vật không gian thích hợp trong thế giới thiên nhiên tạo vật. Vì lẽ đó không gian Khái Hưng lựa chọn trong Hồn bướm mơ tiên không phải là không gian phồn hoa đô thị, không có sự ồn ào, xô bồ mà bình lặng, nhẹ nhàng, không chật hẹp tù túng mà thoáng đãng, trong lành. Ngay trong những trang đầu của Hồn bướm mơ tiên không gian thiên nhiên được khắc họa mang nét giản dị, chân thực, gần gũi, ở đó ta bắt gặp không gian bao la rộng lớn với quang cảnh đang vào mùa của làng quê trung du bắc bộ tươi sáng và yên bình: “Hai bên lề đường lúa chiêm vàng ối. (...) thì cắm đòn sóc xuống đất đứng bắt chéo chân nhìn vẩn vơ”[5;13]. Trên cánh đồng, lúa đã chín vàng báo hiệu một vụ mùa mới. Người nông dân bước vào thu hoạch thành quả của chính mình. Họ mải miết làm việc, người cầm liềm, kẻ bó lúa một cách nhịp nhàng đều đặn. Sau một ngày làm việc mệt nhọc họ lại có những giây phút bên nhau cùng nhau bông đùa: “trong một thửa ruộng ngay sát chân đồi một đám mười người con gái, công việc đã xong ngồi nghỉ 14 trên những bó lúa... Một cô thấy lữ khách thì chỉ trỏ bả bạn chị em ơi nhà tôi đã về kia kìa... Này anh, đưa va li đây em xách. Khốn nạn! thương hại nhà tôi đi đường mệt nhọc mồ hôi mồ kê thế kia kìa. Lữ khách đi đã xa còn nghe văng vẳng câu hát ghẹo: anh về kẻo tối anh ơi, kẻo bác mẹ mắng rằng em dỗ dành” [5; 14]. Những lời trêu đùa khéo léo, đáo để, thể hiện sự thông minh, dí dỏm, vui tươi của cô gái vùng kinh bắc. Với họ đó là những thú vui, tiếng cười để xua đi nỗi nhọc nhằn trong cuộc sống. Trong không gian đồng quê mùi hương lúa mới thoang thoảng theo gió nhẹ nhàng lan tỏa xuyên thấm vào từng ngõ ngách làm con người cảm thấy như sống trong một bầu không khí trong lành, mát mẻ: “Gió chiều hây hẩy đã mát mùi lúa chín bốc lên thơm phức, khiến ngọc ngắm cảnh nơi thôn dã êm đềm, trong lòng biết bao tình cảm” [5; 16]. Không gian quen thuộc không chỉ là cánh đồng lúa bạt ngàn mà không gian ấy còn là mái chùa cổ kính , những đồi sắn nương chè bát ngát. Sự dịch chuyển điểm nhìn theo bước chân tác giả khi nhìn từ xa đến gần, ngôi chùa hiện ra: “lung chùng một cái đồi cao, mấy nóc nhà rêu mốc chen lẫn trong đám cây rậm rạp, bốn góc bốn gác chuông vượt lên trên từng lá xanh um” [5; 17]. Không gian cổ kính với sự tĩnh lặng tôn nghiêm nơi cửa Phật, những “gác chuông” lấp ló sau tán lá um tùm xanh mướt, nhìn từ xa ngôi chùa hiện ra với đường nét, hình khối vô cùng rõ rệt. Không gian làng quê được Khái Hưng khắc họa với những khung cảnh thân quen mọi vật dường như trôi đi trong sự êm đềm, nhịp nhàng. Trái ngược hoàn toàn với điều đó thì thiên nhiên làng quê trong văn học hiện thực lại là không gian náo động, ngột ngạt,xô bồ, thô ráp, xù xì và sống động như vốn có của nó. Tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tât Tố cho bạn đọc thấy một khung cảnh làng Đông Xá đầy căng thẳng trong mùa sun thuế, từ tờ mò’ sáng cổng làng bị đóng chặt, việc đồng áng bị đình đốn, tiếng trâu bò kêu “tiếng trâu thừ phì phò” “tiếng bò đập đuôi đen đét”, tiếng mõ, tiếng trống thúc siru, tiếng thét đánh của bọn cường 15 hào, lý trưởng “cứ bướng đi ông bắt hết trâu bò! Bản ráo” ... không khí chìm ngập những âm thanh ồn ào, khó chịu. Hay trong tiểu thuyết Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan không gian làng quê với cảnh bức bối, tù túng khi sống trong những thủ đoạn tranh cướp ruộng đất của bọn cường hào địa chủ, đặc biệt không gian ao đọng nước tù càng được khắc họa đậm nét qua khung cảnh thiên nhiên khi nông dân theo lệnh đắp đê “mặt trời như thiêu vào lưng”, “nước cuộn ào ào”, “trống thùng thùng” không gian thiên nhiên khắc nghiệt, người nông phu phải phơi mình giữa cái nắng chói chang nhưng trên cánh đồng “gió vẫn hiu hiu”, “lúa má vẫn bình tĩnh lả lơi” hình ảnh đối lập càng gợi lên sự cùng cực của người dân lao động, không gian thiên nhiên tiếp tục được miêu tả kĩ hơn khi mọi người đương nghỉ tay khi tai nạn bất ngờ ập đến “mây đen kéo mù mịt”, “sóng to vỗ mạnh vào các con chạch kêu óc ách” nhọc nhằn là thế nhung mọi cố gắng là vô nghĩa khi nghe tin đê vỡ, trời vẫn cứ vô tình, hung bạo, dữ dằn “nước mưa ở trên trút xuống như giội” như muốn dồn con người ta đến đường cùng, các nhà chức trách thì chỉ trục hò hét “thỉnh thoảng lòe sáng để đếm từng hàng xem có thiếu người nào không . Không khí đắp đê diễn ra khẩn trương, náo nhiệt, người dân luôn sống trong cảnh lo âu, cơ cực. Ta thấy nền cảnh thiên nhiên trong văn học hiện thực đóng vai trò quan trọng nó phơi bày nỗi vất vả, những bất công ngang trái của cuộc đời chứ không phải là môi trường thể hiện cảm xúc. Như vậy không gian thiên nhiên trong tiểu thuyết lãng mạn thường được thi vị hóa, lãng mạn hóa đó là không gian thơ mộng yên bình. Không gian ấy phù hợp với những kiểu nhân vật khát khao lý tưởng, mộng mơ, khát khao hạnh phúc còn không gian thiên nhiên trong tiểu thuyết hiện thực thường dữ dội, nguy hiểm luôn lình rập nhưng cũng có lúc không gian thiên nhiên trong tiểu thuyết hiện thực cũng được khắc họa trong không gian êm đềm nhung nó 16
- Xem thêm -