Tài liệu Khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần việt nam thịnh vượng

  • Số trang: 93 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 40 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39907 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO CHO VAY DOANH NGHIỆP TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1. Khái quát về cho vay doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm cho vay doanh nghiệp Các NHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, do vậy mọi hoạt động kinh doanh của chúng đều phải đem lại doanh thu. Một trong những hình thức kinh doanh tạo nguồn thu lớn nhất cho các NHTM là hoạt động cho vay doanh nghiệp. Thuật ngữ chung về cho vay của NHTM xuất hiện trên nhiều tài liệu, như: PGS.TS Mai Văn Bạn, Giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Đại học Thăng Long, Nhà xuất bản Tài chính, năm 2009 đưa ra khái niệm cho vay của NHTM như sau: “Cho vay của NHTM là việc chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ NHTM (người sở hữu) sang khách hàng vay (người sử dụng) sau một thời gian nhất định quay trở lại NHTM với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Hay có thể hiểu cho vay của NHTM là quan hệ giữa một bên là người cho vay (NHTM) bằng cách chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên người vay (khách hàng vay) để sử dụng trong một thời gian nhất định với cam kết của người vay là hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn.” Trong Luật các tổ chức tín dụng, số 47/2010/QH12 do Quốc hội ban hành giải thích từ ngữ cho vay như sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định đã thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Nói chung, cho vay của NHTM được hiểu là hình thức cấp tín dụng của NHTM đối với các đối tượng đi vay với mục đích xác định trong thời hạn cho vay theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Cho vay của NHTM bao gồm một danh mục các sản phẩm đa dạng như cho vay kinh doanh, cho vay tiêu dùng; cho vay ngắn, trung và dài hạn; cho vay theo món, cho vay theo hạn mức tín dụng; cho vay trực tiếp, cho vay gián tiếp; cho vay có đảm bảo bằng tài sản, cho vay tín chấp. Tuy vậy, hoạt cho vay chủ yếu của các NHTM tập trung vào đối tượng các doanh nghiệp. Khối lượng cho vay doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng dư nợ cho vay của các NHTM. Dựa vào tính chất của đối tượng, cho vay doanh nghiệp được hiểu như sau: Cho vay doanh nghiệp là một hình thức cho vay của NHTM, theo đó NHTM giao hoặc cam kết giao cho doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích sản xuất – kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. 1 Thang Long University Library 1.1.2. Đặc điểm của cho vay doanh nghiệp Hoạt động cho vay doanh nghiệp có một số đặc điểm như sau: Số lƣợng nhỏ nhƣng dƣ nợ lớn: Số lượng khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại NHTM thường chiếm tỷ trọng thấp, nhưng dư nợ cho vay doanh nghiệp luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay của NHTM; vì nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp cao. Do vậy, để đáp ứng nhu cầu sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp thì DNCVDN thường lớn. Đối tƣợng khách hàng là các tổ chức, doanh nghiệp: Hoạt động cho vay doanh nghiệp của các NHTM hướng tới các chủ thể khách hàng là các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trừ những đối tượng mà pháp luật cấm. Mục đích vay vốn là để phục vụ sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp: Có điều này là do các doanh nghiệp là các tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Các NHTM cấp vốn cho doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu vốn để phục vụ sản xuất, kinh doanh; dịch vụ, đầu tư phát triển, không phục vụ mục đích tiêu dùng của doanh nghiệp. Thời gian cho vay doanh nghiệp đa dạng, bao gồm: cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn. Các NHTM và doanh nghiệp thoả thuận thời hạn cho vay căn cứ vào chu kỳ sản xuất- kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của phương án/dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của NHTM. Loại tiền cho vay doanh nghiệp của các NHTM: Do mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp đa dạng, có thể vay vốn để thanh toán công nợ trong nước hoặc cũng có thể là công nợ với nước ngoài nên loại tiền mà NHTM cho doanh nghiệp vay bao gồm cả nội tệ và ngoại tệ. Quy mô khoản vay đa dạng: Phụ thuộc vào nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, các NHTM cấp các khoản vay với quy mô lớn, vừa và nhỏ. Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay cụ thể được NHTM và doanh nghiệp thỏa thuận theo phương thức lãi suất cố định trong suốt thời gian vay vốn hoặc lãi suất cho vay có điều chỉnh, phù hợp với quy định của NHTM và pháp luật trong từng thời kỳ. Nguồn trả nợ từ hiệu quả sử dụng vốn vay: Tùy thuộc vào thời hạn của khoản vay mà nguồn trả nợ của doanh nghiệp là khác nhau, cụ thể với các khoản vay ngắn hạn thì nguồn trả nợ của doanh nghiệp lấy từ doanh thu bán hàng; đối với các khoản vay trung và dài hạn, nguồn trả nợ lấy từ lợi nhuận sau thuế và khấu hao của doanh nghiệp. 2 1.1.3. Vai trò của cho vay doanh nghiệp Đứng trên góc độ vĩ mô, NHTM đóng vai trò là cầu nối của nền kinh tế thông qua hai nghiệp vụ chính là huy động vốn và cho vay. NHTM nhận tiền từ nơi thừa vốn, có thể là các cá nhân, tổ chức,… thông qua huy động vốn để đưa đến nơi thiếu vốn, có thể là cá nhân, tổ chức, hộ gia đình,… thông qua hoạt động cho vay. Để đạt được chức năng trung gian này, hoạt động quan trọng phải kể đến là cho vay doanh nghiệp. NHTM cấp vốn cho các doanh nghiệp với mức lãi suất nhất định, nhằm phát triển các hoạt động sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng các doanh nghiệp, tạo ra của cải cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, các NHTM cho các doanh nghiệp vay vốn nhằm tăng sức mạnh tài chính để mở rộng ứng dụng khoa học - kỹ thuật tiên tiến, đầu tư các dây chuyền sản xuất hiện đại, cải thiện quy trình sản xuất, kinh doanh làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhìn chung, hoạt động cho vay doanh nghiệp của các NHTM có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật. Đối với phạm vi thu hẹp, hoạt động cho vay doanh nghiệp của các NHTM có vai trò quan trọng đối với cả bên cho vay và bên đi vay. Trước hết, vai trò của hoạt động cho vay đối với bên đi vay. Các doanh nghiệp được đáp ứng về nhu cầu vốn để mở rộng quy mô hay tiếp tục hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình. Hơn nữa, khi tham gia vào HĐTD, doanh nghiệp phải cam kết trả nợ gốc và lãi đúng hạn; điều này thúc đẩy doanh nghiệp nỗ lực trong hoạt động kinh doanh của mình để tạo ra lợi nhuận tối đa sau khi bù đắp các chi phí, phục vụ nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước và trả nợ cho ngân hàng đúng hạn. Có vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh giúp cho doanh nghiệp đầu tư vào cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng nhân sự làm tăng hiệu quả kinh doanh. Bên cạnh đó, làm giảm khả năng doanh nghiệp đi vay vốn trên thị trường chợ đen, gây mất ổn định thị trường. Hoạt động cho vay doanh nghiệp không chỉ đem lại lợi ích cho bên đi vay, nó còn là nguồn thu chính của các ngân hàng thông qua việc thu lãi vay giúp bù đắp chi phí huy động và các chi phí khác, cũng như mang lại thu nhập chính cho ngân hàng. 1.1.4. Phân loại cho vay doanh nghiệp Cho vay doanh nghiệp là sản phẩm tín dụng phổ biến của các NHTM hiện nay. Phụ thuộc vào quy mô, loại hình kinh doanh và nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp mà ngân hàng đưa ra các hình thức cho vay khác nhau. (1) Căn cứ vào tiêu chí thời gian: Cho vay doanh nghiệp được phân thành cho vay doanh nghiệp ngắn hạn, trung và dài hạn. Dưới đây là đặc điểm cụ thể của từng loại cho vay doanh nghiệp dựa trên tiêu chí thời gian: Cho vay doanh nghiệp ngắn hạn: Là các khoản cho vay doanh nghiệp có thời hạn tới 12 tháng nhằm cung ứng vốn cho doanh nghiệp để sản xuất - kinh doanh. Đây là 3 Thang Long University Library phương thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn thường xuyên hay nhu cầu vốn theo đặc điểm sản xuất kinh doanh có tính mùa vụ. Phần lớn các khoản cho vay này đều có thế chấp hoặc cầm cố TSBĐ. Cho vay doanh nghiệp trung và dài hạn: Là hình thức cho vay doanh nghiệp của NHTM có thời hạn trên 12 tháng. Vốn cho vay trung và dài hạn gắn liền với quá trình luân chuyển vốn cố định của doanh nghiệp hay tài trợ về vốn thiếu hụt cho doanh nghiệp. Đây là phương thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tài trợ cho TSCĐ và tài sản lưu động thường xuyên hay nhu cầu tài trợ cho các dự án riêng biệt. (2) Căn cứ vào phƣơng thức cho vay, cho vay doanh nghiệp được phân thành hai hình thức như sau: Cho vay doanh nghiệp từng lần (Cho vay doanh nghiệp theo món): Là hình thức cho vay phổ biến của NHTM đối với doanh nghiệp không có nhu cầu vay vốn thường xuyên, doanh nghiệp có nhu cầu vay từng lần hoặc ngân hàng xét thấy phải áp dụng loại cho vay này để giám sát việc sử dụng vốn chặt chẽ hơn. Đây là hình thức cho vay doanh nghiệp của NHTM mà theo đó làm một bộ hồ sơ vay một lần nhất định với mức vay NHTM và doanh nghiệp thoả thuận. Số tiền cho vay được xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, giá trị TSBĐ, khả năng trả nợ của doanh nghiệp, khả năng nguồn vốn của ngân hàng, giới hạn cho vay của pháp luật và của NHTM. Cho vay doanh nghiệp theo hạn mức tín dụng: Là phương thức cho vay theo đó ngân hàng thỏa thuận cung cấp cho doanh nghiệp hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định mà ngân hàng và doanh nghiệp đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay. Căn cứ để cho vay doanh nghiệp là kế hoạch tài chính của doanh nghiệp, cụ thể là dự báo về tài sản và vốn của doanh nghiệp. (3) Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, cho vay doanh nghiệp được phân thành hai hình thức như sau: Cho vay doanh nghiệp bổ sung vốn lưu động: Là hình thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động để thanh toán các chi phí phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc có nhu cầu mở rộng quy mô hoạt động nhưng nguồn vốn lưu động bị thiếu hụt của doanh nghiệp. Thời hạn cho vay tối đa 12 tháng. Cho vay doanh nghiệp theo dự án đầu tư: Là phương thức cho vay nhằm hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp thực hiện đầu tư các dự án mới, các dự án nâng cấp, mở rộng sản xuất kinh - doanh; giúp các doanh nghiệp thuận lợi trong việc triển khai hoạt động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ hoặc mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình. NHTM cho vay dựa trên dự án đầu tư do doanh nghiệp lập, 4 chủ yếu tài trợ cho việc hình thành nên TSCĐ, dự án có độ phức tạp cao. Quy mô khoản vay thường lớn và rủi ro trong hoạt động cho vay thường cao. Nguồn trả nợ của các doanh nghiệp là từ hiệu quả sử dụng vốn vay, như lợi nhuận sau thuế, khấu hao. (4) Căn cứ vào loại đồng tiền cho vay, cho vay doanh nghiệp bao gồm: Cho vay doanh nghiệp bằng nội tệ: Là hình thức NHTM cho doanh nghiệp vay vốn bằng đồng nội tệ của quốc gia nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp để sản xuất, kinh doanh trong nước. Cho vay doanh nghiệp bằng ngoại tệ: Là hình thức NHTM cho doanh nghiệp vay vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ. Chẳng hạn, cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn để doanh nghiệp thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ khi doanh nghiệp vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu sản xuất, kinh doanh để trả nợ vay; cho vay ngắn hạn để đáp ứng các nhu cầu vốn ở trong nước nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới quốc gia mà doanh nghiệp vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu để trả nợ vay; cho vay để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với các dự án, công trình quan trọng quốc gia,… 1.1.5. Nguyên tắc cho vay doanh nghiệp (1) Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay doanh nghiệp. Doanh nghiệp vay vốn phải thực hiện nguyên tắc này vì mục đích sử dụng vốn vay là cơ sở để ngân hàng thẩm định và đưa ra quyết định cho vay doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp sử dụng vốn vay đúng mục đích mới đảm bảo nguồn trả nợ cho ngân hàng. Đồng thời mục đích sử dụng vốn vay cũng là cơ sở để ngân hàng tiến hành thẩm định, giám sát khoản vay trong quá trình doanh nghiệp sử dụng vốn. Đó cũng là cơ sở để ngân hàng xử lý khoản vay khi doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích. Phải hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay doanh nghiệp. Nguồn vốn đi vay của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn huy động, vì ngân hàng là người “đi vay để cho vay”. Do vậy việc thu hồi nợ gốc và lãi là yếu tố quan trọng, quyết định đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Thu đủ gốc và lãi nhằm giúp ngân hàng bù đắp được chi phí huy động vốn, các chi phí khác phát sinh trong quá trình CVDN, chi phí quản lý kinh doanh và tạo ra một phần thu nhập cho NHTM. Vì vậy, ngân hàng phải xác định thời hạn trả nợ của doanh nghiệp trong hợp đồng cho vay. Đồng thời, ngân hàng phải thường xuyên theo dõi, giám sát, đốc thúc doanh nghiệp trả nợ. Nếu ngân hàng không thu hồi được nợ sẽ dẫn đến giảm khả năng thanh toán và nguy cơ phá sản. 5 Thang Long University Library 1.1.6. Các biện pháp đảm bảo tiền vay cho vay doanh nghiệp Biện pháp đảm bảo tiền vay là hệ thống các biện pháp NHTM đặt ra nhằm tạo cơ sở kinh tế, pháp lý giúp ngân hàng thu hồi đủ nợ gốc và lãi trong tương lai. Các biện pháp đảm bảo tiền vay giúp giảm thiểu rủi ro trong các hoạt động cho vay, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, kích thích hoạt động cho vay của các NHTM. Có hai biện pháp đảm bảo tiền vay là: đảm bảo tiền vay bằng tài sản và đảm bảo tiền vay không bằng tài sản. Đảm bảo tiền vay bằng tài sản: Là việc NHTM yêu cầu doanh nghiệp vay vốn phải có tài sản để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của mình trong thời gian vay vốn tại ngân hàng; đảm bảo tiền vay bằng tài sản bao gồm các biện pháp: cầm cố, thế chấp bằng tài sản của doanh nghiệp vay; bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Đảm bảo tiền vay bằng tài sản cụ thể như sau: Cầm cố bằng tài sản của doanh nghiệp: Là việc doanh nghiệp (bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho NHTM (bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay của mình bao gồm nợ gốc, lãi và tiền phạt lãi quá hạn (nếu có). Giao dịch cầm cố có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố. Tài sản cầm cố gồm: Đồng nội tệ, ngoại tệ, số dư trên tài khoản tiền gửi, trái phiếu, tín phiếu, thương phiếu, kỳ phiếu, sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ khác có giá trị như tiền; nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng, kim khí quý, đá quý và các vật có giá khác (là tài sản không phải là bất động sản); tài sản hình thành trong tương lai. Trường hợp tài sản cầm cố được bảo hiểm thì khoản bảo hiểm cũng thuộc tài sản cầm cố. Thế chấp bằng tài sản của doanh nghiệp: Là việc doanh nghiệp (bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với NHTM (bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp. Trong hoạt động cho vay doanh nghiệp của ngân hàng, đây là biện pháp bảo đảm được sử dụng phổ biến hơn cả. Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp gồm: tài sản là bất động sản; tài sản là động sản; tài sản là hoa lợi, lợi tức; tài sản hình thành trong tương lai. Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba: Là việc bên bảo lãnh cam kết với NHTM về việc sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu, giá trị quyền sử dụng đất của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho doanh nghiệp đi vay, nếu đến hạn trả nợ mà doanh nghiệp thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, bao gồm các tài sản theo quy định về việc cầm cố tài sản hoặc thế chấp tài sản nêu trên. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả 6 năng thực hiện nghĩa vụ của mình. Không phải lúc nào bên đi vay cũng có đủ tài sản để cầm cố hay thế chấp đảm bảo trả nợ khi đến hạn. Do vậy, quy định mở về sự tham gia của bên thứ ba sẽ giúp cho nhiều tổ chức, cá nhân có khả năng được vay vốn, tháo gỡ khó khăn, còn bên bảo lãnh cũng không bị ràng buộc quá nhiều trách nhiệm pháp lý theo luật khi giao kết giao dịch bảo đảm Đảm bảo tiền vay không bằng tài sản hay còn gọi là tín chấp: NHTM lựa chọn cho vay doanh nghiệp không bảo đảm bằng tài sản trong trường hợp doanh nghiệp đi vay có quan hệ tín dụng tốt với các NHTM, hiệu quả sử dụng vốn cao, khả năng trả nợ tương đối chắc chắn, sẽ được NHTM xem xét cho vay mà không yêu cầu khách hàng phải có đảm bảo bằng tài sản. Việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có ghi rõ số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, NHTM cho vay và tổ chức bảo đảm. 1.1.7. Quy trình cho vay doanh nghiệp Quy trình cho vay doanh nghiệp là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cấp vốn cho doanh nghiệp; cụ thể như sau: Sơ đồ 1.1. Quy trình cho vay doanh nghiệp tại NHTM Thiết lập hồ sơ cho vay Thu thập thông tin tín dụng Phân tích cho vay Kiểm tra, giám sát vả xử lý vốn vay Giải ngân cho doanh nghiệp Quyết định cho vay doanh nghiệp Thanh lý hợp đồng tín dụng (Nguồn: Tự tổng hợp) Bƣớc 1: Thiết lập hồ sơ cho vay doanh nghiệp Hồ sơ CVDN của một ngân hàng là tài liệu bằng văn bản, biểu hiện mối quan hệ tổng thể của ngân hàng với doanh nghiệp vay vốn. Chất lượng cho vay phụ thuộc rất lớn vào sự hoàn chỉnh và chính xác của hồ sơ cho vay. Vì vậy, khi thiết lập một hồ sơ cho vay phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố: 7 Thang Long University Library - Các thông tin cơ bản về doanh nghiệp vay vốn; - Thông tin về tài chính hiện tại của doanh nghiệp vay vốn; - Lịch sử tài chính của doanh nghiệp vay vốn; Thông tin về mục đích vay vốn; - Phương hướng hoạt động kinh doanh trong tương lai của doanh nghiệp; - Đánh giá, nhận xét của ngân hàng và doanh nghiệp về việc vay vốn và trả nợ; Những thông báo của ngân hàng cho doanh nghiệp; - Báo cáo về kết quả kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay. Tùy vào từng loại cho vay, kỹ thuật cho vay và quy mô của các khoản cho vay mà NHTM quy định việc thiết lập bộ hồ sơ cho phù hợp. Bộ hồ sơ cho vay doanh nghiệp thường bao gồm các loại sau: Hồ sơ pháp lý: Là hồ sơ chứng minh cho ngân hàng biết về năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của doanh nghiệp vay vốn, bao gồm: - Quyết định hoặc giấy phép thành lập doanh nghiệp; - Điều lệ của doanh nghiệp; - Quyết định bổ nhiệm tổng giám đốc (giám đốc, kế toán trưởng), quyết định công nhận Ban quản trị; - Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; - Giấy phép hành nghề; - Giấy phép đầu tư (doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài); Hợp đồng liên doanh (đối với doanh nghiệp liên doanh); Quyết định giao vốn và cá văn bản bàn giao tài sản của Cục quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp (đối với doanh nghiệp Nhà nước). Hồ sơ dự án (đối với cho vay trung và dài hạn): Là hồ sơ tập hợp các tài liệu có tính xác thực và minh bạch theo quy định của pháp luật nhằm cung cấp cho ngân hàng những thông tin về dự án của doanh nghiệp vay vốn, bao gồm: - Quyết định đầu tư, cho phép đầu tư hoặc giấy phép đầu tư của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; - Luận chứng kinh tế kỹ thuật và phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; - Thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán đã được phê duyệt; - Ý kiến của cơ quan quản lý ngành, cơ quan chuyên môn, chính quyền sở tại và của Chính phủ về dự án; - Nghị quyết của hội đồng quản trị, sáng lập viên về việc đầu tư của dự án; - Các hồ sơ khác có liên quan được pháp luật quy định. 8 Hồ sơ kinh tế: Là hồ sơ tập hợp các tài liệu có tính xác thực và minh bạch theo quy định của pháp luật nhằm cung cấp cho ngân hàng những thông tin khái quát về kế hoạch sản xuất, kinh doanh, tình hình tài chính cùng các tài liệu khác chứng minh năng lực hoàn trả vốn vay của doanh nghiệp; bao gồm: - Kế hoạch sản xuất kinh doanh trong kỳ; - Bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh kỳ trước liền kề với kỳ vay vốn; - Báo cáo thực hiện sản xuất kinh doanh kỳ trước liền kề với kỳ vay vốn; Giấy đề nghị vay vốn; - Dự án, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ; - Bản sao hợp đồng mua hàng hoặc báo giá, phiếu nhập kho, các chứng từ thanh toán (nếu có). Hồ sơ đảm bảo tiền vay: Là những giấy tờ pháp lý chứng minh quyền sở hữu tài sản mà dự định dùng để cầm cố, thế chấp tại NHTM hay giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản, chứng năng lực pháp lý, năng lực tài chính của người bảo lãnh, bao gồm: - Bản sao giấy tờ sở hữu, sử dụng hợp pháp tài sản như giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, tờ khai lệ phí trước bạ, hợp đồng mua bán,… - Các giấy tờ khác chứng minh về nguồn hình thành và giá trị tài sản, như hợp đồng mua bán, hóa đơn Giá trị gia tăng,… - Trường hợp dùng tài sản cá nhân để đảm bảo cho doanh nghiệp vay vốn yêu cầu phải có: bản sao Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu, hộ khẩu của người có tài sản (cả vợ và chồng); bản sao Đăng ký kết hôn hoặc Giấy khai sinh của con (nếu hai vợ chồng không cùng hộ khẩu),… - Biên bản định giá TSBĐ. Hồ sơ tham khảo khác: - Thông tin từ Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN; - Hợp đồng tín dụng với các ngân hàng khác, các giấy tờ tham khảo khác (nếu có); Bảng chấm điểm khách hàng doanh nghiệp. Bƣớc 2: Thu thập thông tin tín dụng Để hạn chế tối đa rủi ro trong quá trình cho vay, bên cạnh việc thiết lập hồ sơ cho vay, NHTM cần phải thu thập thêm thông tin tín dụng của doanh nghiệp từ các nguồn như thông tin lưu tại ngân hàng, thông tin từ cơ quan Nhà nước, thông tin từ phía đối tác của doanh nghiệp và thông tin từ phương tiện thông tin đại chúng. Các thông tin đó có trên các tài liệu như: 9 Thang Long University Library - Tài liệu thuyết minh về việc vay vốn như kế hoạch hoặc phương án sản xuất kinh doanh, giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu, các hợp đồng cung cấp, tiêu thụ sản phẩm; - Các tài liệu kế toán: Bảng tổng kết tài sản, bản thuyết minh về tình hình công nợ, bản giải trình về kết quả kinh doanh, bản phân tích chi tiết về lỗ, lãi; - Các tài liệu liên quan đến đảm bảo tín dụng; Ngoài ra, ngân hàng còn dựa vào các thông tin khác như: phỏng vấn trực tiếp người vay, thông tin qua hồ sơ lưu trữ về người vay tại ngân hàng, thông tin từ các doanh nghiệp có quan hệ kinh tế với người vay, thông tin của trung tâm CIC,… - Các nguồn thông tin phi tài chính: Các mục thông tin trên báo, các tạp chí thương mại, báo cáo tổng hợp, báo cáo cổ đông, báo cáo của các nhà tư vấn,… - Các nguồn thông tin tài chính: Báo cáo kế toán thường niên, báo cáo kế toán tạm thời, các dự báo về vốn luân chuyển, doanh thu, lợi nhuận; các báo cáo của cơ quan xếp hạng tín nhiệm,… Bƣớc 3: Phân tích cho vay doanh nghiệp Bản chất của hoạt động CVDN là rủi ro không thể tránh khỏi. Vì vậy, NHTM chỉ có thể tiến hành các biện pháp nhằm phòng ngừa, hạn chế các rủi ro; giảm thiểu tối đa các tổn thất mà rủi ro xảy ra có thể gây ra. Do đó, trong quá trình CVDN, trước khi ra quyết định cấp tín dụng cho doanh nghiệp NHTM phải tiến hành thẩm định năng lực tài chính, khả năng trả nợ, triển vọng phát triển của khách hàng một cách chi tiết, chính xác. Cơ sở để tiến hành phân tích, thẩm định là các hồ sơ tài liệu do doanh nghiệp cung cấp và dựa trên các khảo sát thực tế như kiểm tra thực tế tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, TSBĐ và các vấn đề khác có liên quan, các nguồn thông tin khác,… Nội dung thẩm định, phân tích thƣờng bao gồm: Thẩm định chung về khách hàng doanh nghiệp: CBTD tìm hiểu chung về doanh nghiệp, tư cách pháp lý, mô hình tổ chức, cơ cấu lao động, khả năng quản trị, điều hành của ban lãnh đạo công ty. Phân tích tình hình quan hệ với ngân hàng: Xem xét quan hệ tín dụng, quan hệ tiền gửi và các quan hệ khác giữa doanh nghiệp và ngân hàng. Thẩm định khả năng tài chính: Kiểm tra tính chính xác của BCTC, tiến hành đối chiếu các khoản mục cơ bản trong bản tổng kết tài sản, BCKQKD: khoản mục các khoản phải thu, hàng tồn kho, các khoản vay, các khoản thanh toán lớn, khấu hao tài sản,… Phân tích tình hình công nợ, hàng tồn kho, các khoản phải thu,… 10 Phân tích cơ cấu tài sản/nguồn vốn Phân tích đánh giá các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp Thẩm định về thị trường: Tình hình thị trường, ngành hàng chung; thị trường đầu vào của doanh nghiệp; thị trường đầu ra của sản phẩm; đánh giá thị phần và đối thủ cạnh tranh. Phân tích nhu cầu vốn: - Tính khả thi của tiêu thụ hàng hóa và hiệu quả của phương án kinh doanh; - Tỷ suất lợi nhuận có phù hợp với tình hình hoạt động hiện tại và ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp; - Đánh giá tính khả thi của nguồn trả nợ vay từ phương án và nguồn trả nợ bổ sung; Phân tích kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp như đánh giá kế hoạch doanh thu, sản lượng, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp trong 12 tháng tới so với tình hình hoạt động kinh doanh hiện tại; căn cứ đánh giá các hợp đồng đã ký kết và dự kiến ký, tốc độ tăng trưởng của ngành hàng, dịch vụ đó, khả năng đạt được kế hoạch đề ra; đánh giá sự thay đổi của thị trường đầu vào,… - Tính toán nhu cầu vốn lưu động trong kỳ kế hoạch, bao gồm: đánh giá vòng quay vốn lưu động, cơ cấu vốn tham gia trong tổng nhu cầu vốn; đánh giá tính hợp lý của nhu cầu vốn vay. Phân tích nguồn trả nợ: Xác định dự kiến các nguồn trả nợ cho ngân hàng, thuyết minh nguồn trả nợ bổ sung (nếu có); các nguồn trả nợ phải đảm bảo khả năng trả nợ đầy đủ, đúng hạn; đề xuất các biện pháp theo dõi, quản lý nguồn trả nợ của doanh nghiệp nhằm hạn chế rủi ro CVDN,… Thẩm định biện pháp đảm bảo tiền vay và các vấn đề liên quan đến TSBĐ Các nội dung và yêu cầu cụ thể về thẩm định đối với từng đối tượng doanh nghiệp được thực hiện theo hướng dẫn của lãnh đạo. Bƣớc 4: Quyết định cho vay doanh nghiệp Đối với khoản vay nhỏ ngân hàng thường giao quyền cho lãnh đạo ngân hàng quyết định, đối với những khoản vay lớn thuộc quyền phán quyết của Hội đồng tín dụng. Trường hợp này CBTD trực tiếp nhận hồ sơ vay vốn có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ và thẩm định các điều kiện vay vốn của hồ sơ, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và phải đưa ra được ý kiến có nên cho vay hay không cho vay và lập trờ trình lãnh đạo ngân hàng. Trên cơ sở hồ sơ vay vốn và tờ trình của CBTD, lãnh đạo ngân hàng xem xét, kiểm tra lại hồ sơ vay vốn và tờ trình để ra quyết định cho vay hay không cho vay. Nếu hồ sơ vay vốn bị từ chối thì cũng phải thông báo cho khách hàng biết lý do từ chối cho vay. Nếu yêu cầu vay vốn được chấp thuận thì 11 Thang Long University Library lãnh đạo ngân hàng cùng doanh nghiệp tiến hành ký HĐTD và hợp đồng đảm bảo tiền vay (nếu có). Bƣớc 5: Giải ngân cho doanh nghiệp Sau khi HĐTD được ký kết, có hiệu lực, các bên có trách nhiệm phải thực hiện đúng cam kết đã ký kết. Mỗi HĐTD có thể thực hiện giải ngân tiền vay một lần hay nhiều lần phù hợp với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn vay của doanh nghiệp. Mỗi lần nhận tiền vay, doanh nghiệp phải xác nhận nợ (lập giấy nhận nợ). Tiền vay có thể được giải ngân bằng nhiều hình thức như tiền mặt, chuyển khoản,… theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Bƣớc 6: Kiểm tra, giám sát và xử lý vốn vay Quá trình kiểm tra, giám sát sau cho vay là công việc rất quan trọng, nhằm phát hiện những sai sót trong quá trình sử dụng vốn vay của doanh nghiệp; những thay đổi về năng lực tài chính và TSBĐ của doanh nghiệp để đảm bảo vốn vay được sử dụng đúng mục đích và đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp. Đó là cơ sở chắc chắn để doanh nghiệp có nguồn trả nợ cho ngân hàng. Nếu xảy ra những sai sót, ngân hàng phải tiến hành các biện pháp xử lý kịp thời. Bƣớc 7: Thanh lý hợp đồng tín dụng Khi ngân hàng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi của doanh nghiệp thì tiến hành tất toán khoản vay, thanh lý hợp đồng tín dụng; giải tỏa các hợp đồng bảo đảm tiền vay như hoàn trả TSBĐ,… và CBTD doanh nghiệp thực hiện lưu trữ, quản lý hồ sơ theo quy định của NHTM. 1.2. Khái quát về rủi ro cho vay doanh nghiệp trong ngân hàng thƣơng mại 1.2.1. Khái niệm rủi ro cho vay doanh nghiệp Môi trường kinh doanh là luôn luôn biến động, thị trường kinh doanh ngân hàng lại luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Một trong những hoạt động chính đem lại nguồn lợi cho ngân hàng là hoạt động cho vay. Tuy vậy, nghiệp vụ này đem lại nhiều rủi ro cho ngân hàng. Để hiểu được rủi ro CVDN là thế nào, tổn thất do nó gây ra có ảnh hưởng gì, trước tiên cần hiểu được bản chất của hai từ rủi ro. Theo định nghĩa truyền thống, rủi ro là những sự kiện xảy ra có thể làm cho mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ. Định nghĩa hiện đại lại cho rằng rủi ro bao hàm nghĩa rộng hơn, tức rủi ro còn có tính tích cực và không chỉ tính đến rủi ro tài chính mà còn bao gồm cả những rủi ro liên quan đến mục tiêu hoạt động và mục tiêu chiến lược. Hay rủi ro là khả năng những sự kiện chưa chắc chắn trong tương lai sẽ làm cho chủ thể không đạt được những mục tiêu chiến lược và mục tiêu hoạt động, cũng như những chi phí cơ hội của việc làm mất những cơ hội. Tóm lại có thể hiểu một cách đơn giản, rủi ro là những sự 12 kiện bất ngờ, không mong đợi, nếu nó xuất hiện thường gây ra những tổn thất, nhưng cũng đem lại những lợi ích, những cơ hội. Như đã nói, bản chất của hoạt động ngân hàng là chấp nhận rủi ro. Các ngân hàng cần phải đánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được trong phạm vi nguồn lực tài chính của ngân hàng. Rủi ro rất đa dạng và được phân chia theo nhiều khía cạnh khác nhau. Trong phạm vi hoạt động của ngân hàng, có những rủi ro cơ bản như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro danh tiếng, rủi ro chiến lược, rủi ro hoạt động và rủi ro tập trung. Trong phạm vi khóa luận này, tác giả tập trung đề cập đến rủi ro trong CVDN, một mảng chính trong rủi ro tín dụng. Dựa trên bản chất của rủi ro, có thể hiểu rủi ro cho vay doanh nghiệp là rủi ro phát sinh khi ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn mà không thu được gốc và lãi đúng hạn, hoặc chỉ thu được một phần gốc và lãi, hoặc không thu được cả gốc và lãi của khoản cho vay đó. Rủi ro cho vay doanh nghiệp có thể dẫn đến tổn thất lớn cho NHTM, vì nghiệp vụ cho vay doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng dư nợ cho vay. 1.2.2. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho vay doanh nghiệp Trên thực tế hoạt động CVDN của NHTM thời gian qua cho thấy rủi ro CVDN xảy ra xuất phát từ những nguyên nhân sau: Nguyên nhân từ phía doanh nghiệp vay vốn: Đây được coi là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro CVDN và thường xuất phát từ việc doanh nghiệp mất khả năng trả nợ hay cố ý chiếm dụng vốn của ngân hàng. Trường hợp doanh nghiệp mất khả năng trả nợ do kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ được dẫn đến không hình thành được nguồn trả nợ đầy đủ cho ngân hàng. Bên cạnh đó, việc sử dụng vốn vay sai mục đích, mạo hiểm đầu tư vào những hoạt động sản xuất, kinh doanh nhiều rủi ro với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao nhưng không có khả năng tính toán trước những bất trắc có thể xảy ra khiến cho việc kinh doanh liều lĩnh trở nên thất bại, hay kém hiệu quả nên khả năng gây ra tổn thất với ngân hàng là rất lớn. Ngoài ra, một số nguyên nhân dẫn đến giảm khả năng trả nợ của doanh nghiệp là do chủ doanh nghiệp thiếu năng lực điều hành, tham ô, lừa đảo; hay mất đoàn kết trong hội đồng quản trị, ban điều hành khiến cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Trường hợp doanh nghiệp cố ý lừa đảo, chiếm dụng vốn vay của ngân hàng. Để đạt được mục tiêu tiếp cận vốn vay giá rẻ của NHTM, các doanh nghiệp sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn để ứng phó với các quy định, yêu cầu của ngân hàng như mua chuộc CBTD; 13 Thang Long University Library làm giả BCTC, và cung cấp nhiều thông tin sai lệch hay sử dụng một TSBĐ đi thế chấp vay nhiều ngân hàng,… Khi doanh nghiệp cố ý lừa đảo, các CBTD rất khó phát hiện nên thường đánh giá sai về khả năng tài chính, nhu cầu vay vốn và thời hạn sử dụng vốn của doanh nghiệp dẫn đến cho vay không hợp lý, là mầm mống tiềm ẩn nhiều rủi ro gây tổn thất cho ngân hàng. Ngoài ra, có trường hợp doanh nghiệp cố ý chiếm dụng vốn vay của NHTM, khi doanh nghiệp có lãi song vẫn không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn mà cố tình kéo dài với ý định tiếp tục không trả nợ hoặc kéo dài thời gian sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt. Nguyên nhân từ phía ngân hàng: Đây được xem là nguyên nhân nội tại do chính bên cho vay mắc sai lầm khi tiến hành CVDN. Thứ nhất phải nhắc đến là ngân hàng đưa ra chính sách tín dụng không hợp lý dẫn đến doanh nghiệp lợi dụng những sơ hở nhằm chiếm đoạt vốn của ngân hàng. Thứ hai, do sự yếu kém của CBTD cả về năng lực và phẩm chất đạo đức; buông lỏng kiểm soát nội bộ hoạt động CVDN. Một CBTD non kém về trình độ, thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm, thiếu am hiểu thị trường, về đặc điểm loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh thì sẽ không có khả năng thẩm định và xử lý thông tin, đánh giá khách hàng thiếu chính xác, mức vay, lãi suất và kỳ hạn vay không phù hợp; dẫn đến chất lượng CVDN thấp, khả năng dẫn đến rủi ro cao. Ngoài ra, nếu CBTD không tuân thủ theo đúng quy trình CVDN như giải ngân trước khi hoàn thành chứng từ hay không kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn của người vay, thì việc mất vốn rất dễ xảy ra. Hơn nữa, CBTD mà phẩm chất đạo đức kém, không có tinh thần trách nhiệm, dễ bị cám dỗ thì sẽ gây thiệt hại rất lớn cho ngân hàng bằng cách cho vay chỉ dựa trên mối quan hệ với khách hàng, dựa trên lợi ích cá nhân mà bỏ qua những điều kiện và thủ tục cần thiết. Đây chính là hậu quả của việc ngân hàng buông lỏng công tác kiểm tra nội bộ với hoạt động CVDN. Thứ ba, do tính cạnh tranh giữa các ngân hàng gia tăng, xuất hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh; ngân hàng đối thủ lôi kéo khách hàng bằng những mánh khóe, chiêu trò không lành mạnh, cung cấp những thông tin sai lệch về ngân hàng cho vay,… Thứ tư, ngân hàng chưa đa dạng hóa các danh mục đầu tư, được xem là một trong những công cụ luôn được nhắc đến trong quản trị rủi ro, là biện pháp ngăn ngừa rủi ro hữu hiệu nhất trong quản trị rủi ro CVDN. NHTM tập trung quá nhiều vốn vào một doanh nghiệp hoặc một ngành nghề kinh tế nào đó dẫn đến khả năng xảy ra rủi ro là rất lớn nếu doanh nghiệp đó bị thua lỗ, hay bỗng nhiên ngành nghề kinh doanh đó bị pháp luật hạn chế hoặc cấm. 14 Thứ năm, giá trị TSBĐ chịu sự biến động theo chiều hướng bất lợi (BĐS,…); ngân hàng gặp khó khăn trong việc tiếp cận, nắm giữ TSBĐ. Trong hoạt đông cho vay, việc đảm bảo tài sản cho các khoản vay được định giá gốc và ký kết giữa ngân hàng cho vay và doanh nghiệp vay. Rủi ro có thể xảy ra do ngân hàng cho vay không đánh giá đúng giá trị TSBĐ hoặc giá trị tài sản thế chấp có biến động theo chiều hướng xấu. Nguyên nhân từ môi trƣờng kinh tế kinh doanh: Chất lượng thông tin chưa cao. Các thông tin mà ngân hàng thu thập thường liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính của khách hàng, tình hình kinh tế xã hội, cạnh tranh trên thị trường; sau đó dựa vào các thông tin thu thập được để ra quyết định cho vay. Tuy nhiên, trên thực tế thì không phải lúc nào các thông tin ngân hàng thu thập được đều có tính chính xác, đầy đủ và kịp thời. Do vậy, nếu hệ thống thông tin tín dụng của ngân hàng không hoạt động có hiệu quả, cập nhật được những thông tin đáng tin cậy thì tất yếu dẫn đến việc ngân hàng thất thoát vốn khi cho vay. Những biến động kinh tế không dự báo được. Khi nền kinh tế ổn định, tăng trưởng lành mạnh thì nhu cầu đầu tư trong xã hội có xu hướng gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động cho vay. Tuy nhiên, khi xuất hiện những biến động kinh tế như lạm phát, giá tăng ở một số mặt hàng nào đó ảnh hưởng đến một nhóm ngành thì rủi ro CVDN với ngân hàng là rất lớn. Nhiều doanh nghiệp vay có thể thích ứng và vượt qua khó khăn đó, nhưng cũng có rất nhiều doanh nghiệp bị đình trệ hoạt động sản xuất, kinh doanh dẫn đến thua lỗ nên khả năng trả nợ vốn vay ngân hàng không được đảm bảo. Sự thay đổi trong các chính sách kinh tế, pháp luật. Sự thiếu nhất quán trong các chính sách kinh tế pháp luật cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới ngân hàng cũng như như các doanh nghiệp có sử dụng vốn vay ngân hàng. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không ổn định khi có những thay đổi trong quy định về thuế, vốn, cũng như hoạt động CVDN của ngân hàng bị tác động nhiều bởi những văn bản luật về TSBĐ, dự trữ, trích lập dự phòng rủi ro,… Như vậy, các chính sách kinh tế, pháp luật không hoàn chỉnh cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp về khả năng trả nợ, cũng như đe doạ đến sự an toàn của ngân hàng trong CVDN. 1.2.3. Hậu quả khi xảy ra rủi ro cho vay doanh nghiệp trong ngân hàng thương mại Rủi ro CVDN là vấn đề quan tâm hàng đầu trong hoạt động CVDN cũng như công tác quản trị rủi ro của các NHTM, CVDN là nghiệp vụ đem lại thu nhập chủ yếu cho các NHTM cho nên tác động của rủi ro CVDN ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của các NHTM. Vì vậy khi rủi ro CVDN xảy ra gây tổn thất rất lớn về mặt tài 15 Thang Long University Library chính và danh tiếng của NHTM cho vay, toàn bộ hệ thống ngân hàng và tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Đối với ngân hàng gặp rủi ro: Rủi ro CVDN làm phát sinh tăng chi phí, giảm lợi nhuận: Khi các ngân hàng cho vay xuất hiện những khoản nợ quá hạn, việc đầu tiên là các ngân hàng cho vay phải tìm cách thu hồi nợ. Việc thu hồi nợ quá hạn vừa làm mất thời gian của CBTD, vừa làm tăng khoản chi phí thu hồi nợ. Nếu các khoản nợ này có liên quan đến nhiều bên thì ngân hàng cho vay phải chi phí về cả thời gian lẫn tiền cho công việc thương lượng, gặp gỡ các bên trong quá trình xử lý nợ. Đây là những chi phí trước mắt mà các ngân hàng cho vay phải bỏ ra. Bên cạnh đó các ngân hàng cho vay phải bỏ ra chi phí cơ hội rất lớn: Các khoản nợ quá hạn làm chậm lại vòng quay vốn tín dụng, làm mất đi các khoản đầu tư khác của ngân hàng, đó là chưa kể đến sự ảnh hưởng lớn của nợ quá hạn với tâm lý của CBTD. Nợ quá hạn phát sinh làm cho CBTD phải mất thời gian xử lý nợ, không tiếp cận được những món vay mới, đồng thời còn làm cho CBTD ngần ngại mở rộng hoạt động cho vay. Tất cả những vấn đề này làm giảm thu nhập tiềm ẩn và làm tăng chi phí cho các ngân hàng cho vay, từ đó làm ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng cho vay. Rủi ro CVDN làm giảm uy tín và năng lực cạnh tranh của ngân hàng cho vay: Các ngân hàng cho vay khi gặp rủi ro, kinh doanh kém hiệu quả, uy tín sẽ bị giảm sút trên thị trường. Điều này sẽ ảnh hưởng đến tâm lý đối tác của ngân hàng, dẫn đến việc huy động vốn trở nên khó khăn hơn và gặp nhiều trở ngại trong việc cạnh tranh với các ngân hàng khác. Đây là sự thiệt hại vô hình mà không thể lường được giá trị. Rủi ro CVDN khiến ngân hàng cho vay không thu được nợ gốc và lãi: Khi rủi ro xảy ra, ngân hàng cho vay không thu được lãi hoặc nợ gốc như cam kết do nhiều nguyên nhân dẫn đến doanh nghiệp vay vốn mất khả năng trả nợ hoặc cố ý chậm trễ trả nợ. Rủi ro CVDN khiến ngân hàng bị thất thoát vốn: Ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động được để cấp vốn cho doanh nghiệp, khi rủi ro xảy ra ngân hàng không thu hồi được nợ gốc của khoản vay. Điều này khiến ngân hàng bị thâm hụt một lượng vốn. Rủi ro CVDN khiến ngân hàng mất khả năng thanh toán và có nguy cơ phá sản: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao không những làm giảm thu nhập của ngân hàng mà còn làm giảm nguồn vốn, đồng thời làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng. Khi đó ngân hàng sẽ phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao, bởi huy động từ tiền gửi dân cư thường mất rất nhiều thời gian. Nếu tình trạng này kéo dài với việc hàng loạt người gửi tiền đến rút tiền, ngân hàng sẽ không đảm bảo khả năng thanh toán, buộc phải đóng cửa và tuyên bố phá sản. 16 Rủi ro trong hoạt động CVDN còn gây ra tổn thất gián tiếp cho hệ thống ngân hàng: Nếu có sự thất thoát lớn trong hoạt động CVDN dù chỉ ở một ngân hàng cho vay trực thuộc, không khắc phục kịp thời thì có thể gây nên hiệu ứng domino đe doạ đến an toàn và ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Rủi ro CVDN tác động đến nền kinh tế: Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nó liên quan đến mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, là khâu cốt yếu cung cấp vốn cho nền kinh tế. Vì vậy, ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến chính sách tiền tệ, đến công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước. Do vậy khi một ngân hàng bị phá sản nó sẽ gây ảnh hưởng đến các bộ phận còn lại trong xã hội, trước tiên là các ngân hàng khác, bởi có quan hệ mật thiết với nhau trong hoạt động nên một ngân hàng sụp đỗ có thể dẫn đến sự sụp đổ của các ngân hàng còn lại. Ngoài ra việc sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp bị gián đoạn do thiếu vốn, người gửi tiền không lấy lại tiền được. Những hậu quả này còn giảm lòng tin của công chúng vào sự vững chắc và lành mạnh của hệ thống tài chính, cũng như hiệu lực của các chính sách tiền tệ của Chính phủ. Rủi ro CVDN tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại: Khi rủi ro CVDN xảy ra, có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, hình ảnh hệ thống NHTM và toàn bộ nền kinh tế quốc gia. Điều này làm giảm vị thế của quốc gia trên trường quốc tế, giảm các dự án đầu tư nước ngoài vào quốc gia cũng như hạn mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Đây thực sự là điều bất lợi đối với quốc gia khi xảy ra sự giảm sút hay sụp đổ của hệ thống tài chính – hệ thống NHTM quốc gia.. 1.3. Quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp trong ngân hàng thƣơng mại 1.3.1. Khái niệm quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp trong ngân hàng thương mại Bản chất của kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, vì vậy công tác quản trị rủi ro được xem là mối quan tâm lớn nhất trong hoạt động quản trị của ngân hàng. Quản trị rủi ro được xem là nỗ lực nhằm xác định, nhận dạng, đo lường, theo dõi, giám sát và quản lý sự không chắc chắn, bao gồm cả việc lựa chọn, triển khai các biện pháp nhằm hạn chế, kiểm soát rủi ro của ngân hàng. Mục tiêu của quản lý rủi ro nhằm giảm mức độ rủi ro xuống mức đã xác định trước có thể chấp nhận được. Quản lý rủi ro không chỉ đơn thuần tuân thủ quy định và kiểm soát nội bộ mà trở thành một phần không thể tách rời trong mỗi quyết định kinh doanh của ngân hàng. Phương pháp tiếp cận khi tiến hành quản trị rủi ro mang tính phòng ngừa, dự báo trước và có sự lựa chọn; không còn chỉ là quản lý rủi ro sau khi rủi ro xảy ra. Vì các quyết định kinh doanh của ngân hàng luôn dựa trên lựa chọn giữa rủi ro và cơ hội lợi ích phù hợp với mức rủi ro có thể chấp nhận được. Công tác quản trị rủi ro được thực hiện thông qua 17 Thang Long University Library việc tiếp cận với các loại rủi ro của ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động,… và quản lý rủi ro theo từng đặc điểm của chúng. Bên cạnh đó, ngân hàng vẫn tiến hành quản lý rủi ro tổng thể. Trong phạm vi nghiên cứu khóa luận này, tác giả tập trung nghiên cứu đến công tác quản trị rủi ro CVDN hay mô hình quản trị rủi ro CVDN tại NHTM. Mô hình này phản ánh một cách hệ thống các vấn đề về cơ chế, chính sách, quy trình, nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn và các chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình nghiệp vụ; các công cụ đo lường, phát hiện rủi ro; các hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp thời các loại rủi ro mới phát sinh và các phương án, biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó một khi có rủi ro xảy ra. Nói cách khác, quản trị rủi ro CVDN là hệ thống các mô hình bao gồm mô hình tổ chức quản lý rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát rủi ro được xây dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt động quản lý CVDN của ngân hàng. Quản trị rủi ro CVDN tại NHTM thường bao gồm các nội dung sau: nhận dạng rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro CVDN. 1.3.2. Sự cần thiết phải quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp Đối với nền kinh tế: Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên quan đến rất nhiều các thành phần kinh tế từ cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức kinh tế cho tới các tổ chức tín dụng khác. Ngân hàng là trung gian giúp nền kinh tế luân chuyển và phân bổ nguồn vốn một cách có hiệu quả. Hơn nữa hoạt động CVDN được suôn sẻ giúp ngân hàng hoàn thành tốt vai trò cung ứng vốn ra thị trường của mình. Vì vậy để đảm bảo hoạt động CVDN đạt hiệu quả hay quá trình luân chuyển vốn của nền kinh tế được duy trì; NHTM phải tiến hành công tác quản trị rủi ro CVDN thật tốt. Kết quả kinh doanh của ngân hàng phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế và đương nhiên nó phụ thuộc rất lớn vào tình hình tổ chức sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng không thể có kết quả tốt khi hoạt động kinh doanh của nền kinh tế chưa tốt hay nói cách khác hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ có nhiều rủi ro khi hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro. Rủi ro xảy ra dẫn tới tình trạng mất ổn định trên thị trường tiền tệ, gây khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, làm ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. Do đó, phòng ngừa và hạn chế rủi ro CVDN không những là vấn đề sống còn với ngân hàng mà còn là yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế góp phần vào sự ổn định và phát triển của toàn xã hội. Đối với doanh nghiệp vay vốn: Trong quá trình thực hiện công tác quản trị rủi ro CVDN, thông qua chính sách cho vay, ngân hàng thắt chặt thẩm định khách hàng và 18 giám sát khoản vay, đốc thúc doanh nghiệp tạo cơ chế quy củ giúp doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả và kịp thời điều chỉnh kế hoạch kinh doanh cho phù hợp trong từng thời kỳ. Bên cạnh đó, công tác quản trị rủi ro CVDN của ngân hàng giúp doanh nghiệp nắm bắt cơ hội kinh doanh, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh; giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngành. Đối với bản thân NHTM: Các nhà kinh tế thường gọi ngân hàng là “ngành kinh doanh rủi ro”. Thực tế đã chứng minh không một ngành nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lại lớn như trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ- tín dụng. Ngân hàng phải gánh chịu những rủi ro không những do nguyên nhân chủ quan của mình, mà còn phải gánh chịu những rủi ro khách hàng gây ra. Vì vậy “rủi ro CVDN của ngân hàng không những là cấp số cộng mà có thể là cấp số nhân rủi ro của nền kinh tế”. Do đó, công tác quản trị rủi ro CVDN là thực sự cần thiết đối với hoạt động quản trị của NHTM. Hơn nữa, quá trình đo lường rủi ro CVDN giúp ngân hàng tính toán, đo lường được khả năng xảy ra rủi ro, mức độ tổn thất mà rủi ro có thể gây ra; tạo cơ sở cho ngân hàng ra quyết định tài trợ hay không tài trợ vốn cho doanh nghiệp. Từ đó giúp ngân hàng tận dụng triệt để các cơ hội kinh doanh mang lại thu nhập cao dựa trên cơ sở xác định tương đối chính xác các rủi ro của khách hàng doanh nghiệp, qua đó nâng cao khả năng sinh lợi cho ngân hàng. Thông qua những biện pháp kiểm soát rủi ro, tài trợ rủi ro CVDN giúp ngân hàng kịp thời xử lý những rủi ro; hạn chế được tổn thất do nó gây ra. Chính những điều này làm giảm những chi phí bù đắp tổn thất lớn nhất mà đáng lẽ ngân hàng phải gánh chịu nếu rủi ro xảy ra, tạo cơ sở để ngân hàng gia tăng lợi nhuận cho mình. Nhìn chung, công tác quản trị rủi ro CVDN nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro CVDN, là một việc làm cần thiết đối với bản thân các NHTM, doanh nghiệp vay vốn và cả nền kinh tế quốc gia. 1.3.3. Nội dung quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp Rủi ro cho vay doanh nghiệp xảy ra là điều không tránh khỏi, do đây là tính chất của hoạt động cho vay doanh nghiệp. Vì thế công tác QTRR cho vay có vai trò quan trọng và thực hiện theo các bước cơ bản, bao gồm nhận dạng rủi ro, đo lƣờng rủi ro, kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro. 1.3.3.1. Nhận dạng rủi ro cho vay doanh nghiệp Nhận dạng rủi ro CVDN là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro có thể ngân hàng gặp phải và nguồn gốc của các rủi ro; xác định khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng và mô tả dựa trên các mục tiêu kinh doanh của ngân hàng. Hay nói 19 Thang Long University Library cách khác, “Nhận diện rủi ro CVDN bao gồm các nội dung: theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động, quy trình tín dụng để thống kê các dạng rủi ro CVDN, nguyên nhân từng thời kỳ và dự báo được những nguyên nhân còn tiềm ẩn có thể gây ra rủi ro CVDN”. Các phương pháp nhận dạng rủi ro bao gồm: phương pháp phân tích báo cáo tài chính, phỏng vấn và điều tra khảo sát tại các cơ sở của khách hàng, phối hợp với các bộ phận khác trong ngân hàng, thông qua tư vấn của tổ chức xếp hạng tín nhiệm chuyên nghiệp, phân tích hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ và các giấy tờ chứng minh mục đích sử dụng vốn khác, nghiên cứu các số liệu tổn thất trong quá khứ (số liệu thống kê). Thông qua các biện pháp nhận dạng rủi ro CVDN và dựa trên đánh giá từ góc độ của các bên tham gia, có thể nhận thấy một số dấu hiệu rủi ro sau: (1) Các dấu hiệu rủi ro CVDN xuất phát từ NHTM: - Đánh giá, phân loại doanh nghiệp không đúng với mức độ rủi ro của họ, đánh giá quá cao năng lực của doanh nghiệp; - Chính sách cho vay phụ thuộc vào những sự kiện có thể xảy ra trong tương lai; - Cấp tín dụng trên cơ sở không chắc chắn và thiếu tính đảm bảo của doanh nghiệp như lời hứa duy trì số dư tiền gửi lớn hay các lợi ích mà doanh nghiệp mang lại khi được cấp tín dụng; - Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá năng lực, khả năng kiểm soát cũng như nguồn vốn của ngân hàng; - Thiếu kế hoạch rõ ràng để thanh lý từng khoản tín dụng; - Tỷ lệ cấp tín dụng cho doanh nghiệp ngoài địa bàn hoạt động của ngân hàng cao; - Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sót, không đồng bộ, thiếu sự tuân thủ hay tuân thủ không đầy đủ các quy định hiện hành về phê duyệt tín dụng cho vay; - Cấp tín dụng với khối lượng lớn doanh nghiệp không thuộc phân đoạn tối ưu của ngân hàng; - Tỷ lệ cho vay các công ty nội bộ cao; Cho vay hỗ trợ các mục đích đầu cơ như cho vay chứng khoán, BĐS; Không nhạy cảm với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế. (2) Các dấu hiệu rủi ro CVDN xuất phát từ doanh nghiệp vay vốn: Dấu hiệu rủi ro CVDN trong mối quan hệ với ngân hàng: - Trả nợ không đúng kỳ hạn hoặc thất thường; Thường xuyên sửa đổi thời hạn, xin gia hạn; Thực hiện việc đảo nợ; - Thất lạc hồ sơ (Đặc biệt là các BCTC); Dựa vào nguồn thu bất thường để trả nợ; 20
- Xem thêm -