Tài liệu Khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện công tác quản trị các khoản phải thu tại công ty cổ phần ô tô vận tải hành khách hải hưng

  • Số trang: 74 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 1070 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39907 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÁC KHOẢN PHẢI THU TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Khái quát về khoản phải thu 1.1.1. Khái niệm khoản phải thu Khoản phải thu là một loại tài sản của công ty tính dựa trên tất cả các khoản nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà các con nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho công ty. Phải thu được kế toán của công ty ghi lại và phản ánh trên bảng cân đối kế toán, bao gồm tất cả các khoản nợ mà công ty chưa đòi được, tính cả các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán. Khoản phải thu có liên quan đến các đối tác có quan hệ kinh tế đối với doanh nghiệp, bao gồm các khoản:  Phải thu từ khách hàng: là những khoản cần phải thu do doanh nghiệp bán chịu hàng hóa, thành phẩm hoặc do cung cấp dịch vụ cho khách hàng;  Ứng trước cho người bán: là khoản tiền doanh nghiệp phải thu từ người bán, người cung cấp do doanh nghiệp trả trước tiền hàng cho người bán để mua hàng hóa, thành phẩm hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp chưa được giao;  Khoản phải thu nội bộ: là khoản phải thu phát sinh giữa đơn vị, doanh nghiệp hạch toán kinh tế độc lập với các đơn vị trực thuộc có tổ chức kế toán riêng, hoặc giữa các đơn vị trực thuộc với nhau;  Khoản tạm ứng cho công nhân viên: là những khoản tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp được giao cho các cán bộ công nhân viên để thực hiện một nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết một số công việc như: mua hàng hóa, trả phí công tác,…;  Các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ: là các khoản tiền của doanh nghiệp mang đi cầm cố, kỳ quỹ, ký cược tại ngân hàng, công ty tài chính, kho bạc Nhà nước, các tổ chức tín dụng có quan hệ kinh tế;  Các khoản phải thu khác bao gồm các khoản tiền sau: + Giá trị tài sản thiếu đã được phát hiện nhưng chưa xác định được nguyên nhân, phải chờ xử lý; + Các khoản phải thu về bồi thường vật chất do cá nhân, tập thể (trong và ngoài đơn vị) gây ra như mất mát, hư hỏng vật tư, hàng hóa, tiền vốn,... đã được xử lý bắt bồi thường; + Các khoản cho vay, cho mượn vật tư, tiền vốn có tính chất tạm thời không lấy lãi; + Các khoản đã chi cho hoạt động sự nghiệp, chi dự án, chi đầu tư XDCB, chi phí sản xuất, kinh doanh nhưng không được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải thu hồi; 1 + Các khoản đơn vị nhận uỷ thác xuất khẩu chi hộ cho đơn vị uỷ thác xuất khẩu về phí ngân hàng, phí giám định hải quan, phí vận chuyển, bốc vác,... + Các khoản phải thu phát sinh khi cổ phần hóa công ty nhà nước, như: Chi phí cổ phần hóa, trợ cấp cho lao động thôi việc, mất việc, hỗ trợ đào tạo lại lao động trong doanh ngiệp cổ phần hóa; + Tiền lãi, cổ tức, lợi nhuận phải thu từ các hoạt động đầu tư tài chính; + Các khoản phải thu khác ngoài các khoản trên. 1.1.2. Bản chất của khoản phải thu Các khoản phải thu được ghi nhận như là tài sản của công ty vì chúng phản ánh các khoản tiền sẽ được thanh toán trong tương lai. Các khoản phải thu dài hạn (chỉ đáo hạn sau một khoản thời gian tương đối dài) sẽ được ghi nhận là tài sản dài hạn trên bảng cân đối kế toán. Hầu hết các khoản phải thu ngắn hạn được coi như là một phần của tài khoản vãng lai của công ty. Trong kế toán, nếu các khoản nợ này được trả trong thời hạn dưới một năm (hoặc trong một chu kỳ hoạt động kinh doanh) thì được xếp vào loại tài sản vãng lai. Nếu hơn một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh thì không phải là tài sản vãng lai. Các khoản phải thu được chia cụ thể thành hai loại: phải thu thương mại (trade) và phải thu phi thương mại (notrade). Phải thu thương mại có thể là các tài khoản phải thu (accouts receivables) hoặc phải thu tiền mặt (notes receivables). Phải thu phi thương mại xuất phát từ các loại giao dịch khác các loại kể trên và cũng có thể là phiếu nhận nợ của bên mua. Ví dụ như các khoản tạm ứng cho nhân viên, các khoản hoàn lại như hoàn thuế, tiền bồi thường bảo hiểm, tiền đặt cọc và các khoản phải thu tài chính như tiền lãi, cổ tức,… Việc tăng khoản phải thu vừa đem đến nhiều lợi ích vừa mang lại những bất lợi cho doanh nghiệp.  Lợi ích khi tăng khoản phải thu: doanh số bán hàng tăng, tiết kiệm được chi phí cố định biên. Xét về mặt cạnh tranh, tăng khoản phải thu giúp tăng vị thế của công ty, tăng thị phần và mở rộng thị trường. Tuy phí tổn mua chịu khá cao nhưng nhiều khi khoản này cũng chỉ tương ứng với mức độ tuổi ro mà người bán phải gánh chịu. Mặt khác, chính sách tín dụng hợp lý cũng là công cụ để quảng cáo, đẩy mạnh tiêu thụ cho nhà sản xuất.  Bất lợi của việc tăng khoản phải thu: tăng vốn đầu tư kéo theo chi phí vốn tăng. Khoản nợ khó đòi tăng, tổn thất là rất lớn nếu công ty không đòi được nợ. Các chi phí khác cũng tăng lên khi tăng khoản phải thu như: chi phí quản lý, chi phí thu nợ, chi phí thông báo. 2 Thang Long University Library 1.1.3. Quản trị các khoản phải thu Quản trị các khoản phải thu nhằm mục đích tìm ra giới hạn hợp lý cho việc mở rộng tín dụng và cách thức huy động các nguồn lực cho công tác thu nợ. Quyết định liên quan đến công tác quản trị các khoản phải thu bao gồm:  Xác định các tiêu chuẩn tín dụng;  Thiết lập điều khoản tín dụng;  Xây dựng chính sách thu nợ. Các quyết định này quan trọng đối với doanh số, lợi nhuận, độ lớn của các khoản phải thu trong công ty. Bởi vậy, nhà quản trị tài chính trong doanh nghiệp cần hết sức thận trọng trong công tác quản trị các khoản phải thu. Điều mà các nhà quản trị quan tâm là làm sao phải giảm tối đa các khoản phải thu ở mức thấp nhất và tránh những mất mát có thể chấp nhận được. Khách hàng có thể làm cho doanh nghiệp lâm vào tình cảnh và nguy cơ rủi ro tài chính cao khi họ cố tình kéo dài các khoản nợ hoặc không chịu thanh toán. Khi đó buộc doanh nghiệp phải phát sinh chi phí như: chi phí sử dụng nhiều nguồn lực hơn trong công tác thu nợ, chi phi đầu tư nhiều hơn vào tài sản lưu động... Do đó, doanh nghiệp cần đặt ra một chính sách quản trị thông minh và mềm dẻo, phù hợp với tình trạng hoạt đông sản suất kinh doanh để tránh tình trạng làm mất lòng tin giữa các đối tác kinh doanh và giảm tỉ lệ tổn thất ở mức có thể chấp nhận được. 1.1.4. Vai trò của quản trị khoản phải thu Đối với công ty: quản trị khoản phải thu có vai trò vô cùng quan trọng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp bởi khoản phải thu là một phần không thể thiếu trong tài chính doanh nghiệp. Nếu làm tốt công tác quản lý thì doanh nghiệp sẽ giảm thiểu được tối đa rủi ro tín dụng, đồng thời nâng cao được vị thế trong mắt khách hàng, tạo được tính cạnh tranh. Ngược lại nếu không quản lý tốt khoản phải thu sẽ dẫn đến rủi ro không thu hồi được nợ, mất đi một phần ít hoặc nhiều tài sản của doanh nghiệp, gây tổn thất vô cùng lớn trong hoạt động kinh doanh. Đối với khách hàng: việc doanh nghiệp làm tốt công tác quản trị khoản phải thu giúp cho khách hàng có lòng tin vào công ty, có sự lựa chọn tốt nhất về việc chọn mua hàng hóa, dịch vụ của công ty nào phù hợp với điều kiện tài chính của bản thân. 1.2. Nội dung quản trị các khoản phải thu 1.2.1. Hoạch định khoản phải thu Hoạch định quản trị khoản phải thu là tiến trình các nhà quản trị xác định và lựa chọn mục tiêu của công tác quản trị khoản phải thu và vạch ra những hành động cần thiết nhắm đặt được mục tiêu. Như vậy việc hoạch định khoản phải thu thực chất là việc hoạch định chính sách cấp tín dụng. 3 Xây dựng tiêu chuẩn tín dụng Tiêu chuẩn bán chịu là tiêu chuẩn tối thiểu về mặt uy tín tín dụng của khách hàng để được doanh nghiệp chấp nhận bán chịu hàng hóa và dịch vụ. Tiêu chuẩn bán chịu là bộ phận cấu thành nên chính sách bán chịu của doanh nghiệp và mỗi doanh nghiệp đều thiết lập tiêu chuẩn bán chịu của mình chính thức hoặc không chính thức. Tiêu chuẩn tín dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chính sách của doanh nghiệp trong mỗi thời kỳ, giá trị sản phẩm cao hay thấp…Những tiêu chuẩn tín dụng của khách hàng được cân nhắc dựa trên các khía cạnh như: uy tín thanh toán, khả năng tài chính, khả năng thế chấp của khách hàng. Yêu cầu của một hệ thống tín dụng là: có thể lượng hóa được mức độ tin cậy của khách hàng, có thể đo lường, so sách mức độ khác biệt của khách hàng, đảm bảo tính nhất quán trong các quyết định tín dụng, đảm bảo đơn giản trong quá trình đánh giá khách hàng. Việc xác định tiêu chuẩn tín dụng cần phải đạt được sự cân bằng phù hợp. Nếu tiêu chuẩn quá cao thì sẽ loại bỏ mất nhiều khách hàng tiềm năng, do đó giảm lợi nhuận. Nhưng nếu một chính sách tín dụng quá thấp có thể làm tăng doanh thu nhưng sẽ tạo ra nhiều khoản tín dụng có rủi ro cao và chi phí thu tiền cũng cao. Tiêu chuẩn tín dụng xác nhận mức độ chấp nhận đối với các yêu cầu tín dụng. Về mặt lý luận, tiêu chuẩn tín dụng có thể hạ thấp đến mức tính sinh lợi của lượng bán tăng thêm vượt quá chi phí cho khoản phải thu tăng thêm. Chi phí tăng thêm khi hạ thấp tiêu chuản tín dụng gồm:  Tăng chi phí cho gian hàng bán hàng tín dụng;  Chi phí văn phòng: kiểm tra phiếu nợ, chi phí phục vụ cho khoản phải thu;  Chi phí mất mát. Thiết lập điều khoản tín dụng Điều khoản tín dụng là điều khoản xác định độ dài thời gian hay thời hạn bán chịu và tỷ lệ chiết khấu áp dụng nếu khách hàng trả sớm hơn thời gian bán chịu cho phép.  Xác định thời hạn tín dụng Thời hạn tín dụng là giới hạn thời gian mà người mua được trì hoãn thanh toán. Thời hạn tín dụng có thể tác động lớn tới doanh số, nếu nhu cầu đối với mỗi loại sản phẩm, dịch vụ nào đó phụ thuộc vào thời kỳ bán hàng hay cung cấp dịch vụ. Việc mở rộng thời hạn tín dụng vừa làm cho khách hàng cũ kéo dài thời gian thanh toán đồng thời thu hút thêm khách hàng mới cho công ty. Khi mở rộng thời hạn tín dụng các nhà quản trị tài chính cần xem xét giữa việc lợi nhuận tăng thêm và các khoản chi phí tăng thêm. Cần phải phân tích những ảnh 4 Thang Long University Library hưởng có thể có của việc kéo dài thời hạn tín dụng đối với lợi nhuận của công ty. Cụ thể, cần phải so sánh khả năng sinh lợi của doanh số kì vọng tăng thêm với tỷ suất sinh lợi cần thiết cho các khoản đầu tư vào các khoản phải thu và tồn kho. Khả năng sinh lợi = lợi nhuận ròng – chi phí tăng thêm Nội dụng chủ yếu của thời hạn tín dụng bao gồm ba bộ phận chủ yếu: + Thời kỳ tín dụng: là thời gian tối đa mà khách hàng được trì hoãn thanh toán, ký hiều là P. + Thời điểm mà tại đó thời kỳ tín dụng bắt đầu tính nếu không phải là ngày làm hóa đơn. + Giá trị chiết khấu: biểu hiện con số phần trăm so với giá bán và thời hạn tối đa cho phép khách hàng được chấp nhận khoản chiết khấu, ký hiệu là D. Thời hạn tín dụng có thể biểu hiện tổng quát như sau: K% / Dnet P day S Ví dụ: “2/10 net 60”: thời hạn tín dụng là 60 ngày kể từ ngày nhận hóa đơn.  Xác định tỉ lệ chiết khấu thanh toàn sớm (k/d) Chiết khấu thanh toán là biện pháp khuyến khích khách hàng trả tiền sớm bằng cách thực hiện việc giảm giá đối với các trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ trả tiền trước thời hạn. Chiết khấu nhờ trả sớm cho khách hàng là tỉ lệ phần trăm giảm giá vào thời gian trả trước để được nhận chiết khấu tiền mặt. Ví dụ: + “2/10 net 30” được ghi trên hóa đơn có nghĩa là: thời hạn tín dụng cho khoản thanh toán là trong phạm vi 30 ngày kể từ ngày ghi trên hóa đơn. Chiết khấu thanh toán là 2% cho việc thanh toán trước trong phạm vi 10 ngày đầu; + “2/10 net 30 E.O.M” được ghi trên hóa đơn có nghĩa là: thời hạn tín dụng cho phép là 30 ngày đối với các khoản nợ trước cuối tháng và được giảm giá 2% cho việc thanh toán trước trong phạm vi 10 ngày đầu; + “2/COD net 40” được ghi trên hóa đơn có nghĩa là: thời hạn tín dụng là 40 ngày kể từ ngày ghi trên hóa đơn, nếu trả ngay thì được giảm giá 2%; Chiết khấu thanh toán được áp dụng để tăng tốc độ thu hồi khoản phải thu và giảm đầu tư vào khoản phải thu và chi phí liên quan. Mặt khác, công ty mất đi chi phí chiết khấu trên phần doanh thu của các hóa đơn. 5 Xây dựng chính sách thu nợ Bao gồm các quy định về cách thức thu tiền như: thu tiền một lần hay nhiều lần, trả góp và biện pháp xử lý đối với các khoản nợ quá hạn. Trường hợp khoản phải thu tăng do phát sinh các khoản nợ xấu trong ký (nợ quá hạn, nợ khó đòi), để giảm bớt rủi ro có thể xảy ra, doanh nghiệp cần có các biện pháp thích hợp như: bán các khoản phải thu nợ cho công ty mua bán nợ, ngừng cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các khách hàng này hay nhờ sự can thiệp của pháp luật để thu hồi nợ. Đồng thời để tránh tình trạng khê, đọng nợ tăng thêm, doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ càng về khách hàng trước khi đặt quan hệ làm ăn. 1.2.2. Tổ chức quản trị các khoản phải thu Việc tổ chức thực hiện quản trị khoản phải thu bao gồm những công việc liên quan đến quản trị khoản phải thu sao cho hiệu quả. Bao gồm những công việc sau: phân tích, đánh giá các khoản phải thu; xác định mô hình quản trị khoản phải thu phù hợp, theo dõi quá trình quản trị khoản phải thu và đưa ra chính sách thu nợ tối ưu nhất. Phân tích các yêu cầu tín dụng Phân tích các yêu cầu tín dụng chính là việc phân tích khả năng tín dụng của khách hàng. Qua quá trình phân tích, doanh nghiệp có thể đưa ra danh sách các khách hàng đủ khả năng để được cấp tín dụng. Các tài liệu dùng để phân tích khách hàng có thể là kiểm tra bảng cân đối kế toán, bảng ngân quỹ, phỏng vấn trực tiếp, xuống tận nơi để kiểm tra, tìm hiểu qua các khách hàng khác. Khi thực hiện việc phân tích khả năng tín dụng của khách hàng, người ta có thể sử dụng những khía cạnh chủ yếu sau:  Phẩm cách và tư cách tín dụng: tiêu chuẩn này nói lên tinh thần trách nhiệm của khách hàng trong việc trả nợ. Điều này cũng chỉ phán đoán dựa trên cơ sở việc thanh toán các khoản nợ trước đây đối với doanh nghiệp hoặc đối với doanh nghiệp khác;  Năng lực trả nợ: tiêu chuẩn này được dựa trên hai chỉ tiêu về khả năng thanh toán nhanh và hàng dự trữ ngân quỹ của doanh nghiệp,…;  Vốn của khách hàng: đây là chỉ tiêu đánh giá tiềm năng tài chính dài hạn;  Thế chấp: là xem xét khách hàng dưới giác độ các tài sản riêng mà họ có thể sử dụng để đảm bảo cho các khoản nợ;  Điều kiện kinh tế: tức là đề cập đến khả năng phát triển của khách hàng, xu thế phát triển về ngành nghề kinh doanh của họ,… Phân tích, đánh giá các khoản phải thu Sau khi phân tích tín dụng và đưa ra danh sách cuối cùng các khách hàng được phép cấp tín dụng, doanh nghiệp sẽ tiến hành cấp tín dụng cho những khách hàng đó, 6 Thang Long University Library đồng thời dựa trên tình hình trả nợ thực tế để phân chia khách hàng theo các nhóm để có biện pháp quản lý riêng. Tổng nợ phải thu có thể phân loại theo các tiêu thức sau: Bảng 1.1. Phân loại các khoản phải thu STT Nhóm nợ 1 Nợ đủ tiêu chuẩn 2 3 Nợ cần chú ý Nợ dưới tiêu chuẩn 3 Nợ quá hạn khó đòi 4 Nợ không thể thu hồi được Xếp loại Các dấu hiệu đặc trưng A Khách nợ là những doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân vững chắc về tài chính, uy tín và thương hiệu. B C D E Nhóm nợ này bao gốm các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày và cá khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Khách nợ là những doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có tình hình tài chính khá tốt, khách nợ truyền thống, có độ tin cậy. Là những khoản nợ quá hạn có thể thu hồi được hay nợ dưới tiêu chuẩn thường nao gồm những khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày và các khoản nợ đã cơ cấu lại nhưng lại quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn cơ cấu lại. Khách nợ là những DN có tình hình tài chính không ổn định, hiện tại có khó khăn nhưng có triển vọng phát triển hoặc cải thiện Là nợ ít có khả năng thu nợ và nợ khó đòi, thường bao gồm những khoản nợ đã quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn cơ cấu lại. Khách nợ là những doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có tình hình tài chính xấu, không có triển vọng rõ ràng hoặc khách nợ cố ý không thanh toán nợ. Là những khoản nợ không thể thu hồi được hay nợ có khả năng mất vốn. Khách nợ là những doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân phá sản hoặc chuẩn bị 7 Các phương pháp kiểm soát nợ Sử dụng các biện pháp kiểm soát thông thường. duy trì mối quan hệ tối đối với khách nợ. Sử dụng các biện pháp kiểm soát nợ thông thường. Theo dõi chặt chẽ để thu nợ, có giải pháp đặc biệt phù hợp với từng món nợ. Áp dụng các biện pháp đặc biệt, theo dõi chặt chẽ, tận dụng cơ hội thu nợ. Nợ thuộc nhóm này phải xóa sổ, không làm phát sinh thêm chi phá sản không có khả năng trả nợ hoặc không tồn tại. phí kiểm soát nợ. Xác định chi phí tổn thất trong kinh doanh. (Nguồn: Giáo trình quản trị khoản phải thu và tồn kho – Đại học Kinh tế TP.HCM) Các mô hình quản trị khoản phải thu Để quản lý tốt các khoản phải thu, doanh nghiệp có thể áp dụng một số mô hình quản trị phổ biến. Dựa vào ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, các thông số tài chính như: số lượng, giá bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; các chi phí phát sinh; lợi nhuận gộp của doanh nghiệp;… để lựa chọn được một mô hình phù hợp nhất. + Mô hình nới lỏng chính sách bán chịu Mô hình 1.1. Nới lỏng chính sách bán chịu Nới lỏng chính sách bán chịu Tổng khoản phải thu Tăng chi phí vào khoản phải thu Tăng doanh thu Tăng lợi nhuận đủ bù đắp tăng chi phí không? Tăng lợi nhuận Ra quyết định (Nguồn: Giáo trình quản trị khoản phải thu và tồn kho – Đại học kinh tế TP. HCM) Khi doanh nghiệp quyết định nới lỏng chính sách bán chịu sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn, cấp tín dụng nhiều hơn dẫn đến tăng doanh thu làm tăng lợi nhuận đồng thời cũng làm tăng tổng khoản phải thu. Khi tổng phải thu tăng lên đồng nghĩa với việc các chi phí để quản lý khoản phải thu cũng tăng theo. Từ việc so sánh giữa lợi nhuận tăng lên và chi phí bỏ ra để duy trì khoản phải thu, doanh nghiệp sẽ đưa ra quyết định cuối cùng về chính sách tín dụng. Nếu lợi nhuận tăng lên đủ bù đắp chi phí quản lý thì sẽ nới lỏng bán chịu. + Mô hình thắt chặt chính sách bán chịu 8 Thang Long University Library Mô hình 1.2. Thắt chặt chính sách bán chịu Giảm khoản phải thu Thắt chặt chính sách bán chịu Giảm doanh thu Tiết kiệm chi phí cho khoản phải thu Tiết kiệm chi phí đủ bù đắp lợi nhuận giảm không? Giảm lợi nhuận Ra quyết định (Nguồn: Giáo trình quản trị khoản phải thu và tồn kho – Đại học kinh tế TP. HCM) Khi doanh nghiệp quyết định thắt chặt chính sách bán chịu tức là các điều khoản bán chịu sẽ được nâng cao, bởi vậy sẽ ít hấp dẫn khách hàng mua sản phẩm, dịch vụ hơn, từ đó làm giảm doanh thu, giảm lợi nhuận đồng thời cũng làm giảm tổng khoản phải thu. Khi tổng phải thu giảm xuống đồng nghĩa với việc các chi phí để quản lý khoản phải thu cũng giảm theo. Từ việc so sánh giữa lợi nhuận bị giảm đi và chi phí tiết kiệm được cho việc duy trì khoản phải thu, doanh nghiệp sẽ đưa ra quyết định cuối cùng về chính sách tín dụng. Nếu khoản chi phí tiết kiệm được đủ bù đắp cho khoản lợi nhuận bị giảm thì doanh nghiệp sẽ thắt chặt tín dụng. + Mô hình mở rộng thời hạn bán chịu Mô hình 1.3. Mở rộng thời hạn bán chịu Tăng kỳ thu tiền bình quân Tăng khoản phải thu Mở rộng thời hạn bán chịu Tăng doanh thu Tăng chi phí vào khoản phải thu Tăng lợi nhuận đủ bù đắp tăng chi phí không? Tổng lợi nhuận Ra quyết định ( Nguồn: Giáo trình quản trị khoản phải thu và tồn kho – Đại học kinh tế TP. HCM) 9 Khi doanh nghiệp mở rộng thời hạn bán chịu, tức là giảm điều kiện tín dụng, thu hút được nhiều khách hàng mua hàng hơn từ đó làm tăng kỳ thu tiền bình quân, đồng thời tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, dẫn đến tăng khoản phải thu. Khoản phải thu tăng lên đồng nghĩa với việc phát sinh thêm chi phí quản lý các khoản phải thu đó. Từ việc so sánh giữa lợi nhuận tăng lên và chi phí bỏ ra để duy trì khoản phải thu, doanh nghiệp sẽ đưa ra quyết định cuối cùng về chính sách tín dụng. Nếu lợi nhuận tăng lên đủ bù đắp chi phí quản lý thì sẽ mở rộng thời hạn bán chịu. + Mô hình rút ngắn thời hạn bán chịu Mô hình 1.4. Rút ngắn thời hạn bán chịu Giảm kỳ thu tiền bình quân Giảm khoản phải thu Tiết kiệm chi phí đủ bù đắp lợi nhuận giảm hay không? Rút ngắn thời hạn bán chịu Giảm doanh thu Tiết kiệm chi phí vào khoản phải thu Giảm lợi nhuận Ra quyết định (Nguồn: Giáo trình quản trị khoản phải thu và tồn kho – Đại học kinh tế TP. HCM) Khi doanh nghiệp rút ngắn thời hạn bán chịu, tức là tăng điều kiện tín dụng, điều này khiến cho khách hàng ít mua hàng hơn từ đó làm giảm kỳ thu tiền bình quân, đồng thời giảm doanh thu, giảm lợi nhuận, dẫn đến giảm khoản phải thu. Khoản phải thu giảm xuống đồng nghĩa với việc tiết kiệm được chi phí quản lý khoản phải thu. Từ việc so sánh giữa khoản chi phí tiết kiệm được và khoản lợi nhuận bị giảm đi, doanh nghiệp sẽ đưa ra quyết định cuối cùng về chính sách tín dụng. Nếu chi phí tiết kiệm được đủ bù đắp cho lợi nhuận giảm xuống thì sẽ rút ngắn thời hạn bán chịu. + Mô hình tăng tỉ lệ chiết khấu 10 Thang Long University Library Mô hình 1.5. Tăng tỉ lệ chiết khấu Giảm kỳ thu tiền bình quân Tiết kiệm chi phí vào khoản phải thu Giảm khoản phải thu Tăng tỉ lệ chiết khấu Tiết kiệm chi phí đủ bù đắp lợi nhuận giảm hay không? Giảm doanh thu ròng Ra quyết định Giảm lợi nhuận (Nguồn: Giáo trình quản trị khoản phải thu và tồn kho – Đại học kinh tế TP. HCM) Khi doanh nghiệp tăng tỉ lệ chiết khấu, khách hàng được lợi hơn khi thanh toán sớm nên sẽ trả nợ sớm hơn để được hưởng chiết khấu. Việc này dẫn đến giảm doanh thu ròng vì mất một khoản tiền cho chiết khấu, kéo theo giảm lợi nhuận. Bên cạnh đó khách hàng thanh toán sớm cũng làm giảm kỳ thu tiền bình quân. Hai điều này đồng thời khiến cho khoản phải thu giảm đi, từ đó tiết kiệm được chi phí cho quản lý khoản phải thu. Từ việc so sánh giữa khoản chi phí tiết kiệm được và khoản lợi nhuận bị giảm đi, doanh nghiệp sẽ đưa ra quyết định cuối cùng về chính sách tín dụng. Nếu chi phí tiết kiệm được đủ bù đắp cho lợi nhuận giảm xuống thì sẽ tiến hành tăng tỉ lệ chiết khấu. + Mô hình giảm tỉ lệ chiết khấu Mô hình 1.6. Giảm tỉ lệ chiết khấu Tăng kỳ thu tiền bình quân Tăng khoản phải thu Lợi nhuận tăng thêm có đủ bù đắp chi phí không? Giảm tỉ lệ chiết khấu Tăng doanh thu ròng Tăng chi phí vào khoản phải thu Tăng lợi nhuận Ra quyết định (Nguồn: Giáo trình quản trị khoản phải thu và tồn kho – Đại học kinh tế TP. HCM) 11 Khi doanh nghiệp giảm tỉ lệ chiết khấu, khách hàng được lợi ít hơn khi thanh toán sớm nên sẽ trả nợ muộn để kéo dài thời gian chiếm dụng tín dụng của doanh nghiệp. Việc này dẫn đến tăng doanh thu ròng vì không phải mất một khoản tiền cho chiết khấu, kéo theo tăng lợi nhuận. Bên cạnh đó khách hàng thanh toán muộn cũng làm tăng kỳ thu tiền bình quân. Hai điều này đồng thời khiền cho khoản phải thu tăng lên, từ đó phát sinh thêm chi phí cho quản lý khoản phải thu. Từ việc so sánh giữa khoản lợi nhuận tăng lên và chi phí quản lý khoản phải thu, doanh nghiệp sẽ đưa ra quyết định cuối cùng về chính sách tín dụng. Nếu lợi nhuận tăng lên đủ bù đắp cho chi phí quản lý thì sẽ tiến hành giảm tỉ lệ chiết khấu. + Mô hình nới lỏng chính sách bán chịu có xét đến ảnh hưởng của rủi ro từ bán chịu. Trong các tình huống đã phân tích ở trên, chúng ta đều ngầm giả định rằng không có tổn thất do nợ không thể thu hồi. Thật ra chính sách bán chịu không chỉ liên quan đến tăng hoặc giảm khoản phải thu mà còn liên quan đến khả năng thu hồi khoản phải thu. Mô hình dưới đây thể hiện rủi ro bán chịu có ảnh hưởng thế nào đến quyết định chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Mô hình 1.7. Nới lỏng chính sách bán chịu có xét đến ảnh hƣởng của rủi ro từ bán chịu Tăng kỳ thu tiền bình quân Tăng khoản phải thu Tăng chi phí vào khoản phải thu Nới lỏng chính sách bán chịu Tăng tổn thất do nợ không thu hồi được Tăng chi phí do nới lỏng chính sách bán chịu Tăng doanh thu Tăng lợi nhuận Tăng lợi nhuận đủ bù đắp tăng chi phí không? Ra quyết định (Nguồn: Giáo trình quản trị khoản phải thu và tồn kho – Đại học kinh tế TP. HCM) Khi doanh nghiệp thực hiện nới lỏng chính sách bán chịu thì doanh nghiệp sẽ bán được nhiều sản phẩm, hàng hóa hơn. Dẫn đến doanh thu bán hàng tăng, lợi nhuận thu về tăng. Đồng thời cũng làm các khoản phải thu của doanh nghiệp tăng lên. Khi các khoản phải thu càng lớn, chứng tỏ nguồn vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng càng nhiều, nhanh chóng giải phóng vốn bị ứ đọng trong khâu thanh khoản là một bộ phận quan trọng trong công tác tài chính. Bên cạnh đó, dẫn đến rủi ro nếu không thu hồi 12 Thang Long University Library được nợ, doanh nghiệp sẽ mất thêm một khoản chi phí rất lớn tương đương với khoản tín dụng đã cấp cho khách hàng. Lúc này doanh nghiệp một bên mất nhiều chi phí hơn cho việc thu hồi nợ mặt khác lại phải đối mặt với rủi ro tổn thất do nợ không thu hồi được. Vì vậy khi ra quyết định nới lỏng chính sách bán chịu doanh nghiệp phải cân nhắc đánh đổi giữa lợi nhuận và chi phí, rủi ro khi thu hồi nợ. + Mô hình tổng quát để ra quyết định quản trị khoản phải thu Mô hình 1.8. Tổng quát để ra quyết định quản trị khoản phải thu Bán chịu hàng hóa Tăng khoản phải thu Tăng doanh thu Tăng lợi nhuận Tăng chi phí So sánh Cơ hội Rủi ro Quyết định chính sách bán chịu (Nguồn: Giáo trình quản trị khoản phải thu và tồn kho – Đại học kinh tế TP. HCM) Mô hình quyết định trong quản lý khoản phải thu có thể mô tả tóm tắt như sau: Kiểm soát khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Nếu không bán chịu hàng hóa thì sẽ mất đi cơ hội bán hàng, do đó mất đi lợi nhuận. Nếu bán chịu hàng hóa quá nhiều thì chi phí cho khoản phải thu tăng có nguy cơ phát sinh các khoản nợ khó đòi, do đó rủi ro không thu hồi được nợ cũng gia tăng. Vì vậy, doanh nghiệp cần có chính sách bán chịu phù hợp với sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Kết luận: Doanh nghiệp cần căn cứ vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh để lựa chọn một mô hình quản trị phải khoản thu sao cho phù hợp nhất. Theo dõi khoản phải thu 13 Để quản lý các khoản phải thu, nhà quản lý cần phải theo dõi các khoản phải thu, trên cơ sở đó để có thể thay đổi chính sách thương mại kịp thời. Thông thường người ta dựa vào các chỉ tiêu, phương pháp, mô hình sau:  Kỳ thu tiền bình quân (The average collection period – ACP) Số ngày trong kỳ Kỳ thu tiền bình quân = Vòng quay các khoản phải thu Kỳ thu tiền bình quân là một tỷ số tài chính đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tỷ số này cho biết doanh nghiệp cần mất bình quân là bao nhiêu ngày để thu hồi các khoản phải thu của mình. Dựa vào kỳ thu tiền bình quân có thể nhận ra chính sách thương mại của doanh nghiệp, chất lượng công tác thu hồi nợ của doanh nghiệp. Theo nguyên tắc chung, kỳ thu tiền bình quân không được dài hơn (1+1/3) kỳ hạn thanh toán. Còn nếu phương thức thanh toán của doanh nghiệp có ấn định kỳ hạn được hưởng chiết khấu thì kỳ thu tiền bình quân không được dài hơn (1+1/3) số ngày của kỳ hạn được hưởng chiết khấu. Do vậy, khi kỳ thu tiền bình quân tăng lên mà doanh số bán và lợi nhuận không tăng thì cũng có nghĩa là vốn của doanh nghiệp bị ứ đọng ở khâu thanh toán. Khi đó, nhà quản lý cần phải có biện pháp can thiệp kịp thời.  Phân tích tuổi của các khoản phải thu Phương pháp phân tích này dựa trên thời gian biểu về tuổi của các khoản phải thu tức là khoản thời gian có thể thu được tiền của các khoản phải thu để phân tích. Các bước để phân tích tuổi của các khoản phải thu: + Xác định doanh số bán chịu các tháng; + Xác định cơ cấu tuổi các khoản phải thu chưa thu được tiền; + Xác định tổng các khoản phải thu đến ngày thu; + Xác định tuổi các khoản phải thu với dãn cách 15 ngày tương ứng với % trong tổng các khoản phải thu; + Phát triển các phân tích. Ví dụ: Sau khi xem xét các khoản phải thu của công ty X, các nhà quản lý lập được bảng theo dõi các khoản phải thu như sau: 14 Thang Long University Library ảng 1.1. Tuổi các khoản phải thu tại công ty X năm 2013 Tỉ lệ của khoản phải thu so với tổng số cấp tín dụng (%) Tuổi của các khoản phải thu (ngày) 0 – 15 30% 16 – 30 26% 31 – 45 21% 46 – 60 16% 61 – 75 4% 71 – 90 3% Tổng 100% (Nguồn: Giả thuyết của người viết) Việc xác định tuổi của các khoản phải thu cho phép đánh giá một cách chi tiết hơn quy mô và dộ dài thời gian tương ứng của các khoản phải thu đó tại một thời điểm nhất định. Đây là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp lựa chọn biện pháp quản lý và thu tiền hợp lý.  Phân tích số dư khoản phải thu Phương pháp này đo lường quy mô doanh số bán chịu chưa thu được tiền tại thời điểm cuối các tháng do kết quả bán hàng của tháng và các tháng trước đó. Thực tế cho thấy, khối lượng bán chịu phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của ngành và mặt hàng, dịch vụ kinh doanh, điều kiện của khách hàng ở từng khu vực địa lý. Do đó, cách tốt nhất là nên phân loại và theo số dự nợ của từng nhóm khách hàng theo tập quán thanh toán của họ. Ví dụ: Bảng 1.2.Số dƣ khoản phải thu tại công ty X năm 2013 Tỉ lệ % khoản phải thu còn tồn đọng đến cuối tháng Tháng bán hàng 9 10 11 12 Tháng hiện tại 30% 15% 40% 60% 1 tháng trước 16% 11% 15% 40% 2 tháng trước 12% 10% 10% 15% (Nguồn: Giả thuyết của người viết) Mỗi cột trong bảng cho thấy các khoản phải thu vẫn còn tồn đọng ở thời điểm cuối tháng bao gồm những khoản phải thu của tháng đó và cả những khoản nợ của tháng trước chuyển sang. 15 Chính sách thu nợ. Chính sách thu nợ có mục đích là sử dụng các nguồn lực của công ty để thực hiện việc thu tiền đối với các hóa đơn quá hạn. Biến số cơ bản của chính sách thu nợ là giá trị kỳ vọng của các thủ tục thu nợ trong một thời gian nhất định, giá trị kỳ vọng của thủ tục thu nợ càng cao thì càng hạ thấp tỉ lệ và rút ngắn thời gian thu tiền. Để cân nhắc cho chi phí thủ tục của các thủ tục thu nợ là giả sử lượng bán không còn ảnh hưởng đến sự cố gắng thu nợ. Như vậy, cần cân nhắc giữa một bên là giảm đầu tư vào các khoản phải thu và giảm mất mát còn bên kia là sự tăng chi phí kiểm soát tín dụng, tăng cường việc thu tín dụng. Một khoản phải thu chỉ tốt như mong muốn khi nó được thanh toán trước hoặc đúng hạn, công ty không thể chờ quá lâu đối với hóa đơn quá hạn mức khi khởi sự thủ tục thu tiền quá sớm, hoặc nếu không hợp lý sẽ làm tăng chi phí và có thể làm mất lòng tin khách hàng. Phòng ngừa rủi ro và xử lý đối với các khoản phải thu khó đòi.  Phòng ngừa rủi ro Khi doanh nghiệp mở rộng chính sách tín dụng thường góp phần làm mở rộng thị trường tiêu thụ, doanh thu tăng nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn. Vì vậy, phòng ngừa rủi ro đối với khoản phải thu là như cầu cần thiết đối với mọi doanh nghiệp để ổn định tình hình tài chính, tăng hiệu quả của chính sách tín dụng. Rủi ro đối với khoản phải thu thường bao gồm: Rủi ro không thu hồi được nợ (rủi ro tín dụng), rủi ro tác động của sự thay đổi tỉ giá, lãi suất,… + Phòng ngừa rủi ro tín dụng: Để phòng ngừa rủi ro tín dụng, trước hết doanh nghiệp cần tìm hiểu kĩ khách hàng về tình hình tài chính, khả năng thanh toán,… của khách hàng để xác định thời hạn tín dụng phù hợp với từng khách hàng. Bên cạnh đó, căn cứ vào kết quả phân loại nợ phải thu, doanh nghiệp cần phải lập dự phòng đối với những khoản phải thu khó đòi. Việc lập dự phòng có thể xác định theo những tỉ lệ % nhất định trên từng loại khoản phải thu, hoặc theo khách hàng nợ đáng ngờ. Cách thức này có thể giúp doanh nghiệp đối phó khi rủi ro xảy ra. + Phòng ngừa rủi ro thay đổi hối đoái: Đối với các rủi ro tác động của tỉ giá, lãi suất có thể lựa chọn các nghiệp vụ kinh doanh trên thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ như: nghiệp vụ kỳ hạn, quyền chọn, hoán đổi tiền tệ và lãi suất, lựa chọn loại tiền vay,... Bên cạnh đó còn có các biện pháp khác như phòng ngừa rủi ro bằng hợp đồng kì hạn, bằng quyền chọn bán tiền tệ, thông qua thị trường tiền tệ,… 16 Thang Long University Library  Xử lý đối với các khoản phải thu khó đòi Các doanh nghiệp bán chịu cho khách hàng cần phải xem xét kĩ khả năng thanh toán trên cơ sở hợp đồng đã được kí kết giữa các bên và phải có sự ràng buộc chặt chẽ trong hợp đồng. Các khoản nợ phát sinh phải có chứng từ hợp lệ chứng mình. Doanh nghiệp phải thường xuyên đôn đốc và áp dụng mọi biện pháp cần thiết để thu hồi các khoản nợ quá hạn. Định kỳ doanh nghiệp phải đối chiếu, tổng hợp, phân tích tình hình khoản phải thu, đặc biệt là các khoản nợ quá hạn hoặc khó đòi. Cấn phải có các biện pháp như cơ cấu lại thời hạn nợ, xóa một phần nợ cho khách hàng, bán nợ, khởi kiện trước pháp luật. 1.2.3. Các bộ phận tham gia quản lý các khoản phải thu Hầu hết các doanh nghiệp đều có các bộ phận chuyên trách thực hiện công việc quản trị khoản phải thu và các nhà trị cần phối hợp với các bộ phận để đưa ra các quyết định chính xác, mang lại hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. Phòng kế toán và kế hoạch là hai phòng ban thường xuyên đảm nhận việc phân tích số liệu, tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định về các khoản phải thu. Tùy theo từng mô hình quản trị khoản phải thu mà doanh nghiệp áp dụng sẽ quyết định nguồn nhân lực cho công tác quản trị và thu nợ là nhiều hay ít. 1.2.4. Kiểm soát và đánh giá công tác quản trị khoản phải thu Sau khi các hoạt động quản trị khoản phải thu được thực hiện dưới sự điều hành của những cá nhân và các bộ phận trong doanh nghiệp thì doanh nghiệp nên tiền hành kiểm tra, đánh giá lại các hoạt động đó. Đánh giá hiệu quả quản lý khoản phải thu là một vấn đề then chốt trong các doanh nghiệp. Nó gắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, việc doanh nghiệp phân tích hiệu quả quản lý khoản phải thu sẽ đánh giá được chất lượng trong quản lý, xây dựng chính sách bán hàng, chính sách tín dụng thương mại, uy tín của doanh nghiệp đối với bạn hàng,… từ đó có thể vạch ra những khá năng tiềm tàng để nâng cao hơn nữa kết quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng các khoản phải thu. Đánh giá hiệu quả quản lý khoản phải thu thông qua các chỉ tiêu sau:  Vòng quay khoản phải thu trong kỳ Vòng quay khoản phải thu trong kỳ Tổng doanh thu thuần = Các khoản phải thu bình quân Trong đó các khoản phải thu bình quân là bình quân số học của các khoản phải thu ở đầu kì và cuối kì. Vòng quay các khoản phải thu cho biết trung bình một năm khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng. Chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt. 17  Kỳ thu tiền bình quân Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để thu hồi được các khoản phải thu và hiệu quả càng cao thì chỉ tiêu này càng nhỏ. Số ngày trong kỳ Kỳ thu tiền bình quân = Vòng quay các khoản phải thu  So sánh với khoản phải trả của doanh nghiệp Trên bảng cân đối kế toán, khoản phải trả được gọi là một khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Nó thể hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp phải trả toàn bộ số nợ ngắn hạn này cho chủ nợ khi đến hạn. Khoản phải trả chủ yếu bao gồm hai mục chính là phải trả nhà cung cấp và người mua trả tiền trước. Nhìn vào khoản phải trả, chúng ta có thể nhận thấy doanh nghiệp đang chiếm dụng vốn của đối tác là bao nhiêu? Việc so sánh giữa khoản phải thu và khoản phải trả sẽ cho biết là doanh nghiệp đang chiếm dụng vốn hay bị chiếm dụng vốn, để từ đó các nhà quản trị sẽ có những thay đổi về chính sách bán hàng, nguyên vật liệu, chính sách tín dụng thương mại nhằm phù hợp với điều kiện mới. 1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến quản trị khoản phải thu 1.3.1. Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến công tác quản lý khoản phải thu Các nhân tố khách quan là các nhân tố có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và do đó tác động đến việc sử dụng vốn lưu động như thế nào cho phù hợp để thích nghi với sự biến đổi với môi trường xung quanh. Chúng là những nhân tố mà bản thân doanh nghiệp không thể kiểm soát được. Điều này đòi hỏi bản thân doanh nghiệp phải tự nắm bắt và thích ứng.  Các nhân tố về môi trường kinh tế Môi trường kinh tế là một tập hợp bao gồm nhiều yếu tố có ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập quốc dân, biên độ cung cầu hàng hóa, mức độ cạnh tranh trên thị trường… Môi trường kinh tế thuận lợi tạo điều kiện cho doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực của mình, ngược lại nếu môi trường bất lợi sẽ gây ra những khó khăn cho doanh nghiệp.  Các nhân tố về môi trường tự nhiên Đó là các nhân tố về khí hậu, vị trí địa lí, địa hình… Các nhân tố này có ảnh hưởng lớn đến quyết định chính sách bán hàng của doanh nghiệp. Chúng tác động đến việc doanh nghiệp chọn vị trí, các thức bán hàng phù hợp với yêu cầu của người mua và nhằm khuyến khích người tiêu dùng. 18 Thang Long University Library  Các nhân tố về môi trường văn hóa – xã hội Đây là những nhân tố luôn bao quanh doanh nghiệp và nó có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. + Dân số thể hiện quy mô nhu cầu và tính đa dạng của nhu cầu. Dựa vào quy mô dân số doanh nghiệp có thể dự đoán được dung lượng thị trường có thể đạt đến. + Thu nhập và phân bố thu nhập của người tiêu dùng: thu nhập của dân cư quyết định đến lượng tiền mà người tiêu dùng sẽ sử dụng để mua sản phẩm, dịch vụ; mức độ sử dụng thường xuyên và yêu cầu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ,… + Ngoài ra các nhân tố như: trình độ văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo, xu hướng phân bố dân cư,… ảnh hưởng đến thói quen, tập tính tiêu dùng của các tầng lớp dân cư, từ đó tác động đến nhu cầu và cơ cấu chi tiêu của khách hàng.  Các chính sách vĩ mô của nhà nước Các chủ trương, chính sách về đầu tư của Đảng và nhà nước đối với từng ngành nghề sẽ quyết định tới quy mô đầu tư, phát triển của các doanh nghiệp trong ngành. 1.3.2. Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác quản lý khoản phải thu Nếu như các nhân tố khách quan là các nhân tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát và thay đổi được thì các nhân tố chủ quan là những nhân tố nằm ở chính bản thân của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể kiểm soát và điều chỉnh theo hướng có lợi nhất cho mình. Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp chủ yếu ở việc doanh nghiệp có nắm bắt và kiểm soát được các nhân tố chủ quan hay không. Những nhân tố đó là:  Trình độ nguồn lực Đây là một trong những nguồn vốn quý nhất của doanh nghiệp, có sự ảnh hưởng rất lớn đến sự thành bại trong kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thụ trường của doanh nghiệp. Trình độ và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ công nhân viên sẽ quyết định đến chất lượng của sản phẩm, dịch vụ, nâng suất lao động và từ đó tác động đến hiệu quả quản lý, việc đưa ra các quyết định sản xuất kinh doanh, phương pháp quản lý, mục tiêu và định hướng phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm trên thương trường của họ.  Trình độ khoa học công nghệ Việc áp dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại trong hoạt động sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp giảm thiểu được chi phí, nâng cao được năng suất lao động, chất lượng dịch vụ, từ đó tăng hiệu suất quản lý.  Cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp 19 Khi doanh nghiệp có hệ thống cơ sở hạ tầng (trụ sở làm việc, các trung tâm, chi nhánh, hệ thống đại lý,…) được bố trí hợp lý khoa học sẽ giúp doanh nghiệp quản lý có hiệu quả hơn các khoản phải thu, thu có hiệu quả hơn các khoản nợ của khách hàng. 1.3.3. Các chi phí ảnh hưởng đến ra quyết định trong khoản phải thu Chi phí cơ hội vốn Chi phí cơ hội của vốn là sự mất đi lợi ích từ vốn khi bị khách hàng chiếm dụng. Phần vốn đó sẽ tạo ra cơ hội lớn hơn cho sự sinh lợi nếu ta có được khoản nợ của khách hàng trả trước cho ta. Việc cho khách hàng nợ tiền tạo ra cơ hội tăng doanh số bán nhưng ta lại mất đi cơ hội để có một khoản lợi nhuận khác. Giả sử một nhà đầu tư không còn đầu tư nào khác nên đã đến công ty đầu tư vào kinh doanh thay vì gửi tiền vào ngân hàng. Việc đầu tư vào kinh doanh được kỳ vọng sẽ đem lại một khoản lợi nhuận lớn hơn từ lãi suất ngân hàng. Vì vậy, chúng ta có thể dựa vào lãi suất ngân hàng để xác định chi phí cơ hội vốn của khách hàng như sau: Lãi suất tiền gửi ngân hàng < lãi suất chiết khấu > lãi suất tiền vay Với việc tính toán như trên sẽ cho ta một công thức tính chiết khấu cho khách hàng đảm bảo quyền lợi cho công ty, vừa kích thích hợp lý cho khách hàng thanh toán nhanh các khoản nợ. Chi phí biến đổi Chi phí biến đổi là chi phí thay đổi khi doanh nghiệp thay đổi số lượng bán ra. Ví dụ như một công ty sản xuất nước chanh, càng sản xuất nhiều thì càng phải mất nhiều chi phi để mua chanh và đường, đồng thời phải thuê thêm nhiều công nhân để sản xuất hơn thì tiền lương trả cho công nhân cũng là chi phí biến đổi. Bởi vậy, doanh nghiệp sản xuất càng nhiều thì chi phí biến đổi càng tăng. Khi cấp tín dụng cho khách hàng, doanh nghiệp sẽ tăng doanh số bán ra, cùng với đó chi phí biến đổi cũng tăng lên. Các nhà quản trị cần cân nhắc xem phần doanh thu tăng lên do bán được nhiều sản phẩm, dịch vụ có đủ bù đắp chi phí tăng lên hay không từ đó đưa ra quyết định cấp tín dụng cho khách hàng. TỔNG KẾT CHƢƠNG 1 Trong chương 1, đề tài hệ thống các khái niệm về khoản phải thu và các nội dung công tác quản trị khoản phải thu trong doanh nghiệp, cũng như các nhân tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới quản trị khoản phải thu trong doanh nghiệp. 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -