Tài liệu Khóa luận tốt nghiệp hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty tnhh vận tải và thương mại nguyễn lê

  • Số trang: 54 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 232 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN 1.1. Tổng quan về tài sản ngắn hạn 1.1.1. Khái niệm tài sản ngắn hạn Tài sản là yếu tố không thể thiếu của mọi quá trình SXKD, là nguồn gốc phát sinh doanh thu, chi phí và lợi nhuận. Có nhiều cách thức phân chia tài sản khác nhau nhưng cách thức thường được sử dụng trong nghiên cứu đó là phân chia tài sản dựa vào thời gian luân chuyển tài sản trong doanh nghiệp. Theo đó, tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Tài sản ngắn hạn là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng, luân chuyển và thu hồi vốn dưới một năm hoặc trong 1 chu kỳ kinh doanh. Ngược lại, tài sản dài hạn là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng, luân chuyển và thu hồi vốn trên 1 năm hoặc trong 1 chu kỳ kinh doanh. Đối với doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thì giá trị các loại tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn, thường chiếm từ 25% đến 50% tổng giá trị tài sản của chúng. Vì vậy, việc quản lý và sử dụng hợp lý các loại tài sản ngắn hạn có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành các nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp phải biết rõ số lượng, giá trị mỗi loại tài sản ngắn hạn là bao nhiêu cho hợp lý và đạt hiệu quả sử dụng cao. 1.1.2. Phân loại tài sản ngắn hạn Giá trị tài sản ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp, có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo các hoạt động SXKD của doanh nghiệp diễn ra bình thường, liên tục. Vì vậy việc quản lý tài sản ngắn hạn muốn tiến hành khoa học và hiệu quả đòi hỏi phải nắm được thành phần và kết cấu tài sản ngắn hạn. Tuỳ theo yêu cầu quản lý và tính chất vận động của tài sản ngắn hạn mà có các cách phân loại khác nhau, người ta thường phân loại tài sản ngắn hạn theo 2 cách là theo phạm vi sử dụng và theo khả năng chuyển hóa thành tiền. a. Phân loại theo phạm vi sử dụng Tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh chính: gồm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, vật liệu bao bì đóng gói,… Nguyên vật liệu chính: gồm giá trị của những loại nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất là bộ phận cơ bản cấu thành nên sản phẩm. 1 Vật liệu phụ: là loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì nó chỉ có tác dụng phụ, có thể kết hợp với vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dạng bề ngoài của sản phẩm, tạo điều kiện để chế tạo sản phẩm được thực hiện bình thường, phục vụ nhu cầu công nghiệp, kỹ thuật. Nhiên liệu: là một loại vật liệu phụ nhưng có tác dụng cung cấp nhiệt lượng, tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm diễn ra bình thường. Phụ tùng thay thế: là những loại vật tư sản phẩm dùng để thay thế sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện vật tư công cụ, dụng cụ sản xuất,… Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: là những vật liệu và thiết bị được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản. Công cụ, dụng cụ lao động nhỏ: là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình tiến hành SXKD. Công cụ, dụng cụ lao động sử dụng trong doanh nghiệp được phân thành hai loại. – Công cụ, dụng cụ được phân bổ một lần (phân bổ 100%): đây là loại công cụ, dụng cụ khi xuất kho đem sử dụng, toàn bộ giá trị của chúng được phân bổ hết vào chi phí kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp, có giá trị nhỏ, phát huy tác dụng trong thời gian ngắn, không ảnh hưởng lớn đến tổng chi phí kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh. – Công cụ, dụng cụ được phân bổ nhiều lần: là loại công cụ, dụng cụ có giá trị lớn, thời gian sử dụng tương đối dài và hư hỏng có thể sửa chữa được. Bao bì, vật liệu đóng gói: là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình tiến hành SXKD, luôn đi cùng sản phẩm trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm dở dang: là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất xây dựng hoặc đang nằm trên các địa điểm làm việc đợi chế biến tiếp, chi phí trồng trọt dở dang, chi phí chăn nuôi dở dang, súc vật nhỏ và nuôi béo,… Bán thành phẩm tự chế: cũng là những sản phẩm dở dang nhưng khác ở chỗ nó đã hoàn thành giai đoạn chế biến nhất định. Tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh phụ: được dùng cho công tác sửa chữa. Căn cứ vào đặc điểm kinh tế và kỹ thuật sửa chữa được phân thành 2 loại: Sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn tài sản lưu động. Ngoài ra tài sản ngắn hạn còn sử dụng trong hoạt động SXKD phụ như hoạt động cung cấp dịch vụ, lao vụ. Tài sản ngắn hạn sử dụng trong công tác quản lý doanh nghiệp: bao gồm cả công tác quản lý kinh doanh và công tác quản lý hành chính. Bao gồm có 3 loại: – Vật liệu cho văn phòng, cho phương tiện vận tải – Công cụ, dụng cụ văn phòng phẩm : giấy, bút, mực, bàn ghế,… 2 Thang Long University Library – Khoản tạm ứng : hội nghị, tiếp khách, đào tạo cán bộ,… Tài sản ngắn hạn sử dụng trong công tác phúc lợi: chủ yếu tài sản ngắn hạn dùng để đầu tư cho câu lạc bộ, công trình phúc lợi công cộng của doanh nghiệp, cho công nhân, nhân viên đi thăm quan, nghỉ mát, các hoạt động văn hóa nghệ… b. Phân loại theo khả năng chuyển hóa thành tiền Tiền và các khoản tương đương tiền: Vốn bằng tiền: là một bộ phận của vốn SXKD, được hình thành trong quá trình bán hàng và trong các mối quan hệ thanh toán. Vốn bằng tiền gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi Ngân hàng và tiền đang chuyển. Hoạt động kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tiền nhất định. Tiền là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất, có thể dễ dàng chuyển đổi thành các tài sản khác hoặc thanh toán các nghĩa vụ tài chính cho doanh nghiệp. Nó cho phép doanh nghiệp duy trì khả năng chi trả và phòng tránh rủi ro thanh toán. Các khoản tương đương tiền: gồm các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá ba tháng có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền, không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn (sau khi đã trừ đi dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư ngắn hạn), bao gồm đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn và đầu tư ngắn hạn khác. Các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi vốn dưới một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Các khoản phải thu ngắn hạn: là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh các khoản phải thu khách hàng, khoản trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng và các khoản phải thu khác tại thời điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh. Hàng tồn kho: là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ trị giá hiện có các loại hàng tồn kho dự trữ cho quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Hàng tồn kho bao gồm: – Hàng tồn kho trong khâu dự trữ: bao gồm các vật tư dự trữ. Đây là các nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật đóng gói và công cụ dụng cụ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. – Hàng tồn kho trong khâu sản xuất: bao gồm các sản phẩm dở dang. – Hàng tồn kho trong khâu tiêu thụ: bao gồm thành phẩm. Đây là giá trị những sản phẩm được sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và được nhập kho. Tài sản ngắn hạn khác: phản ánh tổng các khoản chi phí trả trước ngắn hạn, các khoản thuế phải thu và tài sản ngắn hạn khác tại thời điểm báo cáo. 3 1.1.3. Đặc điểm, vai trò của tài sản ngắn hạn a. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn liên tục thay đổi hình thái biểu hiện trong suốt quá trình kinh doanh, chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ và ngược lại. Mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau sẽ có hình thái tài sản ngắn hạn khác nhau. Tài sản ngắn hạn có thời gian luân chuyển ngắn, có tính thanh khoản cao. Tài sản ngắn hạn đáp ứng nhanh chóng sự biến động của doanh số và sản xuất vì các khoản đầu tư vào tài sản ngắn hạn có thể hủy bỏ tại bất cứ thời điểm nào mà không tốn quá nhiều chi phí. Trong quá trình SXKD, các tài sản ngắn hạn luôn chuyển hóa, vận động không ngừng làm quá trình SXKD diễn ra liên tục. b. Vai trò của tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp. Để tiến hành các hoạt động SXKD, ngoài các tài sản dài hạn doanh nghiệp còn bỏ ra lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu…. Như vậy tài sản ngắn hạn là điều kiện đầu tiên để một doanh nghiệp có thể đi vào hoạt động SXKD. Ngoài ra tài sản ngắn hạn là điều kiện vật đảm bảo quá trình kinh doanh được tiến hành bình thường và liên tục. Lượng tài sản ngắn hạn có hợp lý đồng bộ thì mới không làm gián đoạn quá trình sản xuất. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp. Nhu cầu lượng hàng hóa, vật tư dự trữ ở các khâu nhiều hay ít phản ánh nhu cầu vốn lưu động nhiều hay ít. Tài sản ngắn hạn luân chuyển nhanh hay chậm phản ánh số hàng hóa vật tư tiết kiệm hay lãng phí, thời gian luân chuyển và mức độ luân chuyển có hợp lý và đạt yêu cầu hay không. Bởi vậy, thông qua sự vận động của tài sản ngắn hạn có thể đánh giá được tình hình dự trữ, tiêu thụ sản phẩm, tình hình sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp. Khi muốn mở rộng quy mô doanh nghiệp thì cần có thêm lượng vật tư hàng hóa nhất định để dự trữ và đưa vào sản xuất. Đặc biệt vốn bằng tiền còn giúp doanh nghiệp nắm được các cơ hội kinh doanh tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn còn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp thanh toán và duy trì khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, giúp doanh nghiệp tránh khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán và góp phần chặn đứng nguy cơ phá sản của doanh nghiệp. Vì vậy, có thể nói tài sản ngắn hạn góp phần quan trọng, giúp doanh nghiệp hoạt động một cách bình thường và ổn định. 4 Thang Long University Library 1.1.4. Nguồn hình thành tài sản ngắn hạn Trong doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau. Mỗi loại nguồn vốn sẽ có tính chất, đặc điểm, chi phí sử dụng khác nhau. Nguồn vốn của doanh nghiệp có thể chia làm 2 loại là nguồn vốn dài hạn và ngắn hạn. Nguồn vốn ngắn hạn (nguồn vốn tạm thời): là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn, trong vòng một năm, bao gồm các khoản vay ngắn hạn của ngân hàng và các tổ chức tín dụng, khoản nợ ngắn hạn khác trong quá trình kinh doanh như nợ người cung cấp, nợ tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp… Nguồn vốn dài hạn (hay còn gọi là nguồn vốn thường xuyên): là nguồn vốn mang tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng dài hạn (lớn hơn một năm). Do tính chất ổn định nên nguồn vốn này thường sử dụng để hình thành tài sản dài hạn, đồng thời cũng hình thành một bộ phận tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Nguồn vốn dài hạn gồm vốn chủ sở hữu và khoản vay dài hạn tài trợ cho nhu cầu tài sản ngắn hạn. Trong đó, nguồn vốn lưu động thường xuyên: là nguồn vốn dài hạn được sử dụng để tài trợ cho tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Mỗi nguồn vốn có ưu nhược điểm riêng. Nguồn vốn ngắn hạn có thể sử dụng để tài trợ cho tài sản ngắn hạn rất đa dạng. Bên cạnh đó, tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn thực hiện dễ dàng hơn so với nguồn vốn dài hạn vì điều kiện cho vay ngắn hạn ít khắt khe hơn, chi phí sử dụng nguồn vốn ngắn hạn thường thấp hơn so với nguồn vốn dài hạn và tính linh hoạt cao hơn, cho phép doanh nghiệp điều chỉnh cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức độ rủi ro doanh nghiệp phải đối mặt khi sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cũng cao hơn. Ngược lại, nếu tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được hình thành từ nguồn vốn dài hạn sẽ giúp doanh nghiệp giảm được rủi ro kinh doanh và đem lại sự an toàn cao khi sử dụng. Tuy vậy, chi phí sử dụng nguồn vốn dài hạn lại cao hơn so với nguồn vốn ngắn hạn. Tóm lại, các nhà tài chính doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ việc huy động nguồn vốn nào là phù hợp để tài trợ cho tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, nhằm hạn chế tối đa nhược điểm và tận dụng ưu điểm của các nguồn vốn vào hoạt động SXKD của doanh nghiệp. 1.2. Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn Quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Chính sách quản lý tài chính doanh nghiệp được thể hiện như sau: 5 1.2.1. Chính sách quản lý tiền mặt Tiền mặt bao gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền trên tài khoản của ngân hàng. Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền thuế, trả các khoản nợ đến hạn… Tiền mặt là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hóa lượng tiền phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất. Quản lý tiền mặt đề cập đến việc quản lý tiền tại quỹ và tiền gửi ngân hàng. Thông thường, doanh nghiệp xác định lượng tiền mặt cần thiết dựa vào kinh nghiệm. Phương pháp này dựa vào số liệu thống kê của các năm trước để xây dựng kế hoạch tài chính cho từng giai đoạn trong mỗi niên độ SXKD của doanh nghiệp. Thông thường, người ta sử dụng tỷ lệ % doanh số bán trong một giai đoạn để xác định lượng tiền cần thiết. Nếu doanh số bán tăng thì lượng tiền cần thiết tương ứng giảm với một tỷ lệ % doanh số nhất định do giảm chi phí bán hang và chi phí sản xuất. Phương pháp này thường áp dụng trong điều kiện tình hình SXKD tương đối ổn định hoặc mang tính chu kỳ. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn sử dụng 2 mô hình để quản lý tiền mặt là mô hình Baumol và mô hình Miller Orr. Khi muốn phân tích 2 mô hình trên đều cần phải có số liệu liên quan việc mua bán chứng khoán mà Công ty tác giả đang nghiên cứu hiện không tiến hành hoạt động này nên tác giả sẽ không phân tích 2 mô hình trên trong khóa luận của mình. 1.2.2. Chính sách quản lý các khoản phải thu `Các khoản phải thu của doanh nghiệp thường chịu tác động của các nhân tố như số lượng, giá cả hàng hoá, dịch vụ bán ra, sự thay đổi doanh thu theo mùa vụ, chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp… Trong các nhân tố trên thì chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp là quan trọng nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô các khoản phải thu cua doanh nghiệp. Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp có thể sử dụng các chiến lược về sản phẩm, quảng cáo, giá cả, giao hàng và các dịch vụ hậu mãi… để cạnh tranh. Tín dụng thương mại có thể đem đến cho doanh nghiệp nhiều lợi thế nhưng cũng có thể gặp nhiều rủi ro trong kinh doanh. Chính sách tín dụng thương mại có các tác động: – Do thực hiện chính sách bán chịu nên khách hàng mua nhiều hàng hoá hơn, do đó làm tăng doanh thu và giảm chi phí tồn kho. – Tín dụng thương mại làm tăng lượng hàng hoá sản xuất ra, góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản. – Khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có thể làm tăng thêm chi phí đòi nợ, chi phí trả cho nguồn tài trợ để bù đắp cho thiếu hụt ngân quỹ. – Thời hạn cấp tín dụng càng dài thì rủi ro càng cao và lợi nhuận bị giảm đi. 6 Thang Long University Library Với những tác động trên, các nhà quản lý doanh nghiệp cần phải so sánh hiệu quả thu nhập và chi phí tăng thêm để xem có nên áp dụng chính sách thương mại hay không và áp dụng như thế nào là tốt nhất. Đầu tiên, để có thể thực hiện việc cấp tín dụng thì điều quan trọng nhất doanh nghiệp phải làm là phân tích khả năng tín dụng của khách hàng. Khả năng tín dụng của khách hàng được xây dựng thông qua các tiêu chuẩn như: phẩm chất, tư cách tín dụng, năng lực trả nợ, các tài sản có thể thế chấp, nguồn vốn kinh doanh của mỗi khách hàng… Nếu khả năng tín dụng của khách hàng phù hợp yêu cầu thì tín dụng thương mại có thể được cấp. Tiếp theo, doanh nghiệp cần phân tích đánh giá khoản tín dụng được đề nghị. Cũng như rất nhiều sự phân tích và sự lựa chọn khác nhau,việc phân tích đánh giá khoản tín dụng thương mại được đề nghị để quyết định xem có nên cấp hay không, thông thường người ta dựa vào việc tính NPV của luồng tiền. Sau đó doanh nghiệp cần quan tâm việc theo dõi các khoản phải thu. Để quản lý hiệu quả các khoản phải thu, nhà quản lý phải biết cách theo dõi các khoản phải thu, trên cơ sở đó có thể thay đổi chính sách tín dụng thương mại kịp thời. Thông thường người ta dựa vào các cách sau: – Kỳ thu tiền bình quân: Khi kỳ thu tiền bình quân tăng lên mà doanh số bán ra và lợi nhuận không tăng thì cũng có nghĩa là vốn của doanh nghiệp bị ứ đọng ở khâu thanh toán. Khi đó nhà quản lý phải có biện pháp can thiệp ngay. – Sắp xếp thời gian cho các khoản phải thu : Theo phương pháp này, nhà quản lý sắp xếp các khoản phải thu theo độ dài thời gian nợ để theo dõi và có biện phap thu nợ khi đến hạn. – Xác định các khoản phải thu: Theo phương pháp này, các khoản phải thu hoàn toàn không chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi theo mùa vụ của doanh số bán ra. Doanh nghiệp luôn có thể thấy nợ tồn đọng của khách hàng nợ doanh nghiệp. 1.2.3. Chính sách quản lý hàng tồn kho Tại cùng thời điểm khi doanh nghiệp được hưởng những lợi ích từ việc sử dụng hàng tồn kho do đó các chi phí có liên quan cũng phát sinh tương ứng, bao gồm: chi phí tồn chữ, chi phí thiệt hại do kho không có hàng , chi phí đặt hàng. Chi phí tồn trữ: bao gồm tất cả các chi phí lưu giữ hàng trong kho trong một khoảng thời gian xác định. Chi phí tồn trữ được tính bằng đơn vị tiền tệ trên mỗi đơn vị hàng lưu kho hoặc xác định bằng tỷ lệ phần trăm trên giá trị hàng lưu kho trong một chu kỳ. Các chi phí tồn trữ bao gồm: chi phí lưu giữ, chi phí bảo hiểm, chi phí bảo quản, chi phí thuế, chi phí đầu tư vào hàng tồn kho, chi phí hư hỏng hàng tồn kho và chi phí thiệt hại do hàng trong kho bị lỗi thời… 7 Chi phí thiệt hại: phát sinh khi hàng tồn kho hết xảy ra bất cứ khi nào doanh nghiệp không có khả năng giao hàng bởi vì nhu cầu hàng lớn hơn số lượng hàng sẵn có trong kho. Ví dụ, nguyên vật liệu trong kho hết thì chi phí thiệt hại sẽ bao gồm chi phí đặt hàng khẩn cấp và chi phí thiệt hại do doanh nghiệp ngừng sản xuất. Khi sản phẩm dở dang tồn kho bị hết thì doanh nghiệp bị thiệt hại do kế hoạch SXKD bị thay đổi, gây nên thiệt hại do ngưng trệ sản xuất và phát sinh chi phí. Khi thành phẩm, hàng hóa tồn kho hết có thể gây ra hậu quả là lợi nhuận bị mất trong ngắn hạn kho khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp khác gây nên những mất mát tiềm năng trong dài hạn. Chi phí đặt hàng: bao gồm chi phí quản lý giao dịch, chi phí vận chuyển và chi phí giao nhận hàng hóa. Chi phí này được tính bằng đơn vị tiền tệ cho mỗi lần đặt hàng. Chi phí cho mỗi lần đặt hàng thường bao gồm các chi phí cố định và chi phí biến đổi, bởi vì một phần tỷ lệ chi phí đặt hàng thường biến động theo số lượng hàng mua. Mô hình được sử dụng để quản lý hàng tồn kho là mô hình EOQ. Tuy nhiên vì không đủ số liệu nên tác giả không tiến hành phân tích mô hình này trong khóa luận của mình. 1.3. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Trong nền kinh tế thị trường, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Trong nhiều năm trở lại đây, tài sản ngắn hạn ở một số doanh nghiệp được sử dụng còn tùy tiện, kém hiệu quả. Do đó, việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn hiện nay luôn là yêu cầu mang tính cấp thiết đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. 1.3.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Hiệu quả SXKD luôn là vấn đề mà các doanh nghiệp quan tâm, giúp doanh nghiệp có thể tồn tại lâu dài. Để đạt được hiệu quả đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhiều cố gắng và có những chiến lược sách lược hợp lý từ khâu sản xuất cho đến khi sản phẩm được đến tay người tiêu dùng. Mục đích cuối cùng của họ bao giờ cũng là đạt được những mục tiêu họ đề ra. Tuy nhiên để đi đến mục đích cuối cùng thì vấn đề mà các doanh nghiệp đều phải quan tâm chú trọng đến chính là hiệu quả sử dụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất và kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích và tối thiểu hoá chi phí. Với mỗi doanh nghiệp có một sự cân đối về tài sản riêng mỗi loại tài sản cũng phải khác nhau, nếu như các doanh nghiệp về lĩnh vực chế biến hay công nghiệp nặng thì tài sản cố định chiếm một tỷ lệ rất cao trong tổng giá trị tài sản, ngược lại với các 8 Thang Long University Library doanh nghiệp lĩnh vực thương mại thì tài sản ngắn hạn lại chiếm đa số. Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì tài sản ngắn hạn đóng một vai trò hết sức quan trọng, các nhà quản lý luôn phải cân nhắc làm sao sử dụng hiệu quả. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là kết quả đạt được cao nhất với mục tiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra. Nghĩa là phải làm sao có được nhiều lợi nhuận từ việc khai thác và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vào hoạt động SXKD nhằm tối đa hoa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí. 1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều mặt tác động khác nhau. Vì vậy, khi phân tích các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ta cần xem xét trên nhiều nhóm chỉ tiêu khác nhau. a. Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán Đặc điểm của tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao cho nên việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn là sự lựa chọn đánh đổi giữa khả năng sinh lời với tính thanh khoản. Khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây: Hệ số thanh toán hiện hành: cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn từ đó đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Nếu hệ số thanh toán hiện hành giảm thì khả năng thanh toán giảm, đó là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra. Nếu hệ số này cao, điều đó có nghĩa doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ. Tuy nhiên, nếu hệ số này cao quá sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động vì doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn. Công thức 1.1. Hệ số thanh toán hiện hành Hệ số thanh toán nhanh: được tính toán trên cơ sở những tài sản lưu ngắn hạn có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, chúng còn được gọi là tài sản có tính thanh khoản bao gồm tất cả tài sản ngắn hạn trừ hàng tồn kho. Do đó, hệ số thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào hàng tồn kho. Công thức 1.2. Hệ số thanh toán nhanh Hệ số thanh toán tức thời: là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng tiền và các chứng khoán ngắn hạn có thể chuyển đổi 9 nhanh thành tiền mặt. Chỉ tiêu này cho biết khả năng huy động các nguồn vốn bằng tiền để trả nợ vay ngắn hạn trong thời gian gần như tức thời. Công thức 1.3. Hệ số thanh toán tức thời Về các giới hạn này, nhiều nhà kinh tế cho rằng nhìn chung hệ số thanh hiện hành nên ở mức từ 2 đến 4, hệ số toán nhanh nên ở mức từ 1 đến 2 và hệ số thanh toán tức thời nên ở mức 0,5 tới 1 là hợp lý. Tuy nhiên trên thực tế, các hệ số này cao hay thấp còn tùy thuộc vào các yếu tố như là đặc điểm, tính chất kinh doanh, mặt hàng kinh doanh của mỗi ngành kinh doanh, cơ cầu, chất lượng của tài sản ngắn hạn…của mỗi doanh nghiệp. b. Các chỉ tiêu hoạt động Hệ số hoạt động còn gọi là hệ số hiệu quả hoặc hệ số luân chuyển là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp. Để nâng cao hệ số hoạt động, các nhà quản trị phải biết những tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp để sử dụng chúng sao cho có hiệu quả. Do đó, khi phân tích các chỉ tiêu hoạt động thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây: Vòng quay các khoản phải thu: Khoản phải thu là khoản bán chịu mà doanh nghiệp chưa thu tiền do thực hiện chính sách bán chịu và các khoản tạm ứng chưa thanh toán các khoản trả trước cho người bán… Vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét việc khách hàng thanh toán các khoản nợ cho doanh nghiệp. Khi khách hàng thanh toán các khoản nợ đã đến hạn thì lúc đó các khoản phải thu đã quay được một vòng. Công thức 1.4. Vòng quay các khoản phải thu Chu kỳ thu tiền: Chỉ tiêu này cho ta biết tốc độ chuyển đổi nợ phải thu từ khách hàng thành tiền trong quỹ của doanh nghiệp là bao lâu. Chỉ tiêu này càng nhỏ thì tình hình kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại. Công thức 1.5. Chu kỳ thu tiền Vòng quay hàng tồn kho: là tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng hàng tồn kho của doanh nghiệp. Hàng tồn kho bình quân là bình quân số học của vật tư hàng hoá dự trữ đầu và cuối kỳ. Chỉ tiêu này quyết định thời điểm đặt hàng cũng như mức dự trữ an 10 Thang Long University Library toàn cho doanh nghiệp. Vòng quay càng cao thể hiện khả năng sử dụng tài sản lưu động cao. Chỉ tiêu này cao còn phản ánh được lượng vật tư, hàng hóa được đưa vào sử dụng cũng như bán ra nhiều, doanh thu và lợi nhuận cũng tăng lên.Vòng quay hàng tồn kho phụ thuộc vào đặc điểm của ngành nghề và mặt hàng kinh doanh. Công thức 1.6. Vòng quay hàng tồn kho Chu kỳ lưu kho: cho biết số ngày lượng hàng hàng tồn kho được chuyển đổi thành doanh thu. Từ đó cho biết số ngày cần thiết cho việc luân chuyển kho vì hàng tồn kho có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ở khâu dự trữ. Hệ số này chứng tỏ việc quản lý hàng tồn kho càng tốt, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao và ngược lại. Công thức 1.7. Chu kỳ lƣu kho Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn: cho thấy mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần. Chỉ tiêu càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao. Tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ là bình quân số học của tài sản ngắn hạn có ở đầu kỳ và cuối kỳ. Công thức 1.8. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn: cho biết số ngày thực hiện một vòng quay tài sản ngắn hạn, chỉ tiêu này thấp là tốt, nếu cao chứng tỏ tài sản ngắn hạn bị ứ đọng hoặc vốn bị chiếm dụng, từ đó khả năng sinh lời của tài sản ngắn hạn thấp. Công thức 1.9. Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn c. Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời Hệ số sinh lời của tài sản ngắn hạn: là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của tài sản ngắn hạn. Nó cho biết mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế. Tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ là bình quân số học của tài sản ngắn hạn có ở đầu và cuối kỳ. Chỉ tiêu này cao phản ánh lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp cao, các doanh nghiệp đều mong muốn chỉ số này càng cao càng tốt vì như vậy đã sử dụng được hết giá trị của tài sản ngắn hạn. Hiệu quả của việc sử dụng 11 tài sản ngắn hạn thể hiện ở lợi nhuận, đây chính là kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp đạt được. Kết quả này phản ánh hiệu quả hoạt động SXKD nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng. Ngược lại, nếu tài sản ngắn hạn sử dụng bình quân trong kỳ thấp mà lợi nhuận sau thuế cao thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cao. Công thức 1.10. Hệ số sinh lời của tài sản ngắn hạn 1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Muốn đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng chúng. Về cơ bản, ta có hai nhóm nhân tố ảnh hưởng là nhóm nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. a. Nhân tố chủ quan Nhân tố chủ quan thứ nhất là mục đích SXKD của doanh nghiệp. Với mục đích SXKD của mình, doanh nghiệp sẽ quyết định trong việc phân phối tài sản, đặc biệt là chu kỳ SXKD. Sản phẩm của mỗi doanh nghiệp là khác nhau do vậy mà có những doanh nghiệp chu kỳ sản xuất dài nhưng doanh nghiệp khác chu kỳ sản xuất lại ngắn, điều đó có ảnh hưởng đến việc ra quyết định của doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn. Để đi vào sản xuất thì lượng tài sản ngắn hạn cần đưa vào là bao nhiêu, mức dự trữ dành cho các chu kỳ tiếp theo như thế nào, lượng tiền mặt doanh nghiệp cần giữ cũng như kỳ thu tiền dài hay ngắn tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ SXKD dài thì thời gian thu hồi vốn càng lâu, nên các doanh nghiệp luôn tìm cách làm cho chu kỳ kinh doanh ngắn hơn như vậy vòng quay tài sản ngắn hạn nhanh hơn. Vòng quay tài sản ngắn hạn tăng tức là việc tiêu thụ hàng hóa cũng tăng lên và như vậy doanh thu tăng lên, làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng. Điều đó thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tăng. Thứ hai là cơ sở vật chất của doanh nghiệp. Đây là nhân tố hết sức quan trọng, bởi ngoài việc nguyên vật liệu tốt thì để có được những sản phẩm tốt thì điều quan trọng là doanh nghiệp phải có những thiết bị máy móc tốt. Một doanh nghiệp có được những trang thiết bị tốt sẽ làm cho các khâu sản xuất trở nên dễ dàng hơn. Cùng chất lượng nguyên vật liệu nhưng nếu doanh nghiệp nào trang bị tốt, máy móc đưa vào dây truyền sản xuất những thiết bị công nghệ cao sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng, đồng thời làm cho các công đoạn của quá trình sản xuất diễn ra nhanh chóng hơn, ngược lại với máy móc không tốt sẽ không tận dụng được hết giá trị của nguyên vật liệu thậm chí còn sản xuất ra những sản phẩm kém chất lượng, như vậy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn không cao. 12 Thang Long University Library Thứ ba là trình độ cán bộ công nhân viên. Để việc sử dụng tài sản ngắn hạn đạt hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những cán bộ quản lý giỏi, công nhân viên có trình độ tay nghề cao. Người quản lý phải nắm bắt rõ tình hình hoạt động của doanh nghiệp, sau mỗi chu kỳ hoạt động phải phân tích để đánh giá xem hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ra sao, từ đó đưa ra các kế hoạch trong những chu kỳ tiếp theo. Trong quá trình sản xuất để tận dụng hết nguyên vật liệu thì người công nhân phải có chuyên môn giỏi, đặc biệt việc sử dụng máy móc thiết bị hết sức quan trọng, máy móc thiết bị ngày càng hiện đại đòi hỏi đội ngũ sử dụng những loại máy móc thiết bị đó cũng phải được đào tạo có chuyên môn, có kỹ thuật. b. Nhân tố khách quan Nhân tố đầu tiên được nhắc tới là sự quản lý của Nhà nước. Trong nền kinh tế tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, mỗi loại hình doanh nghiệp mang đặc thù riêng nó, Nhà nước có trách nhiệm quản lý các doanh nghiệp đó để nó đi vào hoạt động theo khuôn khổ mà Nhà nước quy định. Tất cả các hoạt động SXKD của doanh nghiệp đều phải tuân theo pháp luật mà Nhà nước đưa ra, từ khi bắt đầu thành lập đến khi hoạt động và ngay cả giải thể hay phá sản doanh nghiệp đều phải tuân theo chế độ hiện hành. Đảng và Nhà nước ban hành các luật lệ, chính sách nhằm mục đích tránh sự gian lận, đảm bảo sự công bằng và an toàn trong xã hội. Sự thắt chặt hay lới lỏng chính sách quản lý kinh tế đều có ảnh hưởng nhất định đến doanh nghiệp. Nhân tố thứ hai là sự phát triển của thị trường. Ngày nay thị trường nhân tố sản xuất đầu vào, thị trường dịch vụ hàng phát triển rất nhanh đặc biệt là thị trường tài chính tiền tệ có tác động rất lớn đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Các yếu tố đầu vào của một dự án hay một quá trình sản xuất phần lớn được mua hoặc thuê trên thị trường. Thị trường các yếu tố đầu vào đa dạng, phong phú doanh nghiệp sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn. Thị trường các yếu tố đầu vào cạnh tranh sẽ làm giảm giá các yếu tố đầu vào và làm giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp và ngược lại. Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp đều thông qua thị trường tài chính. Thị trường tài chính là thị trường quan trọng nhất trong hệ thống kinh tế, chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hàng hóa. Thị trường tài chính phát triển góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Tất cả các hoạt động huy động vốn nhằm các mục đích thành lập doanh nghiệp, mở rộng quy mô hoặc phát triển SXKD đều giao dịch trên thị trường tài chính. Thị trường tài chính phát triển thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung. Thứ ba, ta phải quan tâm tới sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Để tồn tại được thì các doanh nghiệp luôn có sự cạnh tranh lẫn nhau. Cùng là các doanh nghiệp sản xuất ra một loại sản phẩm nhưng doanh nghiệp nào có sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp thì sẽ thu hút được nhiều người mua. Như vậy vấn đề của các doanh 13 nghiệp là thu hút được khách hàng và tất nhiên phần thắng sẽ thuộc về kẻ mạnh. Hiện nay các doanh nghiệp luôn hướng tới việc trọng cầu, việc đưa ra các phương thức về giá cả, mẫu mã, chất lượng đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng luôn là vấn đề mà mọi doanh nghiệp phải quan tâm. Cuối cùng, doanh nghiệp phải cân nhắc nhu cầu của khách hàng. Nhu cầu khách hàng là nhân tố ảnh hưởng lớn tới việc ra quyết định của doanh nghiệp trong việc sản xuất ra loại sản phẩm gì, chất lượng ra sao, mẫu mã như thế nào. Nhu cầu của con người ngày càng cao, để đáp ứng nhu cầu đó thì doanh nghiệp luôn phải tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm. Những doanh nghiệp mà đội ngũ nhân viên khéo léo, tận tình cộng với công tác xúc tiến thương mại quảng bá sản phẩm của mình để thâm nhập vào thị trường mới sẽ giúp doanh nghiệp bán được nhiều sản phẩm làm doanh thu của doanh nghiệp tăng nhanh. Trên đây là các nhân tố chính tác động tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nhưng bên cạnh đó doanh nghiệp cần quan tâm tới các nhân tố khác như: các vấn đề về tỷ giá, lạm phát, thiên tai, dịch bệnh… cũng ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp. 14 Thang Long University Library KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Phía trên là toàn bộ các cơ sở lý luận chung về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp mà tác giả sử dụng trong khóa luận. Để có thể hiểu rõ hơn về thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty TNHH Vận tải và Thương mại Nguyến Lê, chúng ta chuyển sang chương thứ 2: “Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty TNHH Vận tải và Thƣơng mại Nguyến Lê”. 15 CHƢƠNG 2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY TNHH VẬN TẢI VÀ THƢƠNG MẠI NGUYỄN LÊ 2.1. Tổng quát về Công ty TNHH Vận tải và Thƣơng mại Nguyễn Lê 2.1.1. Quá trình hình thành phát triển và cơ cấu tổ chức Công ty TNHH Vận tải và Thương mại Nguyễn Lê chính thức được thành lập và đi vào hoạt động vào ngày 01/07/2005. Công ty hoạt động dưới hình thức công ty TNHH với số vốn điều lệ là 310.000.000 đồng, được thành lập bởi 2 thành viên là ông Lê Bá Doanh với số vốn góp 300.000.000 đồng (chiếm 96.8% vốn) và ông Lê Bá Điểm với số vốn 10.000.000 đồng (chiếm 3.2% vốn). Công ty hiện kinh doanh trong lĩnh vực Vận tải và Thương mại, cung cấp dịch vụ vận tải hàng hóa và hành khách cho các doanh nghiệp. Trong đó, An toàn - Uy tín Chất lượng là tiêu chí để Công ty tạo dựng uy tín cho bản thân trong mắt khách hàng của mình. Hiện nay, Công ty đang không ngừng cải thiện chất lượng dịch vụ để có thể phục vụ khách hàng tốt hơn, thích ứng với sự cạnh tranh từ thị trường trong và ngoài nước. “Công ty hy vọng rất nhiều vào bạn” - khách hàng của Công ty là người cùng đến và cùng đi với Công ty trên những chặng đường dài phía trước. Công ty TNHH Vận tải và Thương mại Nguyễn Lê được tổ chức theo cơ cấu của Công ty TNHH có hai thành viên trở lên, bao gồm có Hội đồng thành viên, ban giám đốc và các phòng ban trong Công ty. Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Vận tải và Thƣơng mại Nguyễn Lê Hội đồng thành viên Giám đốc Phòng kinh doanh Phòng kế toán Phòng nhân sự Phòng kỹ thuật (Nguồn: Phòng nhân sự) Hội đồng thành viên: là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty, có các quyền và nhiệm vụ là quyết định phương hướng phát triển Công ty, tăng hoặc giảm vốn điều 16 Thang Long University Library lệ, quyết định thời điểm và phương thức huy động thêm vốn, miễn nhiệm, bãi nhiệm, mức lương, lợi ích của Giám đốc, kế toán trưởng và cán bộ quản lý quan trọng… Giám đốc: là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của Công ty, lương và phụ cấp của người lao động, tuyển dụng lao động, thực hiện các quyết định của Hội đồng thành viên, thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư. Giám đốc là người có quyền bổ nhiệm, cách chức quản lý tại phòng ban trong Công ty. Phòng kinh doanh: là nơi Công ty tiến hành tìm kiếm các đối tác trên thị trường. Họ có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc trong việc định hướng, tổ chức phương án kinh doanh, đảm bảo chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Đây là nơi soạn thảo các hợp đồng kinh tế, theo dõi tiến độ và thực hiện đúng các hợp đồng kinh doanh đã kí kết, phối hợp với phòng kế toán trong việc thu tiền, thanh toán tiền mua hàng hóa của Công ty. Phòng kế toán: có nhiệm vụ thực hiện công việc nghiệp vụ kế toán, thu thập xử lý thông tin liên quan đến nghiệp vụ kinh tế tài chính. Hằng năm, phòng kế toán thực hiện ghi chép, tính toán, phản ánh tình hình lưu chuyển và sử dụng tài sản, nguồn vốn, quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty. Phòng nhân sự: có nhiệm vụ quản lý, theo dõi sự biến động nhân sự của Công ty và các đoàn thể. Đây là nơi tuyển dụng, bố trí sắp xếp nhân sự trong Công ty. Họ sắp xếp các khóa đào tạo cho nhân viên, đánh giá lương, hình thức trả lương cho người lao động và tổ chức công tác thi đua khen thưởng, kỷ luật, giải quyết những vấn đề chính sách cho người lao động. Phòng kỹ thuật: là nơi thực hiện việc quản lý các vấn đề liên quan tới máy móc, thiết bị, phương tiện của Công ty. Phòng kỹ thuật hằng năm sẽ kiểm tra việc vận hành, bảo trì máy móc, thiết bị, phương tiện. Từ đó, họ phải xây dựng chỉ tiêu, khảo sát, định mức tiêu hao nhiên liệu hoạt động vận tải, lên kế hoạch sử dụng, bảo dưỡng phù hợp. 2.1.2. Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Quá trình SXKD của Công ty TNHH Vận tải và Thương mại Nguyễn Lê được thực hiện qua sơ đồ bao gồm bảy bước sau đây: Sơ đồ 2.2. Hoạt động sản xuất kinh doanh chung của Công ty Tiếp nhận đơn hàng Xem xét yêu cầu, khả năng đáp ứng Trả chứng từ, giải quyết công việc liên quan. Chuẩn bị trước giao hàng Nhận hàng tại kho và vận chuyển Giao hàng, kiểm tra chứng từ về Thông tin cho khách hàng (Nguồn: Phòng kinh doanh) 17 Tiếp nhận đơn hàng: Phòng kinh doanh tiến hành nhận đơn đặt hàng qua email sau đó thì kiểm tra lại và báo giá cho khách hàng để xác nhận vào đơn đặt hàng đã lập. Xem xét yêu cầu khả năng đáp ứng: Phòng kinh doanh cùng phòng kỹ thuật căn cứ vào yêu cầu giao nhận, khả năng đáp ứng của Công ty và lên kế hoạch giao hàng. Chuẩn bị trước giao hàng: Phòng kỹ thuật kiểm tra máy móc rồi chọn phương tiện vận tải phù hợp. Đồng thời họ phải quan tâm tới điều kiện bảo quản hàng hóa, thông báo lại tình trạng cho phòng kinh doanh biết để có biện pháp xử lý kịp thời. Nhận hàng tại kho và vận chuyển: Bộ phận giao hàng chuyển hóa đơn đã kiểm tra đầy đủ thủ tục cho thủ kho để xuất hàng. Sau đó, Công ty sẽ tiếp nhận hàng hóa và vận chuyển tới cho người nhận theo đúng thời gian và địa điểm trên hợp đồng. Thông tin cho khách hàng: Sau khi xếp hàng lên phương tiện vận chuyển, phòng kinh doanh thông báo lại khách hàng chuẩn bị việc tiếp nhận hàng hóa. Giao hàng cho người nhận, kiểm tra chứng từ về: Công ty giao hàng cho người nhận. Người nhận gửi chứng từ liên quan cho người giao hàng, kiểm tra hàng rồi thông báo cho phòng kinh doanh để xác định nguyên nhân, số lượng hàng hóa thiếu hụt, hư hao trong quá trình vận chuyển. Sau dó, phòng kinh doanh sẽ báo lại cho phòng kế toán về việc đền bù cho khách hàng để xác định số tiền đền bù cụ thể. Trả chứng từ, giải quyết công việc liên quan: Người giao hàng có trách nhiệm mang trả đầy đủ chứng từ về cho phòng kế toán của Công ty. Cuối cùng, phòng kế toán thông báo việc nhận tiền hàng, đền bù cho khách hàng sau vận chuyển, báo cho phòng kinh doanh để kết thúc đơn hàng. 2.1.3. Tổng quát về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh Giai đoạn 2011 - 2013, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phục hồi sau ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Suy thoái kinh tế tác động lên mọi thành phần trên mọi lĩnh vực, các doanh nghiệp ít hay nhiều đều bị ảnh hưởng, khách hàng cũng không phải ngoại lệ, việc thanh toán hàng trở nên khó khăn, ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Việc chậm trễ trong việc thanh toán tiền hàng gây ảnh hưởng không tốt tới hiệu quả hoạt động SXKD, nhất là hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của các doanh nghiệp nói chung và Công ty nói riêng. Bên cạnh đó, thị trường ngành Vận tải và Thương mại Việt Nam có rất nhiều đối tượng tham gia, trong đó có những doanh nghiệp trong và ngoài nước. Sự đa dạng về nhà cung cấp cũng như loại dịch vụ Vận tải giúp người tiêu dùng có nhiều lựa chọn nhưng cũng gia tăng áp lực đối với những doanh nghiệp trong ngành nói trong việc thu hút khách hàng để tăng doanh số bán. Trước những biến động và bất ổn của nền kinh tế, lợi nhuận của Công ty thời gian qua kém hơn những năm trước rất nhiều. 18 Thang Long University Library Bảng 2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2011 - 2013 Đơn vị tính: Triệu đồng Chỉ tiêu 1.Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 2. Các khoản giảm trừ doanh thu 3. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ 4. Giá vốn bán hàng 5. Lợi nhuận gộp bán hàng và cung cấp dịch vụ 6. Doanh thu hoạt động tài chính 7. Chi phí tài chính Trong đó: Chi phí lãi vay 8. Chi phí quản lý kinh doanh 9. Lợi nhuận thuần về hoạt động kinh doanh 10. Thu nhập khác 11. Chi phí khác 12. Lợi nhuận khác 13. Tổng lợi nhuận kế toán trƣớc thuế 14. Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp 15. Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp Năm 2011 Năm 2012 5.482,85 - 4.774,82 - 4.881,05 - Chênh lệch 2012/2011 Số tiền % (708,03) (12,91) - 5.482,85 4.774,82 4.881,05 (708,03) 4.607,84 875,02 1,91 108,00 78,00 684,56 84,37 84,37 21,09 63,27 4.056,01 718,81 5,38 85,25 55,25 603,64 35,51 35,31 8,84 26,47 4.011,58 869,48 4,32 78,75 48,75 746,98 48,07 48,07 10,58 37,49 (551,83) (11,98) (44,43) (1,10) (156,21) (17,85) 150,66 20,96 3,47 182,06 (1,06) (19,68) (22,75) (21,06) (6,50) (7,62) (22,75) (29,17) (6,50) (11,76) (80,92) (11,82) 143,34 23,75 (48,86) (57,91) 12,56 35,39 (49,06) (58,15) 12,76 36,15 (12,25) (58,10) 1,75 19,76 (36,80) (58,17) 11,02 41,63 (Nguồn: BCKQKD và tính toán của tác giả) 19 Năm 2013 (12,91) Chênh lệch 2013/ 2012 Số tiền % 106,24 2,22 106,24 2,22 Nhu cầu tiêu thụ giảm, sức mua thị trường yếu hơn, khách hàng khó khăn trong thanh toán khiến cho tình hình SXKD của Công ty cũng kém hơn trước từ đó làm cho việc quản lý, sử dụng tài sản ngắn hạn chưa đạt hiệu quả cao. Để có thể hiểu rõ hơn, chúng ta cần xem xét kết quả kinh doanh mà Công ty đã đạt được trong những năm gần đây: a. Về doanh thu Doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ: chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của Công ty. Trong đó, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ chiếm tỷ trọng là 100% vì không có khoản giảm trừ doanh thu phát sinh trong 3 năm này. Triệu đồng 6,000.00 5,500.00 5,000.00 4,500.00 4,000.00 3,500.00 3,000.00 2,500.00 2,000.00 1,500.00 1,000.00 500.00 0.00 5,482.85 2011 4,774.82 4,881.05 2012 2013 Đồ thị 2.1. Xu hƣớng biến động của doanh thu thuần năm 2011 – 2013 Nhìn chung, doanh thu thuần có xu hướng giảm, đặc biệt giảm mạnh vào năm 2012. Cụ thể, năm 2012, doanh thu thuần là 4.774,82 triệu, giảm 708,03 triệu so với năm 2011, ứng với 12,91%. Tuy nhiên, doanh thu thuần năm 2013 tăng 2,22% so với năm 2012, tương ứng 106,24 triệu. Trong giai đoạn 2011 - 2013, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế trước đó khiến cho khách hàng thắt chặt chi tiêu là nguyên nhân chính dẫn tới nhu cầu của họ với dịch vụ vận tải giảm, khiến cho doanh thu thuần giảm mạnh vào năm 2012. Tới năm 2013, nhu cầu vận tải bắt đầu tăng lên nhưng vẫn chưa thể phục hồi hoàn toàn tới doanh thu năm 2011. Doanh thu hoạt động tài chính: Doanh thu hoạt động tài chính của Công ty chủ yếu đến từ lãi tiền gửi. Việc Công ty ký kết các hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn, tận dụng tiền nhàn rỗi vào những khoảng thời gian nhất định đã làm doanh thu từ hoạt động tài chính năm 2012 tăng 3,47 triệu, tương ứng 182,06 % so với 2011. Đến năm 2013, 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -