Tài liệu Khóa luận tốt nghiệp hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại công ty tnhh tháng tư

  • Số trang: 63 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 202 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39869 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Những vấn đề cơ bản về tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1.1.1. Tổng quan doanh nghiệp Theo luật doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Theo bản chất kinh tế của chủ sở hữu, bộ môn Kinh tế vi mô chia các tổ chức doanh nghiệp ra làm 3 loại hình chính dựa trên hình thức và giới hạn trách nhiệm của chủ sở hữu:  Doanh nghiệp tư nhân (Proprietorship).  Doanh nghiệp hợp danh (Partnership).  Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn (Corporation). 1.1.2. Tổng quan về tài sản ngắn hạn 1.1.2.1. Khái niệm tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn thường được luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh, bao gồm tài sản bằng tiền, các chứng khoán có tính thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ tồn kho. Như vậy tài sản ngắn ngắn hạn được định nghĩa như sau: tài sản ngắn hạn là biểu hiện bằng tiền giá trị những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mà trên thời gian sử dụng thu hồi luân chuyển thường là một năm hoặc là một chu kỳ kinh doanh. (Giáo trình “Tài chính doanh nghiệp”, tác giả PGS.TS Lưu Thị Hương - PGS.TS Vũ Duy Hào, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2005). 1.1.2.2. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Đặc điểm của tài sản ngắn hạn là vận động không ngừng, luôn thay đổi hình thái biểu hiện qua các khâu của quá trình kinh doanh và giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị hàng hoá khi kết thúc một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tốc độ chu chuyển của tài sản ngắn hạn, tức là thời gian để tài sản ngắn hạn từ giai đoạn khởi đầu qua các giai đoạn khác nhau, đến giai đoạn cuối rồi trở lại với hình thái ban đầu, phản ánh từ tình hình sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Trong thực tế sản xuất kinh doanh, sự vận động của tài sản ngắn hạn không phải diễn ra một cách tuần tự mà các giai đoạn vận động được đan xen vào nhau. Vì vậy, tại một thời điểm nhất định, tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp đồng thời tồn tại dưới cả hai hình thái hiện vật và giá trị. Trong doanh nghiệp thương mại tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản và giữ vai trò quan trọng 1 Thang Long University Library trong việc đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không bị gián đoạn. Tài sản ngắn hạn (TSNH) là loại tài sản dễ dàng chuyển đổi và việc chuyển đổi các loại tài sản này hầu như không tốn chi phí. Với tiền mặt là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất, chứng khoán thì có thể dễ dàng chuyển thành tiền mặt với chi phí thấp và việc giữ chứng khoán đem lại tiền lãi, hàng tồn kho và các khoản phải thu có tính thanh khoản thấp hơn nhưng vẫn dễ dàng hơn nhiều so với tài sản dài dạn. Việc thay đổi quy mô, khối lượng của tài sản ngắn hạn là dễ dàng, nó làm thay đổi trong doanh thu chi phí của doanh nghiệp, như việc bán được hàng tồn kho có thể giúp doanh nghiệp gia tăng doanh số một cách nhanh chóng, hoặc tăng thu từ các khoản phải thu cũng ảnh hưởng đáng kể tới doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp. Ngoài ra TSNH còn phụ thuộc nhiều vào xu hướng mùa vụ và chu kì kinh doanh, Thông thường vào giai đoạn tăng trưởng của chu kì kinh doanh, doanh nghiệp đạt mức TSNH tối đa. 1.1.2.3. Sự cần thiết của tài sản ngắn hạn Mỗi doanh nghiệp khi tiến hành các hoạt động kinh doanh đều cần thiết phải có hai loại tài sản là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. TSNH là cần thiết, việc nắm giữ TSNH càng nhiều nguy cơ mất khả năng thanh khoản càng thấp nghĩa là rủi ro kinh doanh càng thấp. Tuy nhiên, nắm giữ tài sản ngắn hạn là có chi phí, do đó có sức ép trong việc duy trì vốn lưu động ở mức cần thiết tối thiểu sao cho hoạt động sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. Tài sản nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng, là điều kiện không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp để tiến hành sản xuất kinh doanh. Để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng cần qua nhiều công đoạn khác nhau, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường cần phải có đủ vốn đầu tư vào các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất kinh doanh. Nếu như TSNH không đáp ứng được nhu cầu sản xuất, sản xuất đình trệ có thể dẫn đến làm ăn thua lỗ và nguy cơ phá sản. Tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp chủ yếu là lượng tiền ứng trước nhằm thỏa mãn nhu cầu về các đối tượng lao động, nó là điều kiện vật chất không thể thiếu của quá trình sản xuất kinh doanh. TSNH tồn tại ở tất cả các khâu từ thanh toán, sản xuất, tiêu thụ, dự trữ nên nó đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục. Tiền mặt là tài sản sinh lời. Do đó, mục đích của quản lý tiền mặt là giảm thiểu lượng tiền mặt doanh nghiệp phải nắm giữ mà vẫn đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh. 2 Khoản tiền phải thu từ khách hàng là số tiền mà khách hàng hiện tại vẫn còn chiếm dụng của doanh nghiệp. Việc chiếm dụng vốn này thoạt nhìn không mấy quan trọng, vì theo logic thông thường, khách hàng nợ rồi sẽ phải trả cho doanh nghiệp, không trả lúc này thì trả lúc khác, cuối cùng thì tiền vẫn thuộc về doanh nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng nếu khách hàng chiếm dụng ngày càng cao, trong khi đó do yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp cần tăng lượng hàng sản xuất, điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng mua nguyên vật liệu, kéo theo yêu cầu phải có lượng tiền nhiều hơn, trong khi thời điểm đó lượng tiền của doanh nghiệp không đủ và đáng ra nếu khách hàng thanh toán những khoản nợ với doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ có đủ số tiền cần thiết để mua đủ số lượng nguyên vật liệu theo yêu cầu. Do đó, trong trường hợp này, doanh nghiệp phải đi vay ngân hàng để bổ sung vào lượng tiền hiện có hoặc chỉ sản xuất với số lượng tương ứng với số lượng nguyên vật liệu được mua vào từ số tiền hiện có của doanh nghiệp, điều này đương nhiên sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài tền mặt và phải thu khách hàng, hàng tồn kho cũng là đối tượng rất quạn trọng trong TSNH của doanh nghiệp. Hàng tồn kho là cầu nối giữa sản xuất và tiêu thụ. Người bán hàng nào cũng muốn nâng cao mức tồn kho để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng; nhân viên phụ trách sản xuất và tác nghiệp cũng thích có một lượng tồn kho lớn vì nhờ đó mà họ lập kế hoạch sản xuất dễ dàng hơn. Tuy nhiên, đối với bộ phận tài vụ thì bao giờ cũng muốn hàng tồn kho được giữ ở mức thấp nhất, bởi vì tiền nằm ở hàng tồn kho sẽ không chi tiêu vào mục khác được. Do đó, kiểm tra tồn kho là việc làm không thể thiếu được, qua đó doanh nghiệp có thể giữ lượng tồn kho ở mức “vừa đủ”. Có nghĩa là không “quá nhiều” mà cũng đừng “quá ít”. Bởi vì khi mức tồn kho quá nhiều sẽ dẫn đến chi phí tăng cao; đối với một số hàng hoá nếu dự trữ quá lâu sẽ bị hư hỏng, hao hụt, giảm chất lượng… Điều này sẽ gây khó khăn trong việc cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường. Ngược lại, lượng tồn kho không đủ sẽ làm giảm doanh số bán hàng (đối với hàng tồn kho là thành phẩm), ngoài ra có thể dẫn đến tình trạng khách hàng sẽ chuyển sang mua hàng của đối thủ cạnh tranh khi nhu cầu của họ không được đáp ứng. 1.1.2.4 Phân loại tài sản ngắn hạn Sử dụng tài sản ngắn hạn hiệu quả cần phân loại tài sản ngắn hạn theo những tiêu thức khác nhau. Sau đây ta đi xem xét một số tiêu thức thường được sử dụng : Căn cứ vào phạm vi sử dụng a. Tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh chính 3 Thang Long University Library  Đối với doanh nghiệp sản xuất thì tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh chính chủ yếu là nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, vật liệu bao bì đóng gói,…  Nguyên vật liệu chính : gồm giá trị của những loại nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất là bộ phận cơ bản cấu thành nên sản phẩm  Vật liệu phụ : là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì nó chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất chế tạo, có thể kết hợp với vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dạng bề ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm được thực hiện bình thường hoặc phục vụ cho nhu cầu công nghiệp, kỹ thuật phục vụ cho quá trình lao động  Nhiên liệu : Thực chất là một loại vật liệu phụ nhưng có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm diễn ra bình thường  Phụ tùng thay thế : là những loại vật tư sản phẩm dùng để thay thế sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện vật tư công cụ, dụng cụ sản xuất,…  Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản là những vật liệu và thiết bị được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản  Công cụ, dụng cụ lao động nhỏ là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh, chúng không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định vì giá trị nhỏ và thời gian sử dụng tương đối ngắn. Công cụ, dụng cụ lao động sử dụng trong doanh nghiệp được phân thành hai loại : + Công cụ, dụng cụ được phân bổ một lần ( phân bổ 100%) : đây là loại công cụ, dụng cụ khi xuất kho đem sử dụng, toàn bộ giá trị của chúng được phân bổ hết +  vào chi phí kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Loại công cụ này được áp dụng với các loại công cụ, dụng cụ có giá trị nhỏ, phát huy tác dụng trong thời gian ngắn, chúng không ảnh hưởng lớn đến tổng chi phí kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh Công cụ, dụng cụ được phân bổ nhiều lần: Là loại công cụ, dụng cụ lao động có giá trị lớn, thời gian sử dụng tương đối dài và hư hỏng có thể sửa chữa được Bao bì, vật liệu đóng gói là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh, nó luôn đi cùng sản phẩm của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm 4  Sản phẩm dở dang : Là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất xây dựng hoặc đang nằm trên các địa điểm làm việc đợi chế biến tiếp, chi phí trồng trọt dở dang, chi phí chăn nuôi dở dang, súc vật nhỏ và nuôi béo,…  Bán thành phẩm tự chế: Cũng là những sản phẩm dở dang nhưng khác ở chỗ nó đã hoàn thành giai đoạn chế biến nhất định b. Tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh phụ Để linh hoạt trong sử dụng tài sản trên thực tế hiện nay người ta dùng tài sản ngắn hạn để chi cho công tác sửa chữa. Căn cứ vào đặc điểm kinh tế và kỹ thuật sửa chữa được phân thành hai loại : Sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn tài sản lưu động Ngoài ra tài sản ngắn hạn còn sử dụng trong hoạt động kinh doanh phụ như : hoạt động cung cấp dịch vụ, lao vụ, … c. Tài sản ngắn hạn sử dụng trong công tác quản lý doanh nghiệp Công tác quản lý doanh nghiệp bao gồm cả quản lý kinh doanh và quản lý hành chính.Tài sản ngắn hạn được sử dụng bao gồm  Vật liệu cho văn phòng, cho phương tiện vận tải  Công cụ, dụng cụ văn phòng phẩm : Giấy, bút, mực, bàn ghế,…  Khoản tạm ứng : hội nghị, tiếp khách, đào tạo cán bộ,… d. Tài sản ngắn hạn sử dụng trong công tác phúc lợi Công tác phúc lợi, chủ yếu tài sản ngắn hạn dùng để đầu tư cho câu lạc bộ, công trình phúc lợi công cộng của doanh nghiệp, cho công nhân, nhân viên đi thăm quan, nghỉ mát, các hoạt động văn hóa nghệ,… Căn cứ theo tính thanh khoản a.Tiền và các khoản tương đương tiền: Là bộ phận tài sản ngắn hạn tồn tại dưới hình thái tiền tệ bao gồm :  Tiền mặt tại qũy: Là số tiền mà doanh nghiệp đang giữ tại quỹ của mình bao gồm tiền Việt Nam, ngân phiếu, các loại chứng từ, tín phiếu có giá trị như tiền, vàng bạc, kim khí quí, đá quí đang được giữ tại quỹ,…  Tiền gửi ngân hàng : Là số tiền hiện có trên tài khoản tiền gửi ngân hàng của doanh nghiệp tại ngân hàng, kho bạc Nhà nước, công ty tài chính (nếu có). Bao gồm : tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý,..  Tiền đang chuyển : Là số tiền mà doanh nghiệp đã nộp vào ngân hàng hay đã gửi qua đường bưu điện, đang làm thủ tục trích chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi của 5 Thang Long University Library doanh nghiệp sang tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp khác mà doanh nghiệp chưa nhận được giấy báo có của ngân hàng b. Đầu tư tài chính ngắn hạn: Là các khoản đầu tư của doanh nghiệp ra bên ngoài được thực hiện dưới hình thức cho vay, cho thuê, góp vốn liên doanh, mua bán chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu,…) có thời gian sử dụng, thu hồi vốn không quá một năm. Đây là hoản vừa có khả năng thanh khoản cao, vừa có khả năng sinh lời. Khi có nhu cầu thanh toán mà tiền không đáp ứng đủ thì sẽ bán các chứng khoán này. c. Các khoản phải thu ( tín dụng thương mại)  Là một loại tài sản rất quan trọng đối với doanh nghiệp, toàn bộ các khoản mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thu từ các đối tượng khác : Phải thu thu từ khách hàng, phải thu nội bộ, các khoản thế chấp, cầm cố, ký quỹ, ký cược,…  Trong các doanh nghiệp, việc mua bán chịu là thường xuyên xảy ra, đôi khi để thực hiện các điều khoản trong hợp đồng kinh tế doanh nghiệp phải trả trước một khoản nào đó, từ đây nó hình thành nên các khoản thu của doanh nghiệp. Khi các khách trả nợ của doanh nghiệp gặp thất bại, rủi ro trong kinh doanh là nguyên nhân làm phát sinh các khoản nợ khó đòi. Vì vậy, việc tính lập các khoản dự phòng là cần thiết, nó sẽ đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường và tương đối ổn định. Khoản chi dự phòng này là một bộ phận trong khoản phải thu và là một phần tài sản lưu động của doanh nghiệp d. Các khoản ứng trước: bao gồm các khoản tiền mà doanh nghiệp đã trả trước cho người bán, nhà cung cấp hoặc các doanh nghiệp khác. e. Hàng tồn kho  Hàng tồn kho ở doanh nghiệp phải là những tài sản hữu hình thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp được sử dụng vào sản xuất kinh doanh hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ, hàng hoá để gửi bán hoặc gửi đi bán trong kỳ kinh doanh. ở doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho thường bao gồm : nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, công cụ lao động, vật liệu bao bì đóng gói, thành phẩm, sản phẩm dở dang,…  Nguyên liệu, vật liệu chính gồm : giá trị những loại nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất là bộ phận cơ bản cấu thành nên sản phẩm  Vật liệu phụ : là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì nó không chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất chế tạo, nó làm tăng chất lượng của nguyên vật liệu chính của sản phẩm tạo ra. 6  Thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc qua quá trình chế biến do các bộ phận sản xuất chính và phụ của doanh nghiệp sản xuất hoặc thuê ngoài gia công đã xong, được kiểm nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật và nhập kho để bán.  Sản phẩm dở dang : là những sản phẩm đang nằm trong dây chuyền sản xuất chưa hoàn thành, chưa bàn giao mà phải gia công chế biến tiếp mới trở thành sản phẩm.  Công cụ, dụng cụ lao động : là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh, chúng không đủ tiêu chuẩn là tài sản lưu động vì giá trị nhỏ và thời gian sử dụng tương đối ngắn.  Bao bì, vật liệu đóng gói : là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, nó luôn đi cùng với sản phẩm của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất và tiêu thụ. g. Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm các khoản tạm ứng, chi phí trả trước và các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn,…  Các khoản tạm ứng : là các khoản tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp giao cho người nhận tạm ứng để thực hiện hoạt động kinh doanh nào đó hoặc giải quyết một công việc đã được phê duyệt.  Chi phí trả trước : là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng đến kết quả hoạt động của nhiều kỳ thanh toán, cho nên chưa thể tính vào chi phí sản xuất kinh doanh một kỳ mà được tính cho hai hay nhiều kỳ hạch toán Qua cách phân loại như trên ta thấy được tình hình tài sản ngắn hạn hiện có của doanh nghiệp về hình thái vật chất cũng như đặc điểm của từng loại tài sản ngắn hạn, để có thể đánh giá việc sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có hợp lý và hiệu quả không, từ đó phải tăng cường các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. 1.2. Nội dung quản lý tài sản ngắn hạn 1.2.1. Quản lý tiền mặt và các chứng khoán có tính thanh khoản cao Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ở ngân hàng. Tiền mặt bản thân nó là tài sản không sinh lãi, tuy vậy việc giữ tiền mặt trong kinh doanh rất quan trọng xuất phát từ những lý do sau: Đảm bảo giao dịch hàng ngày, bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trường hợp biến động không lường trước của các luồng tiền vào ra, hưởng lợi thế trong thương lượng mua hàng. 7 Thang Long University Library Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc gửi tiền mặt là cần thiết nhưng việc giữ đủ tiền mặt cũng cần thiết không kém do những lí do sau: khi mua hàng hoá, nếu có đủ tiền mặt công ty có thể tận dụng được lợi thế chiết khấu; duy trì tốt khả năng thanh toán; đáp ứng nhu cầu trong các trường hợp khẩn cấp Quản lý tiền mặt gồm quản lý tiền giấy và tiền gửi ngân hàng. Sự quản lý này liên quan chặt chẽ đến việc quản lý các loại tài sản gắn liền với tiền mặt như các loại chứng khoán khả năng thanh khoản cao, nhằm duy trì tiền mặt ở mức dộ mong muốn. Sơ đồ 1.1. Luân chuyển tiền và các chứng khoán có tính thanh khoản cao Các chứng khoán thanh khoản cao Đầu tư tạm thời bằng cách mua chứng khoán có tính thanh khoản cao Dòng thu tiền mặt Bán những chứng khoán thanh khoán cao để bổ sung cho tiền mặt Tiền mặt Dòng chi tiền mặt Nguồn : Tự tổng hợp Nhìn sơ đồ trên ta thấy một cái nhìn tổng quát về tiền mặt, nó cũng là một loại tài sản nhưng là một loại tài sản đặc biệt - tài sản có tính lỏng cao nhất. Bất kì chứng khoán có tính thanh khoản cao nào đều có thể chuyển đổi thành tiền mặt và ngược lại. Sự chuyển đổi qua lại này nhằm thuận tiện cho việc đầu tư kinh doanh trong doanh nghiệp. Về lập kế hoạch ngân quỹ, để xác định được lượng tiền dự trữ doanh nghiệp phải xây dựng được bảng dự toán thu, chi tiên tệ, bảng này bao gồm 3 phần: Phần thu: Bao gồm các khoản tiền dự kiến thu được trong kỳ như tiền bán hàng, cung ứng dịch vụ, tiền thu hồi nợ, tiền nhượng bán tài sản... Phần chi: Bao gồm các khoản dự kiến chi trong kỳ như mua nguyên vật liệu, hàng hóa, chi trả tiền lương, tiêng thưởng, nộp bảo hiểm, nộp thuế vào Ngân sách Nhà Nước. Phần số dư đầu kỳ, số dư cuối kỳ. Trong kinh doanh, doanh nghiệp phải lưu giữ tiền mặt cần thiết cho việc thanh toán các hoá đơn. Do vậy, khi tiền mặt xuống thấp doanh nghiệp sẽ phải bổ sung tiền mặt bằng cách bán các chứng khoán thanh khoản cao. Chi phí cho việc lưu giữ tiền 8 mặt ở đây chính là chi phí cơ hội, là lãi suất mà doanh nghiệp bị mất đi. Chi phí đặt hàng chính là chi phí cho việc bán các chứng khoán. Khi đó áp dụng mô hình Baumol ta có lượng dự trữ tiền mặt tối ưu M* là: 2 xM n xC b i M* = Trong đó: M*: tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm Mn: tiền mặt thanh toán hàng năm Cb: chi phí cố định một lần bán chứng khoán thanh khoản i : chi phí cơ hội tài sản bằng tiền trong năm ( lãi suất) Từ công thức trên cho thấy nếu lãi suất cao thì doanh nghiệp càng giữ ít tiền mặt và ngược lại, nếu chi phí cho việc bán chứng khoán càng cao thì họ lại càng giữ nhiều tiền mặt. Mô hình số dư tiền mặt không thực tiễn ở chỗ giả định rằng doanh nghiệp chi trả tiền mặt một cách ổn định, điều này không luôn luôn đúng trong thực tế do hiếm khi lượng tiền vào ra của doanh nghiệp lại dự kiến trước được. Bằng việc nghiên cứu và phân tích thực tiễn, các nhà kinh tế học đã đưa ra mô hình quản lý tiền mặt để mức tiền dự trữ luôn dao động trong một khoảng. Theo mô hình này, doanh nghiệp sẽ xác định mức giới hạn trên và giới hạn dưới của tiền mặt, đó là các khoản mà doanh nghiệp bắt đầu tiến hành nghiệp vụ mua hoặc bán chứng khoán có tính thanh khoản cao để đưa mức tiền mặt về dự kiến. Khoảng dao động tiền mặt dự kiến phụ thuộc vào 3 yếu tố sau: mức dao động của thu chi ngân quỹ hàng ngày lớn hay nhỏ; chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán; lãi suất càng cao các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít tiền và do vậy khoảng dao động tiền mặt sẽ giảm xuống. Khoảng dao động: 3 d=3x 3 C b xVb x 4 i Trong đó: d: khoảng dao động tiền mặt (khoảng cách giữa giới hạn trên và giới hạn dưới của lượng tiền mặt dự trữ). Cb: chi phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán thanh khoản 9 Thang Long University Library Vb: phương sai của thu chi ngân quỹ i: chi phí cơ hội tài sản bằng tiền trong năm ( lãi suất) Mức tiền mặt thiết kế được xác định như sau: Mức tiền mặt theo thiết kế = Mức tiền mặt giới hạn dưới + Khoảng dao động tiền mặt 3 Thực tiễn hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cho thấy, trong các doanh nghiệp lớn, luồng tiền vào ra của doanh nghiệp hàng ngày là rất nhiều, nên chi phí cho việc mua bán chứng khoán sẽ trở nên quá nhỏ so với cơ hội phí mất đi do lưu giữ một lượng tiền mặt nhàn rỗi do vậy hoạt động mua bán chứng khoán nên diễn ra hàng ngày ở các doanh nghiệp này. 1.2.2. Quản lý các khoản phải thu Trong nền kinh tế thị trường, để thắng lợi trong cạnh tranh các doanh nghiệp có thể áp dụng các chiến lược về sản phẩm, về quảng cáo, về giá cả, các dịch vụ sau khi bán hàng… trong đó chính sách tín dụng thương mại là một công cụ hữu hiệu và không thể thiếu đối với các doanh nghiệp tín dụng thương mại. Chính sách này giúp cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và trở nên giàu có, nhưng cũng có thể đem đến những rủi ro cho hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp cần phải đưa ra những phân tích về khả năng tín dụng của khách hàng từ đó quyết định có nên cấp tín dụng thương mại cho đối tượng khách hàng đó hay không. Đây là nội dung chính của quản lý các khoản phải thu. Để thực hiện được việc cấp tín dụng cho khách hàng thì điều đầu tiên doanh nghiệp phải phân tích được năng lực tín dụng của khách hàng. Phân tích năng lực tín dụng của khách hàng: Công việc bao gồm : Thứ nhất, phải xây dựng một chính sách tín dụng hợp lí; Thứ hai, xác minh phẩm chất tín dụng của khách hàng tiềm năng. Nếu khả năng tín dụng của khách hàng phù hợp với những chính sách tín dụng tối thiểu thì tín dụng thương mại có thể được cấp. Nếu tiêu chuẩn tín dụng quá cao sẽ loại bỏ nhiều khách hàng tiềm năng và sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, còn ngược lại với tiêu chuẩn quá thấp có thể làm tăng doanh thu nhưng đi kèm theo đó là những khoản tín dụng có rủi ro cao và chi phí tiền cũng cao. Khi phân tích khả năng tín dụng của khách hàng, chúng ta thường sử dụng các tiêu chuẩn sau: Phẩm chất tư cách tín dụng: Tiêu chuẩn này nói lên tinh thần trách nhiệm của khách hàng trong việc trả nợ, trên cơ sở việc thanh toán các khoản nợ trước đây của khách hàng đối với doanh nghiệp và đối với doanh nghiệp khác. 10 Năng lực trả nợ: dựa vào các chỉ tiêu về khả năng thanh toán nhanh, bảng dự trữ ngân quỹ của doanh nghiệp… Vốn của khách hàng: đánh giá tiềm năng tài chính dài hạn của khách hàng. Thế chấp: xem xét các tài sản riêng mà khách hàng sử dụng để đảm bảo các khoản nợ. Điều kiện kinh tế: đánh giá khả năng phát triển của khách hàng trong tương lai. Các tài liệu được sử dụng để phân tích khách hàng là bảng cân đối kế toán, bảng kế hoạch ngân quỹ, phỏng vấn trực tiếp, xuống tận nơi để kiểm tra xem xét hay tìm hiểu qua các khách hàng khác. Sau khi phân tích năng lực tín dụng của khách hàng, doanh nghiệp tiến hành việc phân tích đánh giá khoản tín dụng thương mại được đề nghị. Phân tích khoản tín dụng Việc đánh giá dựa vào việc tính NPV của luồng tiền: NPV  -P.Q  V.Q'-Q   C.P'.Q'  1 - r .P'.Q' 1 R Trong đó: NPV: Giá hiện tại ròng của việc chuyển từ chính sách bán trả ngay sang chính sách bán chịu Q, P: Sản lượng hàng bán được trong một tháng và giá bán đơn vị nếu khách hàng trả tiền ngay Q’, P’: Sản lượng và giá bán đơn vị nếu bán chịu C : Chi phí cho việc đòi nợ và tài trợ bù đắp cho khoản phải thu V : Chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm R : Doanh lợi yêu cầu thu được hàng tháng r : Tỉ lệ phần trăm của hàng bán chịu không thu được tiền Nếu NPV > 0 chứng tỏ việc bán hàng chịu mang lại hiệu quả cao hơn việc thanh toán ngay, có lợi cho doanh nghiệp. Do đó khoản tín dụng được chấp nhận. Theo dõi các khoản phải thu Đây là một nội dung quan trọng trong quản lí các khoản phải thu. Thực hiện tốt công việc này sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể kịp thời thay đổi các chính sách tín dụng thương mại phù hợp với tình hình thực tế. Thông thường để theo dõi các khoản phải thu ta dùng các chỉ tiêu, phương pháp, mô hình sau: 11 Thang Long University Library Kì thu tiền bình quân, sắp xếp “tuổi ” của các khoản phải thu theo độ dài thời gian. Qua đó, các nhà quản lí doanh nghiệp có thể theo dõi và có biện pháp thu hồi nợ khi đến hạn. Xác định số dư khoản phải thu: Bằng phương pháp này doanh nghiệp có thể thấy được nợ tồn đọng của khách hàng nợ doanh nghiệp. Cùng với các biện pháp theo dõi và quản lí khác doanh nghiệp có thể thấy được ảnh hưởng của chính sách tín dụng thương mại và có những điều chỉnh kịp thời, hợp lí phù hợp với từng đối tuợng khách hàng, từng khoản mục cụ thể. 1.2.3. Quản lý hàng tồn kho Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hoá dự trữ là những bước đệm cho quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Hàng tồn kho có 3 loại chính: nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất, sản phẩm dở dang và thành phẩm. Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải dự trữ nguyên vật liệu. Nếu doanh nghiệp dự trữ quá lớn sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn còn dự trữ quá ít sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn. Do vậy, việc dự trữ nguyên vật liệu có ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất kinh doanh. Hàng tồn kho trong quá trình sản xuất là các nguyên vật liệu nằm ở các công đoạn của dây chuyền sản xuất. Nếu dây chuyền sản xuất càng dài và càng nhiều công đoạn sản xuất thì hàng tồn kho trong quá trình sản xuất sẽ càng lớn. Đây là những bước đệm nhỏ để quá trình sản xuất được liên tục. Khi tiến hành sản xuất xong, do có độ trễ nhất định giữa sản xuất và tiêu thụ, do những chính sách thị trường của doanh nghiệp trong việc bán hàng… đã hình thành nên bộ phận thành phẩm tồn kho. Hàng hoá dự trữ đối với các doanh nghiệp gồm 3 bộ phận như trên, nhưng thông thường trong quá trình quản lý chúng ta tập trung vào bộ phận thứ nhất, tức là nguyên vật liệu dự trữ cho sản xuất kinh doanh. Nội dung quản lý hàng tồn kho bao gồm hai vấn đề sau: Thứ nhất là xác định quy mô hàng tồn tối ưu, thứ hai là xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng tồn kho. Có nhiều phương pháp được đưa ra nhằm xác định mức dự trữ tối ưu. Quản lý dự trữ theo phương pháp cổ điển hay mô hình đặt hàng hiệu quả nhất EOQ (Economic Odering Quantity). 12 Mô hình được dựa trên giả định là tốc độ tiêu thụ hàng hóa diễn ra tương đối đều đặn, tổng nhu cầu lượng hàng tiêu thụ trong năm là một đại lượng có thể xác định trước và các yếu tố chi phí liên quan đến hàng tồn kho là tương đối ổn định Các yếu tố chi phí liên quan đến hàng tồn kho: chi phí lưu ho và chi phí đặt hàng. Theo mô hình này, mức dự trữ tối ưu là: Q* = 2 xDxC2 C1 Trong đó: Q*: mức dự trữ tối ưu D : toàn bộ lượng hàng hoá cần sử dụng C2 : chi phí mỗi lần đặt hàng (chi phí quản lý giao dịch và vận chuyển hàng hoá). C1 : chi phí lưu kho đơn vị hàng hoá (chi phí bốc xếp, bảo hiểm, bảo quản…). Xác định số lần đặt hàng tối ưu trong năm: L* = D/Q* Trong đó: L*: số lần đặt hàng tối ưu trong năm D: tổng lượng hàng cần sử dụng trong năm Q*: lượng nhập hàng tối ưu mỗi lần Khoảng cách giữa 2 lần đặt hàng tối ưu trong năm: N* = N/L* Trong đó: N*: khoảng cách giữa 2 lần đặt hàng N: số ngày trong năm Điểm đặt hàng mới Về mặt lý thuyết người ta giả định khi nào lượng hàng kỳ trước hết mới nhập kho lượng hàng mới nhưng trên thực tế hầu như không bao giờ như vậy. Nhưng nếu doanh nghiệp đặt hàng quá sớm sẽ làm tăng lượng nguyên liệu tồn kho. Do vậy các doanh nghiệp cần phải xác định thời điểm đặt hàng mới. Thời điểm đặt hàng mới = Số lượng nguyên liệu sử dụng mỗi ngày X Độ dài thời gian giao hàng 13 Thang Long University Library Lượng dự trữ an toàn Nguyên vật liệu sử dụng mỗi ngày không phải là số cố định mà chúng biến động không ngừng. Do đó để đảm bảo cho sự ổn định của sản xuất, doanh nghiệp cần phải duy trì một lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn. Lượng dự trữ an toàn tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp. Lượng dự trữ an toàn là lượng hàng hoá dự trữ thêm vào lượng dự trữ tại thời điểm đặt hàng. Ngoài phương pháp quản lý dự trữ theo mô hình đặt hàng hiệu quả nhất (EOQ) một số doanh nghiệp còn sử dụng phương pháp sau: Phương pháp cung cấp đúng lúc hay dự trữ bằng 0 Về mặt lý thuyết các doanh nghiệp áp dụng theo phương pháp này có số tồn kho bằng 0. Vật tư, nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, hàng hóa đã được đặt trước, đúng lúc cần thiết đơn vị cung cấp mới đưa hàng đến và sau hi sản xuất xong thành phẩm, hàng hóa sẽ được trở đi ngay. Sử dụng phương pháp này sẽ giảm tới mức thấp nhất chi phí cho dự trữ, tuy nhiên đây chỉ là phương pháp quản lý được áp dụng trong một số loại dự trữ nào đó của doanh nghiệp và phải ết hợp với các phương pháp quản lý khác. Theo phương pháp này các doanh nghiệp trong một số ngành nghề có liên quan chặt chẽ với nhau hình thành nên những mối quan hệ. Khi có một đơn đặt hàng nào đó họ sẽ tiến hành huy động những loại hàng hoá và sản phẩm dở dang của các đơn vị khác mà họ không cần phải dự trữ. Tuy vậy, sử dụng phương pháp này tạo ra sự ràng buộc các doanh nghiệp với nhau, khiến các doanh nghiệp đôi khi mất sự chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh. 1.3. Hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1.3.1. Khái niệm hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn Một doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh muốn biết là hoạt động có hiệu quả hay không cần tính toán một số các chỉ tiêu, yếu tố của các bộ phận khác nhau. Hiệu quả của sử dụng tài sản ngắn hạn là một phần trong đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mang lại kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. 1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Trong mỗi doanh nghiệp bộ phận tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Do vậy nếu sử dụng tài sản lưu động có hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng tự chủ, linh hoạt về tài chính, giảm rủi ro kinh doanh, tạo cho doanh nghiệp khả năng thanh khoản cần thiết. 14 Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ đó sẽ nâng cao vị thế, uy tín của doanh nghiệp lên cao.  Tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn Trong tài chính, tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn là một chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn nhanh hay chậm nói lên tình hình tổ chức các mặt: mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp có hợp lý hay không, các khoản vật tư dự trữ sử dụng tốt hay không, các khoản phí tổn trong quá trình sản xuất kinh doanh là cao hay thấp. Thông qua phân tích chỉ tiêu tốc độ luân chuẩn tài sản ngắn hạn có thể giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh được tốc độ luân chuyển, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động. + Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ (1) Vòng quay TSNH = Tổng mức luân chuyển TSNH trong kỳ TSNHBQkỳ Trong đó: Trong năm tổng mức luân chuyển tài sản ngắn hạn được xác định bằng doanh thu thuần của doanh nghiệp. TSNHBQkỳ : Tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ được tính như sau: TSNHBQkỳ = TSNHđầu kỳ + TSNHcuối kỳ 2 Tài sản ngắn hạn bình quân năm TSNHđầu tháng 1/2+ TSNHđầu tháng 2+…+TSNHđầu tháng 12 +TSNHcuối tháng 12/2 TSNHBQnăm = 12 Để đơn giản trong tính toán ta sử dụng công thức tính TSLĐBQ gần đúng: TSNHđầu năm +TSNHcuối năm TSNHBQnăm = 2 Ta có: Vòng quay TSNHnăm = Doanh thu thuần TSNHBQ năm 15 Thang Long University Library Đây là chỉ tiêu nói lên số lần quay (vòng quay) của tài sản ngắn hạn trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm), chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trên mối quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất (tổng doanh thu thuần) và số tài sản ngắn hạn bình quân bỏ ra trong kỳ. Số vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ càng cao thì càng tốt. + Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn (2)Thời gian luân chuyển TSNH = TSNHBQkỳ x Thời gian của kỳ phân tích Tổng mức luân chuyển TSNH trong kỳ hay Thời gian luân chuyển TSNH = Thời gian của kỳ phân tích Vòng quay TSNH trong kỳ Trong đó: Thời gian của kỳ phân tích được ước tính một năm là 360 ngày, một quý là 90 ngày và một tháng là 30 ngày. Chỉ tiêu này nói lên độ dài bình quân của một lần luân chuyển của tài sản ngắn hạn hay số ngày bình quân cần thiết để tài sản ngắn hạn thực hiện một vòng quay trong kỳ. Ngược với chỉ tiêu số vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ, thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn càng ngắn chứng tỏ tài sản ngắn hạn càng được sử dụng có hiệu quả. + Hệ số đảm nhiệm tài sản ngắn hạn TSNHBQkỳ (3)Hệ số đảm nhiệm TSNH = Doanh thu thuần Hệ số này cho biết để thu được mỗi đơn vị doanh thu, doanh nghiệp phải sử dụng bao nhiêu đơn vị TSNH. Hệ số này càng thấp, thì hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp càng cao. Thông qua chỉ tiêu này, các nhà quản trị kinh doanh xây dựng kế hoạch về đầu tư TSNH một cách hợp lí góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh. + Hệ số sinh lời tài sản ngắn hạn Lợi nhuận sau thuế (4)Hệ số sinh lời của TSNH = TSNHBQ Hệ số này cho biết mỗi đơn vị TSNH có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế. Hệ số sinh lợi của TSNH càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng tốt.  Vòng quay tiền mặt và khả năng thanh toán 16 Vòng quay tiền mặt là một chỉ số quản trị ít được áp dụng như một chỉ số đo lường hiệu suất (KPI – “Key Performance Indicator”) cho các nhà quản trị trong doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là đối với các Giám Đốc Tài Chính (CFO). Vòng quay tiền mặt là thời gian để doanh nghiệp chuyển hóa các nguyên vật liệu sản xuất thành tiền mặt, đây cũng chính là khoảng thời gian doanh nghiệp cần sử dụng vốn lưu động. (1)Vòng quay tiền = số ngày khoản + số ngày hàng - số ngày khoản mặt phải thu(KPT) = 365 Vòng quay KPT tồn kho(HTK) = 365 vòng quay HTK phải trả(KPTrả) = 365 vong quay KPTrả = Tổng doanh số nua hàng Phải trả trung bình + Chỉ số tiền mặt Chỉ số này cho biết bao nhiêu tiền mặt và chứng khoán khả mại của doanh nghiệp để đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn. Nói cách khác nó cho biết, cứ một đồng nợ ngắn hạn thì có bao nhiêu tiền mặt và chứng khoán khả mại đảm bảo chi trả? (2)Chỉ số tiền mặt = tiền mặt + chứng khoán khả mại nợ ngắn hạn + Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp. (3) Hệ số khả năng thanh toán tổng quát Tổng tài sản = Nợ phải trả Tỷ số này cho biết với tổng số tài sản hiện có, doanh nghiệp có thể trang trải được các khoản nợ hay không. Theo lý thuyết, “Hệ số khả năng thanh toán tổng quát” của doanh nghiệp mà lớn hơn hoặc bằng 1 thì doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh toán đối với các khoản nợ. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này mà bé hơn 1 thì doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán đối với các khoản nợ. Trị số của chỉ tiêu càng lớn hơn 1 thì doanh nghiệp càng đảm bảo khả năng thanh toán đối với các khoản nợ. Thực tế mặc dù lượng tài sản có thể đủ hoặc thừa để trả nợ nhưng khi đến hạn trả, nếu không đủ tiền và tương đương tiền, rất ít khi doanh nghiệp bán các tài sản để 17 Thang Long University Library trả nợ. Do đó, chỉ tiêu này cần phải lớn hơn hoặc bằng 2 thì khả năng thanh toán các khoản nợ mới đảm bảo. + Khả năng thanh toán ngắn hạn (4)Khả năng thanh toán ngắn hạn = TSNH Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết khả năng chuyển đổi thành tiền của các tài sản ngắn hạn hiện có của doanh nghiệp có đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại. + Khả năng thanh toán nhanh (5)Khả năng thanh toán nhanh = TSNH - HTK Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp đối với các khoản nợ ngắn hạn. Chỉ tiêu này cao chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiệp dồi dào. Tuy nhiên chỉ tiêu này cao quá kéo dài có thể dẫn tới vốn bằng tiền của doanh nghiệp nhàn rỗi, ứ đọng, dẫn đén hiệu quả sử dụng vốn thấp. Ngược lại, chỉ tiêu này thấp quá kéo dài ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp và có thể dẫn tới doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản. + Khả năng thanh toán tức thời (6)Khả năng thanh toán tức thời = Tiền Nợ đến hạn Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ đến hạn bằng tiền hoặc các khoản tương đương tiền khi nợ ngắn hạn đã đến kỳ thanh toán.  Kì thu tiền bình quân (1)Kỳ thu tiền bình quân = Tổng số ngày trong 1 kỳ (360 ngày) Vòng quay phải thu trong kỳ Trong đó: (2)Vòng quay khoản phải thu trong kỳ = (3)Các khoản phải thu bình quân = Doanh thu thuần Các khoản phải thu bình quân Các khoản phải thuđầu kỳ + Các khoản phải thucuối kỳ 2 18 Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu, chỉ tiêu càng nhỏ chứng tỏ tốc độ thanh toán tiền hàng càng nhanh. Khả năng tài chính của doanh nghiệp dồi dào.  Tốc độ luân chuyển của hàng tồn kho Trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì hàng tồn kho thường chiếm tỉ trọng cao trong tổng tài sản ngắn hạn, do vậy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn bị ảnh hưởng đáng kể của hiệu quả sử dụng hàng tồn kho. Khi phân tích hiệu quả của hàng tồn kho, ta sử dụng các chỉ tiêu sau: (1) Số vòng quay của hàng tồn kho Số vòng quay HTK = Giá vốn hàng bán HTK bình quân Chỉ tiêu này cho biết, trong kì phân tích hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ vốn đầu tư hàng tồn kho vận động không ngừng đó là nhân tố để tăng doanh thu, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. (2) Hệ số đảm nhiệm hàng tồn kho Hệ số đảm nhiệm HTK = HTK bình quân Tổng doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư cho hàng tồn kho, chỉ tiêu này càng thấp thì chứng tỏ hiệu quả vốn đầu tư sử dụng cho hàng tồn kho càng cao. Thông qua chỉ tiêu này các nhà quản trị kinh doanh xây dựng kế hoạch về dự trữ, thu mua, sử dụng hàng hoá, thành phẩm một cách hợp lí góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh. (3) Thời gian một vòng quay của hàng tồn kho Thời gian của kỳ phân tích Thời gian một vòng quay của HTK = Số vòng quay của hàng tồn kho Chỉ tiêu này cho biết một vòng quay của hàng tồn kho mất bao nhiêu ngày, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hàng tồn kho vận động nhanh. Tăng tốc độ luân chuyển hàng tòn kho là rút ngắn thời gian hàng tồn kho nằm trong các khâu sản xuất kinh doanh. Đồng thời là điều kiện quan trọng để phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 1.4. Các nhân tố ảnh hƣởng tới hiệu quả sử dựng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp luôn vận động chuyển hoá không ngừng và tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Trong quá trình vận động đó, tài sản ngắn hạn 19 Thang Long University Library chịu tác động bởi nhiều nhân tố làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. 1.4.1. Các nhân tố khách quan Đây là các nhân tố có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và việc sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng. Nhóm các nhân tố khách quan là những nhân tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được.  Chính sách quản lí vĩ mô của Nhà nước Chính sách vĩ mô của Nhà nước có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế nói chung, từng ngành kinh tế nói riêng và từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Những chính sách đó có thể tác động đến nguồn tài trợ cho tài sản ngắn hạn, ví dụ như nguồn vốn vay ngân hàng, tăng hay giảm phụ thuộc vào lãi suất cho vay của các ngân hàng. Nhà nước có thể ra những chính sách ảnh hưởng đến việc mua sắm các nguyên liệu đầu vào, hay đến việc dự trữ hàng hoá… như chính sách về xuất nhập khẩu nguyên vật liệu. Doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kĩ các chính sách của Nhà nước để có chính sách hoạt động cho phù hợp.  Môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong bất kì lĩnh vực nào đều có đối thủ cạnh tranh. Khi nền kinh tế phát triển, có sự mở rộng về các loại hình doanh nghiệp cũng như lĩnh vực hoạt động, thì yếu tố cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng tăng lên. Doanh nghiệp phải quan tâm nhiều hơn đến tính cạnh tranh khi lập kế hoạch mua nguyên vật liệu, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng nguyên vật liệu và dự trữ chỗ thừa, chỗ thiếu, ách tắc trong khâu lưu thông. Khi cạnh tranh ra tăng, việc đưa ra các biện pháp nhằm đẩy nhanh lượng hàng tiêu thụ khiến doanh nghiệp nới lỏng trong chính sách tín dụng làm cho việc quản lí các khoản phải thu khó khăn. Sự phát triển hay suy thoái của đối thủ cạnh tranh sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp.  Nhu cầu của thị trường Hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá cho nên nhu cầu đối với mọi mặt hàng đều rất lớn. Vì vậy các doanh nghiệp thi nhau mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình ra khắp cả nước. Khi đó, TSNH cũng chịu sự ảnh hưởng, doanh nghiệp dự trữ nhiều hơn, các khoản phải thu có xu hướng giảm do có nhiều nguời tiêu dùng. Nhu cầu của người tiêu dùng về các sản phẩm dịch vụ thay đổi theo thời gian, vùng lãnh thổ, văn hoá…Sản phẩm cũng có chu kì sống của nó. Sản phẩm đang trong chu kì tăng trưỏng, nhu cầu tăng mạnh đòi hỏi phải dự trữ nhiều hơn 20
- Xem thêm -