Tài liệu Khóa luận tốt nghiệp giải pháp tăng cường hiệu quả quản trị tài sản tại công ty tnhh mtv thương mại và nhân lực quốc tế hoàng anh ka long

  • Số trang: 69 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 52 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39841 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN VÀ QUẢN TRỊ TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Tài sản của doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm tài sản Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có ba yếu tố cơ bản: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Ba yếu tố này trong bất cứ thời đại nào hay tại bất cứ quốc gia nào cũng không thể thiếu trong quá trình sản xuất. Các tư liệu lao động cùng với các đối tượng lao động chính là Tài sản của các doanh nghiệp. Theo chuẩn mực Kế toán quốc tế: Tài sản là nguồn lực doanh nghiệp kiểm soát, là kết quả của những hoạt động trong quá khứ, mà từ đó, một số lợi ích kinh tế trong tương lai có thể dự kiến trước một cách hợp lý. Theo chuẩn mực Kế toán Việt Nam: Tài sản là nguồn lực mà doanh nghiệp kiểm soát được và dự định đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp. 1.1.2. Đặc trưng của tài sản Để quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản đòi hỏi doanh nghiệp phải nhận thức đúng đắn các đặc trưng của tài sản. Sau đây là những đặc trưng chủ yếu của tài sản: Một là, tài sản là đại diện của một lượng vốn nhất định: Giá trị của các tài sản trong doanh nghiệp như nhà xưởng, đất đai, máy móc thiết bị... biểu hiện cho lượng vốn doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình kinh doanh. Hai là, tài sản có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: Tài sản không chỉ bao gồm những thứ có thể dùng giác quan nhận biết được hoặc dùng đơn vị cân đo đong đếm được như: tiền, máy móc thiết bị, nhà xưởng,..., mà còn là những thứ không thể dùng giác quan để thấy được và không thể dùng đại lượng để tính như: thương hiệu, nhãn hiệu, bằng sáng chế.... Nắm bắt được đặc trưng này, doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn trong quản lý việc đầu tư vào tài sản. Ba là, tài sản phải gắn với chủ sở hữu: Tài sản đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế tri thức, nó gắn liền với chủ sở hữu và mang lại lợi ích cho chủ sở hữu đó. Bốn là, tài sản là một loại hàng hóa đặc biệt: Giống như các loại hàng hoá khác, “hàng hoá tài sản” (nó vừa có giá trị, vừa có giá trị sử dụng). Tài sản cũng được mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, trao đổi trên thị trường. Tuy nhiên, người ta chỉ mua được quyền sử dụng tài sản mà không mua được quyền sở hữu. Người đi thuê (người 1 sử dụng tài sản) phải trả cho người cho thuê (người sở hữu tài sản) một số tiền nhất định - đó chính là giá của quyền sử dụng tài sản. 1.1.3. Phân loại tài sản Muốn quản lý tốt tài sản DN, cần phân loại tài sản một cách hợp lý, dựa theo tiêu thức khác nhau có thể chia tài sản thành các loại khác nhau. Thông thường các DN thường sử dụng đặc điểm luân chuyển để phân loại tài sản. Theo đặc điểm luân chuyển, tài sản được chia thành tài sản ngắn hạn (TSNH) và tài sản dài hạn (TSDH). 1.1.3.1. Tài sản ngắn hạn Khái niệm: TSNH của DN là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của DN, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Trong bảng cân đối kế toán của DN, TSNH được thể hiện ở các bộ phận tiền và các khoản tương đương tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và các TSNH khác. Giá trị các loại TSNH của DN kinh doanh, thương mại thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản. Quản lý sử dụng các loại TSNH có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Đặc điểm của từng loại TSNH: Sử dụng TSNH hiệu quả đòi hỏi DN cần có những tiêu thức để phân loại tài sản hợp lý để dễ dàng hơn trong việc quản lý. Căn cứ theo đặc điểm chu chuyển TSNH, có thể chia TSNH thành các nhóm sau: - Tài sản bằng tiền và các chứng khoán có tính thanh khoản cao: Tài sản bằng tiền có thể tồn tại ở nhiều dạng khác nhau: Tiền VN, ngoại tê, vàng bạc, kim khí quý, đá quý... và được bảo vệ tại các địa điểm khác nhau như tại quỹ DN, gửi ở tổ chức tín dụng hay tiền đang chuyển. Trong quá trình tồn tại, tài sản bằng tiền không sinh lợi hoặc sinh lợi với tỉ lệ thấp, ngoài ra có thể nảy sinh các chi phí liên quan như chi phí bảo quản, vận chuyển, kiểm đếm,... - Đầu tư tài chính ngắn hạn: Các khoản đầu tư của DN ra bên ngoài được thực hiện dưới hình thức cho vay, cho thuê, góp vốn liên doanh, mua bán chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu...) có thời gian sử dụng, thu hồi vốn không quá 1 năm. - Các khoản phải thu: Toàn bộ các khoản mà DN có nghĩa vụ phải thu từ các đối tượng khác trong khoảng thời gian tối đa là 12 tháng. Các khoản phải thu là công việc thường xuyên phát sinh trong quá trình kinh doanh của DN. - Hàng tồn kho: Là những tài sản hữu hình DN mua vào hay sản xuất ra chờ để tiếp tục xuất dùng vào sản xuất hoặc chờ để bán trong một thời kỳ nhất định. Hàng tồn kho có nhiều loại khác nhau: Nguyên vật liệu, hàng hóa, thành phẩm,... Trong quá trình tồn tại hàng tồn kho có thể phát sinh các chi phí liên quan như chi phí vận 2 Thang Long University Library chuyển, bảo quản, bảo hiểm, các rủi ro như giảm giá hàng tồn kho. Ngoài ra, việc dự trữ hàng tồn kho có thể phát sinh chi phí cơ hội của bộ phận vốn đầu tư vào hàng tồn kho. - TSNH khác: Các khoản tạm ứng, chi phí trả trước ngắn hạn, thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, tài sản ngắn hạn khác. 1.1.3.2. Tài sản dài hạn Khái niệm: TSDH là những tài sản do doanh nghiệp nắm giữ và sử dụng vào các hoạt động của doanh nghiệp, có giá trị lớn, thời gian sử dụng từ một năm trở lên hoặc tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh của DN và DN chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng TSDH đó. Đặc điểm của từng loại TSDH Do TSDH có nhiều loại khác nhau, mỗi loại có những đặc điểm và yêu cầu quản lý khác nhau. Vì vậy, để quản lý tốt TSDH cần phải phân loại TSDH một cách hợp lý. Căn cứ vào hình thái tồn tại, TSDH bao gồm: Tài sản cố định Là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh của DN. Các điều kiện để một tài sản được coi là TSCĐ: - Có nguyên giá được xác định một cách đáng tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) trở lên. - Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên. - Chắc chắn mang lại lợi ích trong tương lai. Phân loại và đặc điểm của TSCĐ: Phân loại theo hình thái biểu hiện: Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện giúp cho người quản lý có một cái nhìn tổng thể về cơ cấu đầu tư của DN. Đây là một căn cứ quan trọng để xây dựng các quyết định đầu tư hoặc điều chỉnh phương hướng đầu tư phù hợp với tình hình thực tế. Ngoài ra, cách phân loại này còn giúp DN có các biện pháp quản lý tài sản, tính toán khấu hao khoa học và hợp lý đối với từng loại tài sản. Theo phương pháp này, toàn bộ TSCĐ của DN được chia thành hai loại: - TSCĐ hữu hình: Là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định) thỏa mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ hữu hình, tham gia vào nhiều chu kì kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc,... 3 - TSCĐ vô hình: Là những TSCĐ không có hình thái vật chất và có khả năng tạo ra quyền, lợi ích kinh kế, thu nhập cho người có quyền sở hữu. Tuy nhiên một số tài sản vô hình có thể được chứa đựng trong hoặc trên thực thể vật chất mà giá trị của thực thể vật chất đó không đáng kể so với giá trị tài sản vô hình (ví dụ: hợp đồng, hồ sơ đăng ký, đĩa mềm máy tính....). Giá trị của tài sản vô hình có thể ước lượng được. Phân loại theo quyền sở hữu Phân loại theo quyền sở hữu giúp cho việc quản lý và tổ chức hạch toán phù hợp theo từng loại TSCĐ, góp phần sử dụng TSCĐ một cách hợp lý và hiệu quả. Dựa theo tiêu thức này, TSCĐ được chia làm hai loại: - TSCĐ tự có: Là những TSCĐ được xây dựng, mua sắm và hình thành từ nguồn vốn ngân sách được cấp, nguồn vốn vay, nguồn vốn liên doanh, các quỹ của DN và các TSCĐ được biếu, tặng,... Đây là những TSCĐ thuộc quyền sở hữu của DN và được phản ánh trên Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. - TSCĐ thuê ngoài: Là những TSCĐ đi thuê để sử dụng trong một thời gian nhất định theo hợp đồng thuê tài sản. Tuỳ theo điều khoản của hợp đồng thuê mà TSCĐ đi thuê được chia thành TSCĐ thuê tài chính và TSCĐ thuê hoạt động. + TSCĐ thuê tài chính: là những TSCĐ đi thuê nhưng DN có quyền kiểm soát và sử dụng lâu dài theo các điều khoản của hợp đồng thuê. Quyền sở hữu TSCĐ thuê tài chính được chuyển cho bên cho thuê khi hết hạn hợp đồng. Hợp đồng cho phép bên đi thuê được lựa chọn mua TSCĐ thuê với giá thấp hơn giá trị thực tế của TSCĐ thuê tại thời điểm mua lại. TSCĐ thuê tài chính cũng được coi như TSCĐ của DN, được phản ánh trên Bảng cân đối kế toán, DN có trách nhiệm quản lý, sử dụng và trích khấu hao như các TSCĐ tự có của doanh nghiệp. + TSCĐ thuê hoạt động: là TSCĐ thuê không thoả mãn bất cứ điều khoản nào của hợp đồng thuê tài chính. Bên đi thuê chỉ được quản lý, sử dụng trong thời hạn hợp đồng và phải hoàn trả cho bên cho thuê khi kết thúc hợp đồng. Bất động sản đầu tư Là bất động sản bao gồm: quyền sử dụng nhà, đất, hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để: Sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc sử dụng cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường. Điều kiện để một bất động sản được coi là bất động sản đầu tư: - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai - Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cậy. 4 Thang Long University Library Các khoản đầu tư tài chính dài hạn Các khoản đầu tư tài chính dài hạn là các khoản đầu tư vào việc mua bán các chứng khoán có thời hạn thu hồi trên 1 năm hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền, hiện vật, mua cổ phiếu có thời hạn thu hồi trên 1 năm và các loại đầu tư khác trên 1 năm. Có thể nói tài sản tài chính dài hạn là các khoản vốn mà DN đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh khác ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của DN trong thời hạn trên 1 năm nhằm tạo ra nguồn lợi tức lâu dài cho DN. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn bao gồm: - Các chứng khoán dài hạn: Phản ánh giá trị các khoản đầu tư cho việc mua bán cổ phiếu và trái phiếu có thời hạn trên 1 năm và có thể bán ra bất cứ lúc nào để kiếm lợi nhuận: Cổ phiếu DN, trái phiếu (trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương, trái phiếu công ty). - Các khoản góp vốn liên doanh: góp vốn liên doanh là hoạt động đầu tư tài chính mà DN đầu tư vốn vào DN khác để nhận được lợi nhuận kết quả kinh doanh hoặc cùng chịu rủi ro với DN đó. Vốn góp liên doanh bao gồm các loại tài sản, vật tư, tiền vốn thuộc quyền sở hữu của DN kể cả vốn vay dài hạn dùng vào việc góp vốn kinh doanh. Các khoản phải thu dài hạn Cũng tương tự như các khoản phải thu ngắn hạn, các khoản phải thu dài hạn là những khoản nợ công ty chưa đòi được, tính cả nợ chưa đến hạn thanh toán nhưng có thời hạn hơn 1 năm hoặc hơn 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh. Độ lớn cũng như mức độ rủi ro của các khoản phải thu tùy thuộc vào chính sách tín dụng, tốc độ thu hồi nợ cũ, tốc độ tạo ra nợ mới hoặc sự tác động của các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của DN như chu kỳ suy thoái của nền kinh tế, khủng hoảng tiền tệ. Trong quá trình tồn tại, các khoản phải thu sẽ phát sinh chi phí quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro. Các TSDH khác Bao gồm chi phí trả trước dài hạn, chi phí đầu tư xây dựng cơ bản dở dang và ký cược, ký quỹ dài hạn. 1.2. Quản trị tài sản và sự cần thiết tăng cƣờng quản trị tài sản trong doanh nghiệp 1.2.1. Khái niệm quản trị tài sản Kinh doanh là một hoạt động kiếm lời mà lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Để đạt được mục đích tối đa hóa lợi nhuận, các DN cần phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý kinh doanh, trong đó quản lý và sử dụng tài sản là một phần rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Do đó, ta có thể thấy được mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp hiện nay chính là tăng cường quản trị tài sản. 5 Quản trị tài sản được hiểu là quá trình duy trì, nâng cấp, vận hành, sử dụng tài sản một cách thống nhất, hiệu quả theo các nguyên tắc về kỹ thuật và quản trị kinh doanh, từ đó giúp nhà quản trị ra các quyết định cần thiết để tối đa hóa lợi ích của DN. Như vậy, có thể hiểu quản lý tài sản tại DN là quá trình tổ chức, điều hành việc hình thành và sử dụng tài sản của DN nhằm đạt được mục tiêu nhất định. 1.2.2. Sự cần thiết phải tăng cường quản trị tài sản Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là kết quả của tổng thể hàng loạt các biện pháp tổ chức kinh tế kỹ thuật và tài chính. Việc tổ chức đảm bảo kịp thời, đầy đủ vốn và tăng cường quản trị tài sản là mục tiêu và là yêu cầu khách quan đối với tất cả các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh. Quản trị tài sản là một thuật ngữ rộng, có thể hiểu ở cấp độ thấp là vận hành thiết bị, máy móc cho đến cấp độ cao là khai thác tối đa tính năng tài sản ở mức chi phí tối thiểu. Việc tăng cường quản trị tài sản đang trở nên rất cấp thiết đối với các DN trong điều kiện hiện nay. Sự cần thiết này xuất phát từ những lý do sau: - Mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng tới mục đích tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu dựa trên cơ sở nâng cao lợi nhuận. Muốn vậy, doanh nghiệp phải phối hợp tổ chức, thực hiện đồng bộ mọi hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Trong đó, vấn đề tổ chức và quản trị tài sản có tính chất quyết định tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN. - Tăng cường quản trị tài sản không chỉ mang lại lợi ích trước mắt cho DN mà còn có ý nghĩa lâu dài đối với sự phát triển của DN. Khi giá trị của tài sản được sử dụng hiệu quả cũng đồng nghĩa với DN làm ăn có lãi, bảo toàn và phát triển. Đó chính là cơ sở để DN tiến hành tái sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu. - Tài sản là điều kiện quan trọng để tăng năng suất lao động và phát triển nền kinh tế, nó thể hiện một cách chính xác nhất năng lực của mỗi doanh nghiệp. - Tài sản có ý nghĩa vô cùng quan trọng, các tài sản được cải tiến, hoàn thiện, đổi mới và sử dụng một cách hiệu quả là một trong những nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của DN nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. 1.3. Nội dung quản trị tài sản của doanh nghiệp 1.3.1. Nội dung quản trị tài sản ngắn hạn 1.3.1.1. Quản trị tiền mặt Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các DN luôn có nhu cầu dự trữ tiền mặt ở một quy mô nhất định. Tiền mặt còn được coi là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của DN tại ngân hàng. 6 Thang Long University Library Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản trị tiền mặt thì việc tối thiểu hóa lượng tiền mặt phải giữ là quan trọng nhất. Tuy nhiên việc giữ tiền mặt trong kinh doanh cũng là vấn đề cần thiết, điều đó xuất phát từ các lý do sau: - Đảm bảo giao dịch hàng ngày như thanh toán cho khách hàng, thanh toán các chi phí cần thiết, mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu... - Đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trường hợp biến động không lường trước được của các luồng tiền vào và ra. - Hưởng lợi thế trong thương lượng mua hàng hóa, các cơ hội kinh doanh có tỷ suất lợi nhuận cao. - Tạo điều kiện cho DN có cơ hội thu được chiết khấu hàng mua trả đúng kỳ hạn, làm tăng hệ số thanh toán của DN. Mô hình xác định mức dự trữ tiền tối ƣu Xác định mức dự trữ tối ưu về tiền mặt hỗ trợ doanh nghiệp trong thanh toán và đối phó với các phát sinh bất ngờ. Giả sử DN đang lưu giữ tiền mặt cần thiết cho các hóa đơn thanh toán, khi tiền mặt xuống thấp DN sẽ bổ sung bằng cách bán chứng khoán. Chi phí tồn trữ chủ yếu chính là lãi suất mà DN mất đi. Các chi phí đặt hàng chính là chi phí cho mỗi lần bán chứng khoán. Khi dự trữ tiền mặt, DN sẽ mất đi chi phí cơ hội, tức là lãi suất bị mất đi, chi phí này tương đương với chi phí tồn trữ hàng hóa trong quản lý hàng tồn kho, chi phí đặt hàng chính là chi phí cho việc bán chứng khoán. Điều kiện để áp dụng mô hình: - Doanh nghiệp có nhu cầu về tiền ổn định. - Doanh nghiệp không dự trữ tiền mặt cho mục đích an toàn (chỉ phục vụ cho mục đích kinh doanh thường ngày). - Doanh nghiệp chỉ có 2 phương thức dự trữ để đáp ứng nhu cầu về tiền: tiền mặt và chứng khoán khả thị, những chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để bán chứng khoán ra là có thể thu được tiền về. - Không có rủi ro trong đầu tư chứng khoán. - Các điều kiện khác: DN áp dụng tỷ lệ bù đắp tiền mặt không đổi, dòng tiền tệ rời rạc chứ không liên tục. Chi phí giao dịch (TrC - Transaction Cost) TrC = (T/C) * F Chi phí cơ hội (OC - Opportunity Cost) OC = (C/2) * K Trong đó: TrC: Chi phí giao dịch. T: Tổng nhu cầu về tiền trong năm C: Quy mô một lần bán chứng khoán 7 F: Chi phí cố định của một lần bán chứng khoán T/C: Số lần mà công ty bán chứng khoán trong một năm OC: Chi phí cơ hội K: Lãi suất đầu tư chứng khoán một năm C/2: Mức dự trữ tiền trung bình Tổng chi phí (TC - Total Cost) TC = TrC + OC = [(T/C) * F] + [(C/2) * K] Có thể không xét thời kỳ là 1 năm nhưng phải có sự đồng nhất thời gian của T và K. Xác định mức dự trữ tiền tối ƣu Mức dự trữ tiền tối ưu để tổng chi phí bỏ ra là nhỏ nhất tương đương TC min là: C* = √ Đồ thị 1.1. Mô hình dự trữ tiền tối ƣu Chi phí TCC OC = C/2 * K TrC = T/C * F C* Ưu điểm của mô hình Baumol Mô hình Baumol cho thấy nếu lãi suất càng cao thì DN sẽ nắm giữ số dư bình quân tiền mặt thấp hơn, do đó làm cho doanh số bán chứng khoán nhỏ hơn nhưng tần suất bán chứng khoán nhiều hơn. Mặt khác, nếu giá phải trả cho mỗi lần bán chứng khoán cao thì DN nên giữ một số tiền mặt lớn hơn. Nhược điểm của mô hình Baumol Mô hình chưa đáp ứng được sự chính xác khi ứng dụng vào thực tiễn. Nguyên nhân là do mô hình giả định rằng DN chi trả tiền mặt một cách ổn định, điều này không phải luôn đúng trong thực tế. Bằng việc nghiên cứu và phân tích thực tiễn, Miller Orr và Daniel Orr phát triển mô hình tồn quỹ với luồng thu và chi biến động ngẫu nhiên hàng ngày. Mô hình Miller Orr liên quan đến cả luồng thu và luồng chi tiền mặt, giả định luồng tiền ròng (luồng thu trừ luồng chi) có phân phối chuẩn. Luồng tiền tệ ròng hàng ngày có thể ở mức rất 8 Thang Long University Library cao hoặc rất thấp. Tuy nhiên, chúng ta giả định luồng tiền mặt ròng bằng 0, tức là luồng thu luôn bù đắp được cho nguồn chi. Đồ thị 1.2. Đồ thị biểu diễn mức tiền mặt biến động theo thời gian Giới hạn trên (H) Số dư tiền mặt Quỹ mục tiêu (Z) Giới hạn dưới (L) O Thời gian Có 3 khái niệm cần chú ý trong mô hình này: Giới hạn trên (H), giới hạn dưới (L) và quỹ mục tiêu (Z). DN thiết lập giới hạn trên căn cứ vào chi phí cơ hội giữ tiền, giới hạn dưới căn cứ vào rủi ro do thiếu tiền mặt. DN cho phép tồn quỹ biến động ngẫu nhiên trong phạm vi giới hạn và nếu như tồn quỹ vẫn nằm trong mức giới hạn trên và mức giới hạn dưới thì DN không cần thực hiện việc mua bán chứng khoán ngắn hạn. Khi tồn quỹ chạm đến giới hạn trên thỳ DN sẽ mua (H - Z) đồng chứng khoán ngắn hạn để giảm tồn quỹ trở về Z. Ngược lại, khi tồn quỹ giảm đụng giới hạn dưới thì DN sẽ bán (Z - L) đồng chứng khoán ngắn hạn để gia tăng tồn quỹ lên Z. Quỹ mục tiêu (Z*) được xác định như sau: 3 Z* = L + 3F 4K Trong đó F là chi phí liên quan đến việc mua bán chứng khoán ngắn hạn để chuyển đổi từ tài sản đầu tư cho mục đích sinh lời ra tiền mặt để thanh toán; chi phí này cố định cho mỗi lần giao dịch. K là chi phí cơ hội do giữ tiền mặt, bằng lãi suất ngắn hạn. Và sai của dòng tiền mặt hàng ngày. là phương Quản trị hoạt động thu - chi tiền mặt: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động thu chi tiền mặt diễn ra hàng ngày, hàng giờ. Hơn nữa tiền mặt là một loại tài sản đặc biệt có khả năng thanh toán cao và dễ dàng chuyển đổi sang hình thức khác, vì vậy DN phải có một số biện pháp quản lý sau: - Quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng tiền mặt, xác định đối tượng tạm ứng, mức tạm ứng và thời gian thanh toán tạm ứng để thu hồi kịp thời. - DN nên xây dựng cơ chế thu chi tiền mặt hợp lý. Ví dụ các khoản chi không lớn thì có thể sử dụng tiền mặt, còn các khoản chi lớn cần sử dụng hình thức thanh toán không bằng tiền mặt (có thể thông qua ngân hàng). 9 - Mọi khoản thu chi tiền mặt của DN đều nên thực hiện thông qua một quỹ nhất định, không nên tự thu hoặc tự chi ngoài quỹ. Để lựa chọn được phương thức thu tiền tối ưu, chúng ta cần đánh giá hiệu quả của phương thức thu tiền đó, phương thức thu tiền đề xuất và phương thức thu tiền hiện tại trên cơ sở so sánh lợi ích sau thuế tăng thêm và chi phí sau thuế tăng thêm. Lợi ích tăng thêm: Trong đó: B = t * TS * I * (1-T) : Lợi ích tăng thêm. : Số ngày chênh lệch giữa hai phương thức. Đối với phương thức thu tiền t = t1 – t2, Đối với phương thức chi tiền t = t2 – t1. Trong đó t1 là thời gian chuyển tiền của phương thức hiện tại, t 2 là số ngày chuyển tiền của phương thức thu chi tiền đề xuất. TS: Quy mô chuyển tiền (Số tiền đang chuyển trong một năm, một chu kỳ hay một giao dịch). I: Lãi suất đầu tư được xác định theo ngày. T: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp. Chi phí tăng thêm: Trong đó: C = (C2 – C1)(1-T) C là chi phí tăng thêm sau thuế của phương thức thu tiền hiện tại so với phương thức thu tiền đề xuất. C2: Chi phí của phương thức thu tiền mới. C1: Chi phí của phương thức thu tiền hiện tại. Trên cơ sở so sánh B và C để rút ra kết luận: Nếu C < B : Lựa chọn phương thức thu tiền đề xuất. Nếu C > B : Lựa chọn phương thức thu tiền hiện tại. Nếu C = B : Bàng quan 1.3.1.2. Quản trị khoản phải thu Khái niệm và đặc điểm của khoản phải thu Để cạnh tranh, các DN có thể sử dụng chiến lược về chất lượng sản phẩm, giá cả, quảng cáo, dịch vụ bán hàng... Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, việc mua bán chịu là điều không thể thiếu. Điều này có thể làm cho DN đứng vững trên thị trường và thu về nhiều lợi nhuận nhưng cũng có thể đem đến những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của DN. Khoản phải thu thực chất là đồng vốn mà DN bị các đối tác (có thể là khách hàng hoặc nhà cung cấp) chiếm dụng mà DN có trách nhiệm phải thu hồi. Vì thế, về nguyên tắc, quy mô của khoản phải thu càng nhỏ càng tốt. Tuy nhiên, quy mô và tính chất các 10 Thang Long University Library khoản phải thu phụ thuộc vào từng loại hình kinh doanh, từng thời kì, từng doanh nghiệp khác nhau. Khoản phải thu bao gồm các khoản sau: Khoản phải thu từ khách hàng: là những khoản cần phải thu do doanh nghiệp bán chịu hàng hóa, thành phẩm hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Khoản ứng trước cho người bán: là khoản tiền DN phải thu từ người bán, người cung cấp do DN trả tiền trước tiền hàng cho người bán để mua hàng hóa, thành phẩm hoặc dịch vụ mà DN chưa được giao. Khoản phải thu nội bộ: là các khoản phải thu phát sinh giữa các đơn vị, doanh nghiệp hạch toán kinh tế độc lập với các đơn vị trực thuộc có tổ chức kế toán riêng hoặc giữa các đơn bị trực thuộc với nhau. Khoản tạm ứng cho công, nhân viên: là những khoản tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp giao cho các cán bộ công nhân viên để thực hiện một nhiệm vụ hoặc giải quyết một số công việc như mua hàng hóa, trả phí công tác… Khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ khác... Xây dựng chính sách tín dụng Bán chịu hàng hóa là một hình thức DN cấp tín dụng cho khách hàng và là nguyên nhân phát sinh các khoản phải thu. Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tín dụng - Điều kiện của DN: Đặc điểm về sản phẩm, ngành nghề kinh doanh và tiềm lực tài chính là những yếu tố trực tiếp tác động đến chính sách tín dụng của DN. - Điều kiện của khách hàng: Bao gồm vốn, khả năng thanh toán, tư cách tín dụng, vật thế chấp và điều kiện kinh tế của khách hàng. Khi chấp nhận cho 1 khách hàng chiếm dụng vốn, DN cần phải xác định được quy mô vốn chủ sở hữu, tổng giá trị tài sản, khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của khách hàng. Bên cạnh đó, DN cần phân tích các chỉ số về khả năng thánh toán của khách hàng để có những đánh giá sơ bộ về khả năng trả nợ cũng như tư cách tín dụng. Một điều quan trọng hơn nữa là khách hàng có gì để đảm bảo khoản vay của mình và ảnh hưởng của ngành nghề, môi trường kinh doanh đến khả năng trả nợ. Quyết định tín dụng Sau khi thực hiện hai bước đầu, công ty đã sẵn sàng đưa ra quyết định tín dụng. Có nhiều vấn đề phức tạp có thể kể ra, nhưng trước tiên chúng ta bắt đầu bằng một quyết định cấp tín dụng cơ bản. Để xác định xem công ty có nên cấp tín dụng hay không, chúng ta so sánh giá trị hiện tại của lợi ích với chi phí cấp tín dụng với một mức rủi ro cho trước. Giá trị hiện tại ròng cho quyết định cấp tín dụng là: CFt NPV = - CFo k 11 Trong đó: CFt: Luồng tiền sau thuế mỗi thời kỳ k: Tỷ lệ thu nhập yêu cầu sau thuế phản ánh nhóm rủi ro của khách hàng tiềm năng CFo: Đầu tư công ty thực hiện ở tài khoản phải thu khách hàng Nguyên tắc quyết định tín dụng cho giá trị hiện tại ròng khi đưa ra quyết định về cấp tín dụng như sau: Nếu NPV > 0 thì cấp tín dụng, NPV < 0 thì không cấp tín dụng, NPV = 0 thì bàng quan. Phân tích, đánh giá các khoản thu Để công tác quản lý khoản phải thu được dễ dàng, DN nên phân loại khoản phải thu một cách cụ thể, chi tiết. Có thể xếp hạng nhóm nợ của DN như sau: Nhóm 1: khoản nợ có độ tin cậy cao, có khả năng thu hồi đúng hạn. Khách hàng là những DN vững chắc về tài chính, có uy tín cao. Nhóm 2: Nợ có mức độ rủi ro thấp. Nhóm này bao gồm các khoản nợ quá hạn 90 ngày hoặc đã cơ cấu lại thời hạn nợ. Khách hàng là những DN có tài chính khá tốt, có độ tin cậy, khách hàng quen. Nhóm 3: Nợ quá hạn có thể thu hồi. Các khoản nợ đã quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày. Khách nợ là những khách hàng có tình hình tài chính không ổn định, đang có những khó khăn nhưng vẫn có triển vọng phát triển. Nhóm 4: Nợ ít có khả năng thu hồi và nợ quá hạn đòi, bao gồm những khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày. Khách hàng có tình hình tài chính xấu, không có triển vọng rõ ràng, cố ý không thanh toán nợ. Nhóm 5: Nợ không thể thu hồi, có khả năng mất vốn. Khách hàng nợ là những doanh nghiệp phá sản hoặc sắp phá sản, không có khả năng trả nợ. 1.3.1.3. Quản trị hàng tồn kho Khái niệm và đặc điểm của hàng tồn kho Hàng tồn kho là những tài sản được giữ để bán trong kỳ sản xuất - kinh doanh bình thường; đang trong quá trình sản xuất - kinh doanh dở dang; nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất - kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ. Hàng tồn kho chiếm một phần lớn trong tỷ lệ tài sản kinh doanh của DN, bởi vì doanh thu từ hàng tồn kho là một trong những nguồn cơ bản tạo ra doanh thu và những khoản thu nhập thêm sau này cho DN. Hàng tồn kho là những tài sản đã sẵn sàng để đem ra bán hoặc sẽ được đem ra bán. Hàng tồn kho có tính chất tồn lâu, chôn vốn, nếu để tồn hàng tồn kho quá lâu thì sẽ làm ảnh hưởng không tốt tới quá trình kinh doanh do DN sẽ phải tốn chi phí dự trữ, chi phí thanh lý hay cải tiến hàng bị lỗi thời và thanh lý hàng hư hỏng. Tuy nhiên, việc 12 Thang Long University Library không dự trữ đủ hàng tồn kho cũng là một rủi ro vì DN có thể đánh mất những khoản doanh thu bán hàng tiềm năng hoặc thị phần nếu giá tăng cao trong khi DN không còn hàng để bán. Nhằm đảm bảo nguyên vật liệu trong sản xuất, đảm bảo nguồn hàng trong lưu thông, DN thường duy trì một lượng hàng nhất định trong chiến lược dự trữ hàng hóa của mình. Mô hình lƣợng đặt hàng kinh tế EOQ Mô hình này là một trong những mô hình kiểm soát hàng tồn kho phổ biến và lâu đời nhất. Khi sử dụng mô hình phải tuân theo các giả định sau: - Nhu cầu vật tư trong 1 năm được biết trước và ổn định. - Thời gian chờ hàng (kể từ khi đặt hàng đến khi nhận hàng) không thay đổi và được biết trước. - Sự thiếu hụt dự trữ hoàn toàn không xảy ra nếu đơn hàng được thực hiện đúng. - Toàn bộ số lượng đặt mua hàng được nhận cùng một lúc. Không có chiết khấu theo số lượng. Đồ thị 1.3 Lƣợng đặt hàng tối ƣu Chi phí Độ dốc = 0 TC Chi phí lưu kho Tổng chi phí tối thiểu Chi phí đặt hàng Đơn hàng tối ưu (Q*) Qua sơ đồ trên, ta thấy lượng đặt hàng tối ưu (Q*) khi tổng chi phí đạt giá trị nhỏ nhất. Tổng chi phí nhỏ nhất tại điểm đường cong chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng cắt nhau. Do đó, lượng đặt hàng tối ưu: 2SD Q* = H Với Q*: Khối lượng hàng của mỗi đơn hàng; S: Chi phí đặt hàng cho 1 đơn hàng; D: Nhu cầu hàng năm; H: Chi phí đặt hàng cho 1 đơn vị hàng hóa; Như vậy, tổng chi phí tồn kho tối thiểu được xác định như sau: TCmin = SD/ Q* + HQ*/2 13 Mô hình ABC Trong rất nhiều loại hàng hóa tồn kho, không phải loại hàng hóa nào cũng có vai trò như nhau trong việc bảo quản trong kho hàng. Để quản lý tồn kho hiệu quả người ta phải phân loại hàng hóa dự trữ thành các nhóm theo mức độ quan trọng của chúng trong dự trữ, bảo quản. Kỹ thuật phân tích ABC được đề xuất dựa vào nguyên tắc Pareto. Kỹ thuật phân tích ABC phân loại toàn bộ hàng dự trữ của doanh nghiệp thành 3 nhóm: A, B, C căn cứ vào mối quan hệ giữa giá trị hàng tồn kho hàng năm với số lượng chủng loại hàng. Giá trị hàng tồn kho hàng năm được xác định bằng tích số giữa nhu cầu hàng năm của từng loại hàng tồn kho và chi phí tồn kho đơn vị. Tiêu chuẩn cụ thể của từng nhóm hàng dự trữ được xác định như sau: Nhóm A, bao gồm những loại hàng hoá dự trữ có giá trị hàng năm chiếm 70 – 80% tổng giá trị hàng dự trữ, nhưng về mặt số lượng, chúng chỉ chiếm 15 - 20% tổng số hàng tồn kho. Nhóm B, bao gồm những loại hàng có giá trị hàng năm từ 25 - 30% tổng giá trị hàng dự trữ, nhưng về số lượng, chủng loại chúng chiếm khoảng 30 - 35% tổng số chủng loại hàng tồn kho. Nhóm C bao gồm những loại hàng có giá trị hàng năm nhỏ, chỉ chiếm khoảng 510% tổng giá trị các loại hàng hoá dự trữ, tuy nhiên số lượng chủng loại chiếm khoảng 50 - 55% tổng số chủng loại hàng tồn kho. Tác dụng của mô hình ABC Đồ thị 1.4. Mô hình ABC % Giá trị hàng năm 100% 75% Nhóm A Nhóm B 20% Nhóm C 5% 15% 30% 55% % Tổng số hàng tồn kho DN đầu tư có trọng tâm khi mua hàng. Ví dụ, DN dành các nguồn tiềm lực để mua hàng nhóm A nhiều hơn so với nhóm C. DN dễ dàng xác định các chu kì kiểm toán khác nhau cho mỗi nhóm khác nhau: 14 Thang Long University Library - Nhóm A: Thường xuyên, mỗi tháng một lần; Nhóm B: Mỗi quý một lần; - Nhóm C: 6 tháng một lần. 1.3.2. Nội dung quản trị tài sản dài hạn Đặc điểm và yêu cầu quản trị TSDH Một đặc điểm quan trọng nhất của TSDH là có giá trị đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm, chính vì vậy, TSDH cần phải được quản lý chặt chẽ cả về mặt hiện vật và giá trị. Cụ thể: phải kiểm tra chặt chẽ, thường xuyên bảo quản, sử dụng TSDH ở DN theo mục đích thu hồi vốn đầu tư ban đầu đã đầu tư TSDH trong DN. Cần phải cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời về thực trạng TSDH để từ đó có những biện pháp khắc phục khó khăn, tồn tại, đồng thời tận dụng được tối đa khả năng, năng suất, giá trị của TSDH. Khai thác và tạo lập nguồn vốn đầu tƣ vào TSDH của doanh nghiệp Khai thác và tạo lập nguồn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư TSDH là khâu quan trọng trong quản trị tài sản của DN. Trong nền kinh tế thị trường, DN có thể khai thác nguồn vốn đầu tư vào TSDH từ nhiều nguồn khác nhau như: từ lợi nhuận để lại để tái đầu tư, từ nguồn vốn liên doanh liên kết, từ ngân sách nhà nước, tài trợ, vốn vay dài hạn ngân hàng… Mỗi nguồn vốn trên có ưu điểm, nhược điểm riêng, điều kiện thực hiện và chi phí sử dụng khác nhau. Vì thế, DN cần chú ý đa dạng hóa các nguồn tài trợ, cân nhắc kỹ ưu nhược điểm để lựa chọn cơ cấu nguồn tài trợ vốn hợp lý và có lợi nhất, đảm bảo khả năng tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hạn chế và phân tán rủi ro, phát huy tối đa những ưu điểm của nguồn vốn được huy động. Quản lý sử dụng TSDH Đối với TSCĐ - Kiểm kê, kê khai tài sản thường xuyên để nắm bắt được tình hình thực tế của tài sản. - Thực hiện đúng quy chế sử dụng, bảo dưỡng nhằm duy trì và nâng cao năng lực hoạt động của TSCĐ, không để TSCĐ bị hư hỏng trước thời hạn quy định. - Phải đánh giá đúng giá trị của tài sản cố định tạo điều kiện phản ánh chính xác tình hình biến động của vốn cố định, quy mô vốn phải bảo toàn. Điều chỉnh kịp thời giá trị của tài sản cố định để tạo điều kiện tính đúng, tính đủ chi phí khấu hao. Thông thường có 3 phương pháp đánh giá chủ yếu: Theo nguyên giá, theo giá trị khôi phục và theo giá trị còn lại. - Phân cấp khả năng quản lý TSCĐ: DN được quyền cho các tổ chức và cá nhân trong nước thuê hoạt động các tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để nâng cao hiệu suất sử dụng, tăng thu 15 nhập song phải theo dõi, thu hồi tài sản cho thuê khi hết hạn. Các tài sản cho thuê hoạt động doanh nghiệp vẫn phải trích khấu hao theo chế độ quy định. DN được quyền đem tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để cầm cố, thế chấp vay vốn hoặc bảo lãnh tại các tổ chức tín dụng theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. DN được nhượng bán các tài sản không cần dùng, lạc hậu về kỹ thuật để thu hồi vốn sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Được quyền thanh lý những tài sản cố định đã lạc hậu mà không thể nhượng bán được hoặc đã hư hỏng không có khả năng phục hồi. Đối với TSDH khác ngoài TSCĐ Doanh nghiệp phải chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh để hạn chế tổn thất tài sản dài hạn do các nguyên nhân khách quan như: Mua bảo hiểm tài sản, lập quỹ dự phòng tài chính, trích trước chi phí dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính… 1.4. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị tài sản của doanh nghiệp 1.4.1. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị tổng tài sản của DN Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Doanh thu thuần Tổng tài sản = Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản tạo ra được bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng càng cao, năng lực quản trị tài sản của công ty tốt. Hệ số sinh lời tổng tài sản Hệ số sinh lời tổng tài sản (ROA) Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản = Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản tạo ra bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế. Nếu tỷ số này càng cao cho thấy DN làm ăn càng hiệu quả. Ngoài ra, tỷ số còn cho biết hiệu quả quản trị và sử dụng tài sản của DN có tốt hay không. 1.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị TSNH 1.4.2.1. Chỉ tiêu về khả năng thanh toán Khả năng thanh toán hiện hành: Khả năng thanh toán hiện hành TSNH = Nợ ngắn hạn 16 Thang Long University Library Đây là chỉ số đo lường khả năng đáp ứng nghĩa vụ tài chính ngắn hạn của DN. Chỉ số này càng thấp DN sẽ càng gặp khó khăn với việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình. Nhưng nếu chỉ số này quá cao sẽ đồng nghĩa với việc tài sản của DN bị cột chặt vào TSNH quá nhiều, như vậy hiệu quả sử dụng tài sản là không cao. Khả năng thanh toán nhanh Khả năng thanh toán nhanh Vốn bằng tiền + Các khoản phải thu = Nợ ngắn hạn Hệ số này cho biết khả năng thanh toán của tiền và các khoản phải thu đối với các khoản nợ ngắn hạn của DN. Chỉ số thanh toán nhanh đo lường mức thanh khoản cao hơn. Hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác không được tính vì khi cần tiền trả nợ, tính thanh khoản của chúng rất thấp. Khả năng thanh toán tức thời Khả năng thanh toán tức thời = Vốn bằng tiền Nợ ngắn hạn Đây là chỉ tiêu thường được các đối tác quan tâm. Chỉ tiêu này phản ảnh khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán ngắn hạn của DN. Nó cho biết cứ 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo chi trả bằng bao nhiêu đồng tiền mặt. 1.4.2.2. Chỉ tiêu về tốc độ luân chuyển Tốc độ luân chuyển TSNH Vòng quay TSNH Doanh thu thuần Vòng quay TSNH = TSNH Đây là chỉ tiêu nói lên số vòng quay của TSNH trong một thời kỳ nhất định, thông qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH trên mối quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất và số TSNH bỏ ra trong kì. Chỉ tiêu này cho biết một đồng TSNH trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Thời gian luân chuyển TSNH Doanh thu thuần Vòng quay TSNH = TSNH 17 Chỉ tiêu này thể hiện trình độ quản lý và sử dụng TSNH của DN. Với một số lượng TSNH nhất định và trong một thời gian nhất định, nếu DN tăng nhanh vòng quay nghĩa là DN đang sử dụng số TSNH hiện có hiệu quả. Mức tiết kiệm TSNH DN càng tăng được vòng quay TSNH thì càng có khả năng tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH. Mức tiết kiệm TSNH do tăng tốc độ luân chuyển TSNH được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu là mức tiết kiệm tuyệt đối và mức tiết kiệm tương đối. Mức tiết kiệm tương đối là do tăng tốc độ luân chuyển TSNH nên DN có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển TSNH song không cần tăng thêm hoặc tăng không đáng kể quy mô TSNH. Công thức xác định số TSNH tiết kiệm tương đối như sau: Số TSNH tiết kiệm tương đối = 360 x ( - Mức tiết kiệm tuyệt đối là do tăng tốc độ luân chuyển TSNH nên doanh nghiệp có thể tiết kiệm được một số TSNH để sử dụng vào công việc khác. Nói một cách khác với mức luân chuyển vốn không thay đổi (hoặc lớn hơn báo cáo) song do tăng tốc độ luân chuyển nên doanh nghiệp cần số TSNH ít hơn. Công thức tính như sau: Số TSNH tiết kiệm tuyệt đối = 360 x - ) Trong đó: : Tổng mức luân chuyển vốn (doanh thu thuần) tại năm gốc. : Tổng mức luân chuyển vốn (doanh thu thuần) tại năm phân tích. : Tốc độ luân chuyển năm gốc. : Tốc độ luân chuyển năm phân tích. Hệ số đảm nhiệm TSNH Hệ số này cho biết để đạt được một đơn vị doanh thu thuần, DN phải sử dụng bao nhiêu TSNH. Hệ số này càng thấp càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng của DN cao, vì khi đó tỷ suất lợi nhuận của 1 đồng TSNH sẽ tăng lên. Hệ số đảm nhiệm TSNH TSNH = Doanh thu thuần Tốc độ luân chuyển khoản phải thu: Vòng quay khoản phải thu 18 Thang Long University Library Doanh thu thuần Vòng quay khoản phải thu = Phải thu khách hàng Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay các khoản phải thu thực hiện được trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm. Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản thu càng nhanh và càng tốt, vì doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều vào các khoản phải thu (không phải cấp tín dụng cho khách). Nhưng nếu chỉ tiêu này quá cao so với các DN cùng ngành thì cũng có khả năng DN bị mất khách hàng vì khách hàng chuyển sang tiêu thụ sản phẩm của đối thủ vì họ được cấp tín dụng dài hơn. Thời gian thu tiền trung bình Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để các khoản phải thu thực hiện được một lần luân chuyển. Trong nhiều trường hợp kỳ thu tiền trung bình cao hay thấp chưa thể có kết luận chắc chắn, mà còn phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của DN như: mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Thời gian thu tiền trung bình 360 = Vòng quay khoản phải thu Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho Vòng quay hàng tồn kho Vòng quay hàng tồn kho Giá vốn hàng bán = Giá trị hàng tồn kho Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay của hàng tồn kho thực hiện được trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm. Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt, bởi lẽ DN chỉ đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao. Tuy nhiên nếu chỉ số này quá cao so với các DN cùng ngành chứng tỏ lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường đột ngột tăng thì DN rất có khả năng bị mất khách hàng và bị đối thủ giành thị phần. Thời gian quay vòng hàng tồn kho Thời gian quay vòng hàng tồn kho 360 = Vòng quay hàng tồn kho Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để hàng tồn kho thực hiện được một lần luân chuyển. Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho luân chuyển trong kỳ. Thời gian quay vòng hàng tồn kho của DN càng thấp chứng tỏ hàng tồn kho luân chuyển nhanh, công tác quản trị hàng tồn kho của DN càng hiệu quả. 19 Tốc độ luân chuyển khoản khải trả Vòng quay các khoản phải trả Vòng quay các khoản phải trả Giá vốn hàng bán + Chi phí quản lý, bán hàng = Phải trả người bán, lương, thưởng, thuế phải trả Vòng quay các khoản phải trả là chỉ tiêu vừa phản ánh uy tín của doanh nghiệp đối với bạn hàng vừa phản ánh khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thường muốn thu nợ nhanh, trả nợ chậm nên họ rất muốn kéo dài thời gian hoàn trả nợ dẫn đến hệ số trả nợ thấp. Hệ số này thấp cho thấy DN rất có uy tín và là khách hàng tốt của nhà cung cấp nên được cho chậm trả, nhưng cũng có thể là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang khó trả các khoản nợ đến hạn. Để khẳng định được khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp cần phân tích chi tiết các khoản phải trả, các khách hàng cho nợ, doanh số phát sinh nợ có và tuổi nợ các khoản phải trả, đối chiếu với hợp đồng mua hàng, xem xét tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận,… để có kết luận về việc hệ số trả nợ thấp là do được cho chậm trả hay do doanh nghiệp kinh doanh yếu kém mất khả năng thanh toán các khoản nợ. Thời gian trả nợ trung bình Chỉ tiêu này cho biết thời gian để doanh nghiệp thanh toán được một đồng nợ của mình. Nếu thời gian trả nợ trung bình lớn thì doanh nghiệp đang được lợi từ việc chiếm dụng vốn, tuy nhiên điều này cũng làm ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp đồng thời cũng chứa đựng các rủi ro về khả năng trả nợ. Thời gian trả nợ trung bình 360 = Vòng quay các khoản phải trả Thời gian luân chuyển tiền Thời gian luân Thời gian thu nợ Thời gian luân Thời gian trả nợ = + chuyển tiền trung bình chuyển kho trung bình Thời gian luân chuyển tiền là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nó phản ánh hiệu quả sử dụng và sự luân chuyển tiền mặt trong doanh nghiệp. Xét trên phương diện lý thuyết thì đa phần thời gian luân chuyển tiền mặt nhỏ tức là thời gian quay vòng vốn của doanh nghiệp nhanh thì hiệu quả sử dụng và thu hồi tiền mặt cao và ngược lại. 1.4.2.3. Khả năng sinh lời 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -