Tài liệu Khóa luận tốt nghiệp giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty tnhh thương mại và du lịch bảo long

  • Số trang: 75 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 55 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39801 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Một số vấn đề cơ bản về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Theo PGS.TS Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp – nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân thì: “Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho”. Trong cuốn Kế toán – Kiểm toán và Phân tích tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính Hà Hội năm 2010 của GS. Ngô Thế Chi, PTS. Đoàn Xuân Tiến và PTS. Vương Đình Huệ đã định nghĩa: “Tài sản ngắn hạn là tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền, hoặc có thể bán hay sử dụng trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có đến thời điểm báo cáo”. Như vậy, tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những khoản mục có khả năng chuyển đổi dễ dàng và là mắt xích quan trọng trong quá trình tạo ra doanh thu. Tuy là yếu tố tồn tại trong ngắn hạn đúng như tên gọi nhưng nếu có phát sinh trục trặc sẽ ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của công ty. Từ những quan điểm trên về tài sản ngắn hạn, ta đưa ra được khái niệm đầy đủ nhất về tài sản ngắn hạn như sau: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản phải thu khác.”. Đây cũng là khái niệm được sử dụng xuyên suốt trong khóa luận. 1.1.2. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Thứ nhất, tài sản ngắn hạn biểu hiện dƣới các hình thái khác nhau nhƣ: tiền và các tài sản tương đương tiền, khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và các tài sản khác. Các khoản mục này tương ứng với các mục đích chuyên biệt khác nhau của TSNH trong doanh nghiệp: tiền và các tài sản tương đương tiền hay chứng khoán khả thị đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp, hàng tồn kho được sử dụng trong khâu sản xuất kinh doanh, các khoản phải thu khách hàng dùng để ghi nhận các khoản tín dụng thương mại. Tài sản ngắn hạn biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau bởi nó tham gia vào tất cả các khâu trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của 1 doanh nghiệp, từ khâu dự trữ đến khâu sản xuất và lưu thông. Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh tài sản ngắn hạn lại thay đổi hình thái biểu hiện. Thứ hai, tài sản ngắn hạn thƣờng luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản ngắn hạn như tiền mặt, hàng tồn kho thường được sử dụng trong một chu kỳ kinh doanh. Một chu kỳ luân chuyển của tài sản ngắn hạn bắt đầu tư giai đoạn cung cấp dùng tiền để mua nguyên vật liệu dự trữ quá trình sản xuất, sau đó tiến hành tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Chính đặc điểm này đòi hỏi doanh nghiệp phải duy trì một lượng vốn ngắn hạn nhất định đề đầu tư, mua sắm tài sản ngắn hạn, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục. Thứ ba, tài sản ngắn hạn thƣờng thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo thành thực thể của sản phẩm. Trong doanh nghiệp thương mại, tài sản ngắn hạn bắt đầu từ trạng thái tiền mặt, sau đó được sử dụng để mua hàng hóa, lúc này từ trạng thái tiền mặt, tài sản ngắn hạn đã chuyển sang một trang thái mới là hàng hóa (hay nói cách khác là hàng tồn kho). Sau khi hàng hóa được xuất bán, một lần nữa tài sản ngắn hạn tại chuyển đổi về trạng thái ban đầu là tiền mặt, tuy nhiên giá trị của tài sản ngắn hạn lúc này sẽ lớn hơn giá trị ban đầu của nó. Đối với loại hình doanh nghiệp SXKD, tài sản ngắn hạn thường được biểu hiện dưới hình thái là hàng tồn kho (nguyên vật liệu) dùng cho mục đích sản xuất phải trải qua một quá trình biến đổi thành thành phẩm, hàng hóa hoàn chỉnh để xuất bán ra thị trường. Thứ tƣ, tài sản ngắn hạn có giá trị luân chuyển toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm làm ra. Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có ba yếu tố là: Đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động chính là tài sản ngắn hạn. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hoá lao vụ, dịch vụ. Khác với tư liệu lao động, giá trị của các đối tượng lao động (là các nguyên vật liệu tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất) được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện. Điều này có nghĩa là mọi chi phí phát sinh trong quá trình biến đổi tài sản ngắn hạn thành thành phẩm đã được tính vào giá thành của sản phẩm trước khi đưa ra thị trường. 1.1.3. Vai trò của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp có thể thực hiện hoạt động kinh doanh. Tài sản ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh thương mại. Giá trị các loại tài sản ngắn hạn của các doanh nghiệp kinh doanh sản xuất thường chiếm từ 25% đến 50% tổng giá trị tài sản. Do đó, tài sản ngắn hạn đóng vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn chính là đối tượng lao động trực tiếp 2 Thang Long University Library tham gia vào quá trình sản xuất. Ngoài ra, doanh nghiệp cần dự trữ tài sản ngắn hạn để đáp ứng cho các chi phí giao dịch, chi phí giao dịch bao gồm phí dịch vụ cho việc mua bán chứng khoán, các khoản lỗ tiềm tàng do phải bán gấp các tài sản trong khi có thể kiếm lời nhiều hơn nếu có thêm thời gian. Chính vì vậy mà doanh nghiệp luôn phải dự trữ một lượng tiền hoặc chứng khoán khả thị đủ để đảm bảo khả năng thanh toán, đây cũng là loại tài sản có tính thanh khoản cao, có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng với chi phí thấp đáp ứng cho các mục tiêu ngắn hạn. (Nguyễn Hải Sản – Quản trị tài chính doanh nghiệp – trang 367) Hỗ trợ thanh toán cho các giao dịch có độ trễ về thời gian. Điều này xuất hiện trong quá trình sản xuất, marketing và thu tiền. Do các giao dịch diễn ra không đồng thời, nhiều hoạt động tác động đến nhu cầu vốn lưu động như lưu trữ hàng tồn kho, áp dụng các chính sách hỗ trợ bán hàng, chiết khấu thanh toán để khuyến khích khách hàng thanh toán sớm, giảm thời gian chuyển tiền khi thu hồi nợ. Ví dụ trong hoạt động đầu tư ngắn hạn, độ trễ về thời gian thể hiện ở khả năng xảy ra chậm trễ trong quá trình thực hiện công việc nào đó của dự án, mà qua đó ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện của các bước hoặc của cả dự án. Điều này sẽ ảnh hưởng đến thời gian thu hồi vốn đầu tư của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong một doanh nghiệp có nhiều hoạt động đầu tư thì không phải hoạt động đầu tư nào cũng có độ trễ về mặt thời gian. Lúc này, nguồn vốn của các hoạt động đầu tư đảm bảo về mặt thời gian sẽ hỗ trợ các hoạt động đầu tư bị trễ về mặt thời gian thông qua việc hỗ trợ về tiền, về nguyên vật liệu, hàng hóa (nếu hai hoạt động đầu tư có chung nhu cầu) để hoạt động đầu tư bị trễ được rút ngắn thời gian thu hồi vốn kinh doanh, giúp công ty tăng doanh thu và lợi nhuận, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cho hoạt động đầu tư ngắn hạn. Giải quyết trong các trƣờng hợp cần phải chi trả các chi phí liên quan đến pháp luật và chi phí gián tiếp. Chi phí liên quan đến pháp luật như chi phí thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng, phí môn bài,...hay chi phí gián tiếp như chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí công phụ, chi phí quảng cáo,... Những chi phí này rất lớn nên nhà quản lý thường xem chúng như những áp lực tài chính và có xu hướng dự trữ một lượng lớn tài sản có tính thanh khoản cao để đảm bảo khả năng thanh toán kể cả khi việc này đem lại ít lợi nhuận hơn so với đầu tư tài sản dài hạn. 1.1.4. Phân loại tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.1.4.1. Phân loại theo vai trò của tài sản ngắn hạn trong quá trình sản xuất kinh doanh Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ bao gồm các khoản: Nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ và dụng cụ. Tài sản nằm trong khâu sản xuất bao gồm sản phẩm dở dang, bán thành phẩm và các khoản chi phí chờ kết chuyển. 3 Tài sản ngắn hạn trong khâu lƣu thông bao gồm thành phẩm, hàng hóa mua ngoài, hàng gửi bán, vốn bằng tiền và các khoản vốn dùng trong thanh toán. Hình thức phân loại này cho ta biết vai trò của các tài khoản, dựa vào đó, nhà quản lý điều chỉnh cơ cấu tài sản hợp lý và có biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp. 1.1.4.2. Phân loại theo hình thái biểu hiện của tài sản ngắn hạn Tài sản bằng vật tƣ hàng hóa: những tài sản được biểu hiện dưới hình thái như hàng tồn kho, nguyên vật liệu. Tài sản bằng tiền: các khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, v.v... Cách phân loại này cho doanh nghiệp biết cơ cấu dự trữ của các khoản mục, khả năng thanh toán của doanh nghiệp và có giải pháp điều chỉnh hợp lý. 1.1.4.3. Phân loại tài sản ngắn hạn dựa trên các khoản mục trên bảng cân đối kế toán Căn cứ theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán, tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền và chứng khoán khả thị, khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác. Tiền: được biểu hiện là tiền tồn quỹ, tiền gửi trong ngân hàng, tiền đang chuyển. Tiền mặt được sử dụng để mua nguyên vật liệu, mua sắm tài sản cố định, trả lương nhân viên và chi trả các khoản khác. Chứng khoán khả thị: bao gồm các loại chứng khoán có khả năng sinh lời cho doanh nghiệp và có thể chuyển đổi sang tiền mặt dễ dàng với chi phí thấp. Phải thu khách hàng: được hình thành từ việc bán chịu cho khách hàng, khoản thu được tạo lập dựa trên cam kết giữa doanh nghiệp và người mua hàng. Phổ biến nhất là hình thức tín dụng thương mại - cho các doanh nghiệp khác nợ, hình thức này thu hút được nhiều khách hàng cho doanh nghiệp nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về thanh toán. Hàng tồn kho: bao gồm nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, sản phẩm dở dang và thành phầm. Với doanh nghiệp, vật liệu thô không sinh lời song là điều kiện căn bản để sản xuất hàng hóa thành phẩm nên việc dự trữ hàng tồn kho hợp lý là vấn đề với nhà quản lý để vừa đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà không làm phát sinh quá nhiều chi phí dự trữ của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm các khoản chi phí trả trước ngắn hạn, cầm cố, ký quỹ, ký cược… Phân loại tài sản ngắn hạn theo tiêu chí này giúp doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho dự trữ, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp. 4 Thang Long University Library 1.2. Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì vấn đề sống còn doanh nghiệp cần quan tâm là tính hiệu quả. Chỉ khi hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp mới có thể tự trang trải chi phí đã bỏ ra, làm nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước và quan trọng hơn là duy trì và phát triển quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế là kết quả tổng hợp của một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các yếu tố bộ phận. Trong đó, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó các doanh nghiệp phải luôn tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Theo nghĩa chung nhất: “Hiệu quả là một khái niệm phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo ra kết quả đầu ra tốt nhất với mục đích xác định”. Như vậy, có thể hiểu hiệu quả sử dụng là một phạm trù kinh tế đánh giá trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh, tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu với tổng chi phí thấp nhất. Do đó, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là phạm trù kinh tế đánh giá trình độ sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu cao nhất với mức tài sản ngắn hạn hợp lý (tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí). Trình độ sử dụng tài sản ngắn hạn được thể hiện ở viêc doanh nghiệp sử dụng tài sản ngắn hạn như thế nào trong các quá trình dự trữ, sản xuất và lưu thông. Cụ thể, quá trình vận động của tài sản ngắn hạn bắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, tiến hành sản xuất và khi sản xuất xong doanh nghiệp tổ chức tiêu thụ để thu về một số vốn dưới hình thái tiền tệ ban đầu với giá trị tăng thêm. Mỗi lần vận động như vậy được gọi là một vòng luân chuyển của tài sản ngắn hạn. Doanh nghiệp sử dụng vốn đó càng có hiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhiều bấy nhiêu. Với lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn từng đồng tài sản ngắn hạn, làm cho mỗi đồng tài sản ngắn hạn hàng năm có thể mua sắm nguyên, nhiên vật liệu nhiều hơn, sản xuất ra sản phẩm và tiêu thụ được nhiều hơn. Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp nâng cao tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn (số vòng quay tài sản ngắn hạn trong một năm). Tóm lại, “Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù kinh tế, phản ánh tình hình sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp để đạt lợi nhuận cao nhất với chi phí thấp nhất” [2, tr.199]. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp gia tăng được lợi nhuận, giúp doanh nghiệp phát huy được hiệu quả mà các tài sản ngắn hạn đem lại trong quá trình sử dụng. 5 1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Quá trình hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp là quá trình hình thành và sử dụng vốn kinh doanh. Ngày nay các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường yêu cầu về tài sản ngắn hạn là rất lớn, có thể coi tài sản ngắn hạn là nhựa sống tuần hoàn trong doanh nghiệp. Để đánh giá trình độ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó. Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên hai góc độ là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Vì thế, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là yêu cầu mang tính bắt buộc và thường xuyên đối với doanh nghiệp. 1.2.2.1. Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu xuyên suốt là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Để đảm bảo mục tiêu này, doanh nghiệp thường xuyên phải đưa ra và giải quyết tập hợp các quyết định tài chính dài hạn và ngắn hạn. Quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn là một nội dung trọng tâm trong các quyết định tài chính ngắn hạn và là nội dung có ảnh hưởng lớn đến mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Với bản chất và định hướng mục tiêu như trên, doanh nghiệp luôn luôn tìm mọi biện pháp để tồn tại và phát triển. Xuất phát từ vai trò to lớn đó khiến cho yêu cầu doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng là một yêu cầu khách quan, gắn liền với bản chất của doanh nghiệp. 1.2.2.2. Xuất phát từ vai trò quan trọng của tài sản ngắn hạn Đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, muốn hoạt động kinh doanh thì cần phải có vốn. Tài sản ngắn hạn là một thành phần quan trọng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Trong khâu dự trữ và sản xuất, tài sản ngắn hạn đảm bảo cho sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, đảm bảo quy trình công nghệ, công đoạn sản xuất. Trong lưu thông, tài sản ngắn hạn đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu thụ được liên tục, nhịp nhàng và phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn lớn khiến cho công việc quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn luôn luôn diễn ra thường xuyên, hàng ngày với vai trò to lớn như vậy, việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu. 1.2.2.3. Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tức là có thể tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn, rút ngắn thời gian tài sản ngắn hạn nằm trong lĩnh vực dự trữ, 6 Thang Long University Library sản xuất và lưu thông, từ đó giảm bớt số lượng tài sản ngắn hạn bị chiếm dụng, tiết kiệm tài sản ngắn hạn trong luân chuyển. Tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn cũng có ảnh hưởng tích cực đối với việc hạ thấp giá thành sản phẩm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủ vốn thỏa mãn nhu cầu sản xuất và hoàn thành nghĩa vụ nộp các khoản thuế cho ngân sách Nhà nước, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong cả nước. 1.2.2.4. Xuất phát từ thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại các doanh nghiệp Trên thực tế, có rất nhiều nguyên nhân khiến một doanh nghiệp làm ăn thiếu hiệu quả thậm chí thất bại trên thương trường. Các nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan, tuy nhiên một nguyên nhân phổ biến vẫn là việc sử dụng tài sản ngắn hạn không hiệu quả. Trong việc mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Điều này dẫn đến việc sử dụng lãng phí tài sản ngắn hạn, tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn thấp, mức sinh lợi kém và thậm chí có doanh nghiệp còn gây thất thoát không kiểm soát được tài sản lưu động dẫn đến mất khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán. Do đó, yêu cầu cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một nội dung quan trọng, không chỉ đảm bảo lợi ích riêng doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa chung đối với nền kinh tế quốc dân. 1.2.3. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.2.3.1. Phân tích quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Phân tích quy mô tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được thực hiện bằng cách tính ra sự thay đổi (chênh lệch) tổng lượng tài sản ngắn hạn biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc về giá trị tuyệt đối và tương đối. Sự thay đổi của tài sản ngắn hạn qua các năm được xác định như sau: Chênh lệch tuyệt đối TSNH Chênh lệch tƣơng đối TSNH TSNH kỳ phân tích - TSNH kỳ gốc TSNH kỳ phân tích - TSNH kỳ gốc TSNH kỳ gốc Phương pháp phân tích: Phân tích quy mô tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp sử dụng phương pháp phân tích tỷ lệ bằng cách tính ra giá trị chênh lệch tuyệt đối và tương đối giữa các kì. Các số liệu sau khi tính toán sẽ được liệt kê thành các bảng biểu để thực hiện phân tích ngang, tức là so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc trên tổng số tài sản ngắn hạn. Thông qua việc phân tích quy mô tài sản ngắn hạn sẽ cho ta thấy chính sách phân bổ vốn cho tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp và liệu việc bổ sung hay cắt giảm lượng tài sản ngắn hạn có đem lại hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tốt hơn cho doanh nghiệp hay không. 7 Phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn bằng việc đi xác định tỷ trọng của từng bộ phận tài sản ngắn hạn chiếm trong tổng số tài sản ngắn hạn. Phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn là đi phân tích quy mô, tỷ trọng của từng loại tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản ngắn hạn. Tỷ trọng của từng bộ phận tài sản ngắn hạn được xác định như sau: Giá trị của t ng bộ phận TSNH T trọng của t ng bộ phận TSNH Tổng tài sản ngắn hạn Việc xem xét tình hình biến động về tỷ trọng của từng bộ phận tài sản ngắn hạn chiếm trong tổng số tài sản ngắn hạn giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc mặc dầu cho phép các nhà quản lý đánh giá được khái quát tình hình phân bổ (sử dụng) vốn nhưng lại không cho biết được chính xác các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động về cơ cấu tài sản ngắn hạn. Do đó, các nhà phân tích còn kết hợp cả việc phân tích ngang, tức là so sánh sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (cả về số tuyệt đối và tương đối) trên tổng số tài sản ngắn hạn. Thông qua bước phân tích trên, các nhà quản lý sẽ thấy được những đặc trưng cơ bản trong cơ cấu tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, xác định được tính hợp lý của việc đầu tư, sử dụng tài sản ngắn hạn. Qua việc xem xét cơ cấu tài sản ngắn hạn và sự biến động về cơ cấu tài sản ngắn hạn qua nhiều kỳ kinh doanh, các nhà quản lý sẽ quyết định đầu tư vào khoản mục tài sản ngắn hạn nào là thích hợp, đầu tư vào thời điểm nào; xác định được việc gia tăng hay cắt giảm hàng tồn kho cũng như mức dự trữ hàng tồn kho hợp lý trong từng thời kỳ để sao cho có đủ lượng hàng tồn kho cần thiết đáp ứng chu cầu sản xuất kinh doanh và nhu cầu của thị trường mà không làm tăng chi phí tồn kho; có chính sách thích hợp về thanh toán để vừa khuyến khích được khách hàng vừa thu hồi vốn kịp thời, tránh bị chiếm dụng vốn,... Khi phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn, nhà phân tích cần liên hệ với số liệu bình quân của ngành cũng như số liệu của các doanh nghiệp khác (nếu có) để có nhận xét thích đáng hơn về tình hình sử dụng tài sản ngắn hạn và tính hợp lý của cơ cấu tài sản ngắn hạn. Đồng thời, căn cứ vào tính hình thực tế của doanh nghiệp cũng như chính sách đầu tư và chính sách kinh doanh mà doanh nghiệp vận dụng trong từng thời kỳ đánh giá. 1.2.3.2. Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó, sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Chính sách quản lý tài sản có ảnh hướng rất lớn tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp. Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp được thể hiện như sau: (1) Chính sách quản lý tiền Quản lý tiền mặt và các tài sản tương đương tiền ở đây chính là quản lý tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các loại chứng khoán khả thị. Chúng ta cần lưu ý khái niệm 8 Thang Long University Library tiền và các khoản tương đương tiền ở đây biểu hiện theo nghĩa rộng bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, còn các loại chứng khoán khả thị xem như là tài sản tương đương đương tiền mặt. Doanh nghiệp cần phải quản lý tiền và chứng khoản khả thị để có thể thực hiện giao dịch, đối phó với các biến cố bất thường xảy đến với doanh nghiệp hoặc đầu tư sinh lời. Dự trữ nhiều tiền vừa có lợi ích song cũng tiềm ẩn rủi ro. Về mặt lợi ích, doanh nghiệp luôn đảm bảo được khả năng thanh toán từ đó cải thiện được uy tín và vị thế của doanh nghiệp, nếu mang tiền đi đầu tư còn có thể có lãi. Ngược lại, rủi ro khi dự trữ tiền mặt cũng dễ xảy ra, nếu dự trữ quá ít sẽ giảm khả năng thanh toán, đặc biệt là khả năng thanh toán tức thời, lúc này doanh nghiệp sẽ không có đủ tiền để thanh toán các nghĩa vụ nợ ngắn hạn đến hạn thanh toán, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn; nếu dự trữ quá nhiều sẽ giảm khả năng sinh lời của số tiền đó, đồng thời doanh nghiệp phải phát sinh tăng chi phí quản lý cho số tài sản này. Số tiền dư thừa khi dự trữ quá nhiều không được đem đi để đầu tư sinh lời, giúp doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn khi mà lượng đầu tư cho tài sản ngắn hạn lớn nhưng lợi nhuận kinh tế lại không cao. Bởi vậy, quản lý tốt lượng tiền tại công ty, giúp cho lượng tiền tại doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao nhất mà không gây lãng phí vốn, doanh nghiệp cần phải đưa ra những chính sách quản lý tiền hợp lý. Quản lý tiền và chứng khoán khả thị cần tập trung vào các quyết định sau: Quản lý hoạt động thu - chi của tiền mặt; xác định nhu cầu dự trữ tiền mặt tối ưu, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán khả thị và quản lý ngân quỹ. (1.1) Quản lý hoạt động thu – chi tiền mặt Trong quản lý thu chi tiền mặt, một nguyên tắc tất yếu đó chính là “tăng thu – giảm chi”, tức là nhà quản lý cần tăng tốc độ thu hồi những khoản tiền nhận được và chậm chi những khoản cần phải chi trả. Tăng thu là doanh nghiệp tích cực thu hồi được các khoản nợ từ khách hàng để sớm có vốn quay vòng đầu tư vào các hoạt động của doanh nghiệp, đảm bảo thông suốt quá trình giao dịch kinh doanh. Giảm chi là tận dụng thời gian chênh lệch của các khoản thu, chi, chậm trả lương để có càng nhiều tiền nhàn rỗi để đầu tư sinh lời. Lúc này, doanh nghiệp sẽ có một lượng tiền nhàn rỗi để đem đầu tư tài chính ngắn hạn hay bổ sung cho tài sản ngắn hạn để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Để chọn được một phương thức hiệu quả, nhà quản lý cần so sánh giữa lợi ích và chi phí tăng thêm của các phương thức thu – chi sao cho lợi ích đem lại là lớn nhất đối với doanh nghiệp. Ta có thể dựa trên cơ sở dưới đây để thực hiện so sánh, đánh giá: ∆B ∆t * TS * I * (1 – T) 9 ∆C (C2 – C1) * (1 – T) Trong đó: ∆B = Lợi ích tăng thêm khi áp dụng phương thức đề xuất ∆C = Phần chi phí tăng thêm khi áp dụng phương thức đề xuất ∆t = Số ngày thay đổi khi áp dụng phương thức đề xuất + Đối với phương thức thu tiền: là số ngày được rút ngắn + Đối với phương thức chi tiền: là số ngày tăng thêm TS = Quy mô chuyển tiền I = Lãi suất đầu tư T = Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp C1 = Chi phí của phương thức đang sử dụng C2 = Chi phí của phương thức đề xuất Dựa vào kết quả tính toán theo mô hình trên, nhà quản lý có thể đưa ra quyết định như sau: - ∆B > ∆C: chuyển sang phương thức đề xuất vì lợi ích thu được cao hơn chi phí tăng thêm - ∆B = ∆C: bàng quan với cả hai phương thức do áp dụng phương thức đề xuất không đem lại lợi ích tăng thêm cho doanh nghiệp. - ∆B < ∆C: giữ nguyên phương thức cũ do phương thức mới không đem lại lợi ích lớn hơn mà doanh nghiệp còn phải bỏ ra chi phí để bù đắp cho hình thức này. Ngoài vấn đề tăng thu, doanh nghiệp còn phải duy trì giảm chi, tức là nên trì hoãn việc thanh toán nhưng trong phạm vi thời gian cho phép) để có thể tận dụng những lợi ích có từ các khoản chậm thanh toán này. Hình thức thông dụng nhất được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến rộng rãi đó chính là chậm trả lương. Cụ thể hơn, doanh nghiệp sẽ thiết lập một hệ thống thời gian trả lương cho từng bộ phận nhân viên và trả lương theo thời gian biểu đó thay vì trả lương đồng thời tất cả các nhân viên một lúc. Trong khoảng thời gian chênh lệch đó, ít nhiều những khoản tiền này cũng có thể đem lại lợi nhuận. Tuy nhiên, việc chậm thanh toán trả lương cần phải được tính toán kĩ lưỡng và nhận được sự đồng tình từ phía người lao động. (1.2) Xác định mức dự trữ tiền mặt tối ưu Mức tồn quỹ tiền mặt mục tiêu là một phần chuẩn mực để làm cơ sở cho các quyết định tài chính ngắn hạn như đầu tư tiền nhàn rỗi vào các loại tích sản sinh lợi, mức đầu tư nào là hợp lý và khi nào thì bán các tích sản này để bổ sung làm cân bằng cán cân tiền mặt. Do tiền mặt biến động hầu như liên tục và không thể giữ chúng ở mức vừa đúng với hạn mức chuẩn trong tất cả mọi thời điểm, do đó chúng ta phải thiết lập một mô hình để xác định mức tiền mặt mà công ty phải mua hay bán các loại chứng khoán thanh khoản cao. Việc thiết lập mức dự trữ tiền tối ưu không những đảm 10 Thang Long University Library bảo doanh nghiệp có đủ tiền để thực hiện thanh toán các chi phí giao dịch thường xuyên mà còn giúp cho lượng tiền nhàn rỗi được đem đi đầu tư sinh lời, gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nâng cao tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn. Người đầu tiên vận dụng mô hình EOQ vào quản trị tiền mặt là nhà khoa học người Hoa Kỳ William J.Baumol (1952). Mô hình cho rằng, mỗi doanh nghiệp đều có một dòng lưu kim thuần ổn định, là kết quả của dòng lưu kim chi phí và dòng lưu kim thu nhập trên phương diện kế hoạch. Giả sử một doanh nghiệp có kỳ vọng có dòng lưu kim thu nhập đều đặn là A/kỳ và dòng lưu kim chi phí là B/kỳ. Bởi vậy dòng lưu kim chi phí thuần là (B-A)/kỳ. Doanh nghiệp khởi sự các giao dịch chuyển tiền tệ ở đầu kỳ đầu tiên có cán cân tiền mặt là C (Hình 01). Với lượng tiền sử dụng ổn định mỗi kỳ là (B-A), số tiền này sẽ hết sau C/(B-A) kỳ. Tại thời điểm kết thức kỳ thứ C/(B-A), cán cân tiền mặt bằng 0 và cần phải bán một lượng chứng khoán có giá trị C để phục hồi cán cân tiền ban đầu. Như hình 02 cho thấy, cán cân tiền mặt khi bắt đầu các hoạt động là C và giảm dần đều đến hết mỗi chu kỳ C/(B-A). Bởi vậy, lượng tiền mặt trung bình của doanh nghiệp là C/2. Hình 1.1. Mô hình tồn quỹ tiền mặt Cán cân tiền mặt (C) C/2 Thời gian (B-A) (Nguồn: PGS.TS. Nguyễn Minh Kiều – Tài chính doanh nghiệp căn bản) Giả sử tỷ lệ sinh lời một năm do các công cụ của thị trường tiện tệ mang lại là I, thì phần lợi nhuận bị bỏ qua mỗi năm trên khoản tiền mặt trung bình là (C/2).I. Nhưng để có cán cân tiền mặt trung bình (C/2) thì cần phải bán lượng chứng khoán có giá trị là C tại những thời điểm mà cán cân tiền mặt bằng 0. Nếu tổng nhu cầu của dòng lưu kim thuần trong suốt năm được ký hiệu là T, thì số lần các loại chứng khoán được chuyển đổi thành tiền mặt là (T/C). Giả sử chi phí cho mỗi lần giao dịch là F thì tổng chi phí cho các giao dịch chuyển đổi các loại chứng khoán trong năm là (T/C).F. Trong đó: C = Trị giá của các loại chứng khoán được bán ra trong mỗi lần giao dịch 11 F = Tổng giá trị của dòng lưu kim thuần dự định cần đến trong năm k = Tỷ lệ sinh lời cơ hội của các công cụ được giao dịch trên thị trường tiền tệ Sử dụng các công cụ này, chúng ta có thể thiết lập công thức tính toán hai loại chi phí thành phần như sau: ề ị í ì á ỗ ầ â ị ề ứ ặ á Do đó, tổng chi phí (TC) cho việc tiến hành T/C lần chuyển đổi các loại chứng khoán, mỗi lần có giá trị C trong năm là: ( ) ( ) Từ đó, ta có thể thấy rằng tổng chi phí sẽ ở mức tối thiểu khi: √ C’ là mức dự trữ tiền mặt tối ưu. (1.3) Quản lý ngân quỹ Ngân quỹ có thể được hiểu là toàn bộ khoản tiền thu chi của một tổ chức hay đoàn thể. Quản lý ngân quỹ là sự tác động của các chủ thể quản lý trong doanh nghiệp lên các khoản thực thu và thực chi bằng tiền nhằm thay đổi mức tồn quỹ thực tế của doanh nghiệp sao cho ngân quỹ doanh nghiệp đạt mức tối ưu nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu và đảm bảo khả năng chi trả của doanh nghiệp trong từng thời kỳ trong điều kiện biến động của môi trường. Do vậy mà việc quản trị dòng tiền luôn được coi trọng, doanh nghiệp nên duy trì mức tồn quỹ hợp lý để vừa phù hợp với hoạt động kinh doanh, vừa đảm bảo khả năng thanh toán tức thời; tận dụng tối đa khả năng sinh lời của dòng tiền, không để tiền chết một chỗ quá lâu sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng tiền nói riêng và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói chung. Để giải quyết vẫn đề này thì các học giả trên thế giới đã đề xuất nhiều mô hình như Baumol, Miller – Orr,… Tuy nhiên, mô hình này chưa được ứng dụng rộng rãi tại doanh nghiệp Việt Nam. Dưới đây là mô hình Miller Orr, một mô hình quản lý tiên tiến và khoa học nên được áp dụng trong các doanh nghiệp. 12 Thang Long University Library Hình 1.2. Mô hình Miller - Orr Tiền mặt X H Z L Y Thời gian (Nguồn: PGS.TS. Nguyễn Minh Kiều – Tài chính doanh nghiệp căn bản) Có ba khái niệm cần chú ý trong mô hình này: Giới hạn trên (H), giới hạn dưới (L) và tồn quỹ tiền mặt (Z). Ban quản lý công ty thiết lập H căn cứ vào chi phí cơ hội giữ tiền mặt và thiết lập L căn cứ vào mức độ rủi ro thiếu tiền mặt. Công ty cho phép tồn quỹ biến động ngẫu nhiên trong phạm vi giới hạn và nếu như tồn quỹ vẫn nằm trong mức giới hạn trên và giới hạn dưới thì công ty không cần thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán ngắn hạn. Khi tồn quỹ đụng giới hạn trên tại điểm X thì công ty sẽ mua (H-Z) đồng chứng khoán ngắn hạn để giảm tồn quỹ trở về Z. Ngược lại, khi tồn quỹ giảm đụng giới hạn dưới tại điểm Y thì công ty sẽ bán (Z-L) đồng chứng khoán để tăng tồn quỹ lên đến điểm Z. Mô hình Miller Orr xác định mức tồn quỹ dựa vào chi phí cơ hội và chi phí giao dịch. Chi phí giao dịch (F) là chi phí liên quan đến việc mua bán chứng khoán ngắn hạn để chuyển đổi từ tài sản đầu tư cho mục đích sinh lời ra tiền mặt nhằm mục đích thanh toán. Chi phí giao dịch không phụ thuộc vào doanh số mua bán chứng khoán ngắn hạn. Chi phí cơ hội giữ tiền mặt là K, bằng lãi suất ngắn hạn. Trong mô hình Miller Orr, số lần giao dịch của một kỳ là số ngẫu nhiên thay đổi tùy thuộc vào biến động của luồng thu và luồng chi tiền mặt. Kết quả là chi phí giao dịch phụ thuộc vào số lần giao dịch chứng khoán ngắn hạn kỳ vọng còn chi phí cơ hội phụ thuộc vào tồn quỹ kỳ vọng. Với tồn quỹ thấp nhất L đã cho, giải mô hình Miller Orr chúng ta tìm được tồn quỹ mục tiêu (Z) và giới hạn trên (H). Giá trị của Z và H làm cho tổng chi phí tối thiểu được quyết định theo mô hinh Miller Orr là: √ H = 3Z – 2L Trong đó: F = Chi phí giao dịch ∂2 = Phương sai của dòng tiền mặt trong ngày 13 K = Chi phí cơ hội Tồn quỹ trung bình theo mô hình Milller Orr là: Caverage= (2) Chính sách quản lý khoản phải thu Khoản phải thu là giá trị các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp bán cho khách hàng và đang trong quá trình chờ khách hàng thanh toán. Quản lý khoản phải thu khách hàng rất quan trọng bởi nếu không thu được tiền đúng hạn doanh nghiệp sẽ thiếu một khoản thu, tốc độ quay vòng vốn chậm lại, doanh nghiệp lại phải phát sinh thêm chi phí quản lý, chi phí thu hồi nợ,... Nói cách khác, đây cũng chính là một rủi ro trong thanh toán mà doanh nghiệp phải đối mặt. Nếu doanh nghiệp quản lý tốt chính sách này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí quản lý, gia tăng lợi nhuận; đồng thời còn giúp doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi nợ, đẩy nhanh vòng quay các khoản phải thu và rút ngắn thời gian quay vòng tiền, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Chính vì vậy, để làm được những điều trên, đồng thời giảm rủi ro trong thanh toán, doanh nghiệp có thể xây dựng một chính sách tín dụng thông qua một số yếu tố sau: điều khoản bán trả chậm; phân tích tín dụng; quyết định tín dụng và chính sách thu tiền. Các yếu tố này được xem xét cụ thể như sau: (2.1) Điều khoản bán trả chậm Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong một ngành nghề, lĩnh vực khác nhau đều cung cấp tín dụng thương mại nhưng có sự khác biệt giữa các điều khoản. Nếu hàng hóa được sản xuất theo đơn đặt hàng thì khách hàng thường được yêu cầu tạm ứng một khoản tiền. Còn nếu đơn hàng là không thường xuyên hoặc có rủi ro thì doanh nghiệp sẽ yêu cầu khách hàng trả tiền ngay. Nếu việc cấp tín dụng là thường xuyên và kéo dài thì thời gian thanh toán có thể kéo dài thêm, thường là 30 – 60 ngày. Để khuyến khách khách hàng của mình thanh toán sớm, doanh nghiệp thường cung cấp chiết khấu thanh toán. Nếu công ty bán hàng với điều khoản tín dụng 2/10 net 30 tức là nếu khách hàng thanh toán trong vòng 10 ngày sẽ được hưởng chiết khấu thanh toán 2%, còn nếu không thì khách hàng phải đảm bảo trả nợ trong vòng 30 ngày. Một đặc điểm trong điều khoản bán chậm đó là khi nghi ngờ khả năng thanh toán của khách hàng, doanh nghiệp có thể áp dụng công cụ hối phiếu – một loại giấy quy định cụ thể thời hạn trả tiền của người mua vào một thời điểm nhất định. Việc áp dụng điều khoản bán hàng trả chậm giúp doanh nghiệp dễ dàng thu hút thêm lượng khách hàng mới, đồng thời gia tăng khối lượng đơn hàng, giúp doanh nghiệp tăng trưởng doanh thu. Tuy nhiên, trong trường hợp khách hàng chậm thanh toán sẽ gây ra những bất lợi cho doanh nghiệp, trước hết là sự ảnh hưởng đến kế hoạch thu hồi vốn cho kỳ sản xuất kinh 14 Thang Long University Library doanh mới, thứ hai sẽ khiến cho khoản phải thu khách hàng tăng lên, chi phí thu tiền bán hàng cũng tăng lên, ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận của doanh nghiệp. (2.2) Phân tích tín dụng Phân tích tín dụng là yếu tố cần thiết để quyết định có bán trả chậm cho khách hàng hay không, quy định điều khoản tín dụng cụ thể cho khách hàng như thế nào. Để phân tích tín dụng khách hàng, doanh nghiệp thông thường thu thập một số thông tin: Thứ nhất, phân tích tín dụng từ các báo cáo tài chính: Dựa vào những báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp, doanh nghiệp có thể xác định mức độ ổn định, tự chủ tài chính và khả năng chi trả của khách hàng. Thứ hai, phân tích tín dụng từ các xếp hạng tín dụng báo cáo: Doanh nghiệp tham khảo bảng xếp hạng tín dụng của các tổ chức có uy tín trong việc đánh giá khả năng tín dụng của khách hàng. Báo cáo tín dụng thường bao gồm:  Tóm tắt báo cáo tài chính  Các chỉ số quan trọng và có xu hướng thay đổi theo thời gian.  Các thông tin về mô hình thanh toán của đối tượng đang xét.  Bản mô tả điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh bất thường liên quan đến doanh nghiệp đang xét.  Tư cách tín dụng của khách hàng thông qua điều tra trực tiếp hoặc thông qua các trung tâm xử lý dữ liệu. Cuối cùng, phân tích tín dụng từ kinh nghiệm của doanh nghiệp: Dựa trên kinh nghiệm của bản thân, nhà quản lý cũng có thể đánh giá vị thế tín dụng của các khách hàng tiềm năng của mình. Khi đã thu thập đủ thông tin tín dụng, doanh nghiệp sẽ đưa ra quyết định có cung cấp tín dụng hay không. (2.3) Quyết định tín dụng Sau khi đã thực hiện thu thập thông tin tín dụng, doanh nghiệp sẽ cân nhắc việc cung cấp tín dụng thông qua chỉ tiêu NPV thông qua ba mô hình dưới đây: Quyết định tín dụng khi xem xét một phương án: Mô hình này so sánh giá trị hiện tại của lợi ích (giá trị dòng tiền vào hay dòng tiền sau thuế của các năm) và chi phí của việc cấp tín dụng với một mức rủi ro cho trước. CF0 = VC * S * (ACP/360) = [S *(1 – VC) – S * BD – CD]* (1 – T) Trong đó: CFt: Dòng tiền thu được sau thuế trong mỗi thời kỳ CF0: Dòng tiền đầu tư vào khoản phải thu khách hàng k: Tỷ lệ thu nhập theo yêu cầu 15 VC: Luồng tiền ra biến đổi, được tính theo tỷ lệ % dòng tiền vào S: Doanh thu dự kiến trong từng thời kỳ ACP: Thời gian thu tiền trung bình (ngày) BD: Tỷ lệ nợ xấu trên doanh thu CD: Luồng tiền gia tăng của bộ phận tín dụng T: Thuế suất thuế TNDN Từ kết quả thu được, nhà quản lý đưa ra quyết định dựa trên nguyên tắc giá trị hiện tại ròng: + NPV > 0: cấp tín dụng + NPV = 0: bàng quan + NPV < 0: không cấp tín dụng Quyết định cấp tín dụng giữa phương án trả tiền ngay và bán trả chậm: Trước tiên ta xem xét một số điểm khác nhau giữa việc cấp tín dụng và không cấp tín dụng. Số lƣợng sản phẩm bán (Q): Nếu coi số lượng sản phẩm bán trước khi cung cấp tín dụng là Q0 và số lượng sản phẩm khi cho khách hàng nợ là Q1 thì Q1 > Q0 do việc cung cấp tín dụng sẽ tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp trong tiêu thụ và làm tăng doanh số bán. Giá bán trên một sản phẩm (P): Giá bán sau khi cung cấp tín dụng thường cao hơn giá bán trước khi cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp sẽ đánh đổi rủi ro thất thoát vốn khi cho khách hàng nợ với lợi nhuận kiếm được từ hoạt động bán hàng. Chi phí bình quân (AC): Chi phí của doanh nghiệp sẽ đội lên (AC1 > AC0) khi doanh nghiệp quyết định cấp tín dụng do có nhiều khả năng sẽ gặp phải những khoản nợ xấu và phải xóa nợ hay nới lỏng chính sách tín dụng, khoản này được coi là chi phí nợ xấu và làm tăng chí phí hợp lý của doanh nghiệp. Xác suất thanh toán: khi doanh nghiệp không cung cấp tín dụng mà thu tiền ngay thì xác suất thanh toán lúc này là 100%, do tất cả các lần bán của doanh nghiệp đều thu ngay bằng tiền. Nếu gọi h1 là xác suất thanh toán của doanh nghiệp cấp tín dụng cho khách hàng thì xác suất này sẽ nhỏ hơn 100% do khả năng xảy ra việc khách hàng không thanh toán là rất cao. Thời gian nợ: Khi doanh nghiệp không cấp tín dụng mà thu tiền ngay thì thời gian cho khách hàng nợ là bằng 0. Ngược lại, khi doanh nghiệp cấp tín dụng thì sẽ có một khoảng thời gian t kể từ khi khách hàng xác nhận nợ cho đến khi khách hàng thanh toán khoản nợ đó. T lệ chiết khấu: Đại diện cho chi phí cơ hội của việc đầu tư vào tài khoản phải thu khách hàng, là lãi suất được hưởng khi đầu tư vào tài sản sinh lời khác thay vì bị ứ đọng vốn trong khoản phải thu khách hàng. Để đưa ra quyết định có nên cấp tín 16 Thang Long University Library dụng hay không, nhà quản lý tài chính phải so sánh giá trị hiện tại ròng của từng phương án: NPV0 =P0Q0 – AC0Q0 Trong đó: NPV0 = Giá trị hiện tại ròng khi chưa cấp tín dụng NPV1 = Giá trị hiện tại ròng khi cấp tín dụng P0, Q0, AC0: Giá bán, số lượng bán và chi phí sản xuất bình quân khi không cấp tín dụng. P1, Q1, AC1: giá bán, số lượng bán và chi phí sản xuất bình quân khi cấp tín dụng. h: xác suất thanh toán Rt: tỷ suất chiết khấu thanh toán Cơ sở để ra quyết định:  NPV1 > NPV0: cấp tín dụng  NPV1 = NPV0: bàng quan  NPV1 < NPV0: không cấp tín dụng Quyết định cấp tín dụng khi sử dụng thông tin rủi ro, nhà quản lý có thể đầu tư thêm một phần chi phí để có thêm thông tin về rủi ro tín dụng sau đó mới đưa ra quyết định cuối cùng. Trong đó: NPV2: giá trị hiện tại ròng khi cấp tín dụng và có sử dụng đến thông tin rủi ro C: chi phí sử dụng thông tin rủi ro tín dụng Cơ sở để ra quyết định:  NPV2 > NPV1 : cấp tín dụng  NPV2 = NPV1 : bàng quan  NPV2 < NPV1 : không cấp tín dụng (2.4) Chính sách thu tiền Sau khi đưa ra quyết định cấp tín dụng cho khách hàng, doanh nghiệp cần thường xuyên theo dõi các khoản phải thu dựa trên thời gian thu nợ trung bình (ACP). Thời gian thu nợ trung bình là khoảng thời gian được tính theo ngày trung bình kể từ khi khách hàng nhận nợ cho đến khi khách hàng trả nợ cho doanh nghiệp. 17 Doanh nghiệp cần thường xuyên theo dõi các khoản nợ để nhanh chóng đối phó với các tình huống xảy ra bất ngờ như khách hàng phá sản, mất tích bằng việc trích lập dự phòng rủi ro. Chính sách thu tiền hay phương thức thu hồi nợ quá hạn bao gồm nhiều hình thức như: gửi thư, gọi điện thoại, cử người trực tiếp, ủy quyền thu nợ v.v.. các hình thức này càng cứng rắn thì cơ hội thu hồi nợ càng cao hơn nhưng có thể tiềm ẩn nguy cơ giảm doanh số do khách hàng thấy khó chịu khi bị thu nợ gắt gao.. (3) Chính sách quản lý hàng tồn kho Ngoài tiền và các khoản phải thu trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, một phần lớn tài sản ngắn hạn còn được phân bổ vào hàng tồn kho. Hàng tồn kho được xem như là một bộ phận của tài sản ngắn hạn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, duy trì hàng tồn kho cũng có những mặt trái của nó là làm phát sinh chi phí liên quan đến tồn kho bao gồm chi phí kho bãi, bảo quản và cả chi phí cơ hội do kẹt vốn đầu tư vào hàng tồn kho. Quản trị hàng tồn kho cần lưu ý xem xét sự đánh đổi giữa lợi ích và phí tổn của việc duy trì hàng tồn kho. Trong hoạt động quản lý hàng tồn kho, doanh nghiệp cần tập trung xác định mức dự trữ tối ưu thông qua mô hình đặt hàng hiệu quả nhất – EOQ. Mô hình được dựa trên giả định là những lần cung cấp hàng hoá là bằng nhau. Khi doanh nghiệp tiến hành dự trữ hàng hoá sẽ kéo theo hàng loạt các chi phí như chi phí bốc xếp hàng hoá, chi phí bảo quản, chi phí đặt hàng, chi phí bảo hiểm … nhưng chung quy lại có hai loại chi phí chính: Chi phí lưu kho (Chi phí tồn dự trữ): Đây là chi phí liên quan đến việc tồn trữ hàng hoá, loại này bao gồm: - Chi phí hoạt động như chi phí bốc xếp hàng hoá, chi phí bảo hiểm hàng hoá, chi phí do giảm giá trị hàng hoá, chi phí hao hụt mất mát, chi phí bảo quản… - Chi phí tài chính bao gồm chi phí sử dụng vốn như trả lãi tiền vay, chi phí về thuế, khấu hao… Nếu gọi mỗi lần cung ứng hàng hoá là Q thì dự trữ cung ứng trung bình sẽ là Q/2. Hình 1.3. Mô hình tồn kho theo thời gian Q Q/2 Dự trữ trung bình Thời gian (Nguồn: PGS.TS. Nguyễn Minh Kiều – Tài chính doanh nghiệp căn bản) 18 Thang Long University Library Gọi C1 là chi phí lưu kho đơn vị hàng hoá thì tổng chi phí lưu kho của doanh nghiệp sẽ là: C1*Q/2 Tổng chi phí lưu kho bình quân sẽ tăng nếu số lượng hàng hoá mỗi lần cung ứng tăng. Chi phí đặt hàng (Chi phí hợp đồng): Chi phí đặt hàng bao gồm chi phí quản lý giao dịch và vận chuyển hàng hoá, chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thường ổn định không phụ thuộc vào số lượng hàng hoá được mua. Nếu gọi D là toàn bộ số lượng hàng hoá cần sử dụng trong một đơn vị thời gian (năm, quý, tháng) thì số lượng lần cung ứng hàng hoá sẽ là D/Q. Gọi C2 là chi phí mỗi lần đặt hàng thì tổng chi phí đặt hàng sẽ là: C2*D/Q Tổng chi phí đặt hàng tăng nếu số lượng mỗi lần cung ứng giảm. Gọi TC là tổng chi phí tồn trữ hàng hoá, ta có công thức: TC = C1*Q/2 + C2*D/Q Ta có thể tìm Q* bằng cách lấy vi phân TC theo Q ta có: √ Hình 1.4. Mô hình lƣợng đặt hàng kinh tế (EOQ) C Tổng chi phí Chi phí lưu kho Chi phí đặt hàng 0 Q* Q (Nguồn: PGS.TS. Nguyễn Minh Kiều – Tài chính doanh nghiệp căn bản) Qua hình trên ta thấy khối lượng hàng hoá cung ứng mỗi lần là Q* thì tổng chi phí dự trữ là thấp nhất. 1.2.3.3. Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp các hệ thống chỉ tiêu tài chính được đưa ra để đánh giá các hoạt động của doanh nghiệp trong một niên độ kế toán là không thể thiếu. Qua quá trình phân tích hệ thống chỉ tiêu này thì doanh nghiệp có thể 19 đánh giá hiệu quả hoạt động của mình và đưa ra các giải pháp cần thiết để khắc phục khó khăn trong niên độ tiếp theo. Để đánh giá khách quan hiệu quả sử dụng TSNH chúng ta có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau như sau: (1) Khả năng thanh toán Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, cho nên việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn là sự lựa chọn đánh đổi giữa khả năng sinh lời với tính thanh khoản. Do đó, khi phân tích khả năng thanh toán để thông qua đó phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây:  Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn Tài sản ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là chỉ tiêu cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng TSNH là cao hay thấp. Nợ ngắn hạn là những khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh. Nếu một doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, doanh nghiệp sẽ chi trả cho các hóa đơn thanh toán bị chậm trễ (các khoản phải trả nhà cung cấp) hoặc đi vay thêm tiền từ ngân hàng,… Tất cả những hoạt động này sẽ làm cho khoản nợ ngắn hạn tăng lên. Nếu nợ ngắn hạn tăng nhanh hơn tài sản ngắn hạn, khả năng thanh toán ngắn hạn sẽ giảm xuống và đây là dấu hiệu của khó khăn, rắc rối tài chính có thể xảy đến đối với doanh nghiệp. Thông thường, nếu trị số của chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1, doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thường hoặc khả quan. Tuy nhiên, nếu hệ số này cao quá sẽ giảm hiệu quả hoạt động vì doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn. Ngược lại, nếu “Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn” < 1, doanh nghiệp không bảo đảm đáp ứng được các khoản nợ ngắn hạn. Trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 1, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng thấp.  Hệ số khả năng thanh toán nhanh Hệ số khả năng thanh toán nhanh Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho Tổng nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán nhanh là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng thanh toán trong thời gian ngắn các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng các tài sản dễ chuyển đổi thành tiền. Hàng tồn kho trong công thức này bị tách ra bởi đây là khoản mục có tính thanh khoản kém nhất trong các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, vì thế chúng là tài sản có khả năng lớn nhất bị thiệt hại giá trị trong trường hợp thanh lý. Chỉ tiêu này cao quá, kéo dài cũng không tốt, có thể dẫn tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn giảm. Hệ số khả năng thanh toán cao tức là tài sản ngắn hạn dễ chuyển 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -