Tài liệu Khóa luận tốt nghiệp giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty tnhh ánh dung

  • Số trang: 74 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 46 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39907 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1. Một số vấn đề cơ bản về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm tài sản ngắn hạn Mỗi doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài TSCĐ thì một bộ phận không thể thiếu đó là TSNH. TSNH sẽ đóng góp đối tượng lao động vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm tạo ra thành phẩm, hàng hóa. Đã có nhiều khái niệm và quan điểm về TSNH được đưa ra bởi các nhà kinh tế học cụ thể như sau: Theo PGS. TS Lưu Thị Hương, giáo trình Tài Chính Doanh Nghiệp, Đại học Kinh tế quốc dân, Nhà xuất bản Thống Kê, năm 2012: “Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ hàng tồn kho.” Theo Josette Peyrard, giáo trình Phân Tích Tài Chính Doanh Nghiệp, Nhà xuất bản tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2004: “Tài sản ngắn hạn là tập hợp tất cả các tài sản Có, không tồn tại lâu dài trong doanh nghiệp.” Theo Nguyễn Tấn Bình, giáo trình Quản Trị Tài Chính Ngắn Hạn, Nhà xuất bản Thống Kê, Tp. Hồ chí Minh, năm 2002: “Tài sản ngắn hạn là toàn bộ tài sản được biểu hiện bằng tiền hoặc dưới dạng hình thái vật chất có thời hạn sử dụng, thu hồi dưới một năm.” Theo TS. Nguyễn Thị Hải Sản, Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Thống Kê, Hà Nội, 2010: “Tài sản ngắn hạn là đối tượng lao động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp được biểu hiện dưới dạng hình thái vật chất: - Vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục như năng lượng, nguyên vật liệu thành phẩm, sản phẩm dở dang và các tài sản ngắn hạn khác.” Như vậy có rất nhiều khái niệm về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp, nhưng tựu chung lại ta có thể hiểu: Tài sản ngắn hạn là biểu hiện bằng tiền, vật tƣ hàng hóa, các khoản đầu tƣ ngắn hạn, các khoản phải thu, những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có thời gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển giá trị trong vòng một năm hoặc một chu kì kinh doanh của doanh nghiệp. 1 1.1.2. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Luôn thay đổi hình thái biểu hiện qua các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Tài sản ngắn hạn tồn tại ở tất cả các khâu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ khâu dự trữ, tiếp đến là khâu sản xuất và cuối cùng là lưu thông ngoài thị trường dưới hình thái sản phẩm. Do đó, để phục vụ tốt nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì TSNH tồn tại dưới các dạng hình thái vật chất khác nhau. Tài sản ngắn hạn vận động không ngừng. Tài sản ngắn hạn tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, luôn luôn luân chuyển qua nhiều hình thái khác nhau, tham gia vào tất các các khâu sản xuất trong quá trình tạo ra thành phầm. Do đó, tài sản ngắn hạn luôn vận động không ngừng. Giá trị của TSNH đƣợc chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị hàng hóa khi kết thúc một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn là yếu tố chính cấu thành lên hàng hóa. Điều này cho thấy mọi chi phí phát sinh trong quá trình biến đổi tài sản ngắn hạn thành thành phẩm được tính vào giá thành của sản phẩm trước khi đưa ra thị trường. Tốc độ chu chuyển của tài sản ngắn hạn nhanh, thời gian để tài sản ngắn hạn từ giai đoạn khởi đầu qua các giai đoạn khác nhau, đến giai đoạn cuối rồi trở lại với hình thái ban đầu. Để tạo ra một thành phẩm hoàn chỉnh doanh nghiệp tùy thuộc vào độ phức tạp của thành phẩm song không quá một năm hoặc một chu kì kinh doanh. Nếu thành phẩm đó được đưa ra thị trường và được tiêu thụ ngay thì TSNH đã được trở lại với hình thái ban đầu là tiền. Vì vậy đa số các TSNH có tốc độ chu chuyển ngắn, phản ánh từ tình hình sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Đa số các tài sản ngắn hạn có thời gian sử dụng dưới một năm, ngoài ra còn kể đến yếu tố thị hiếu của người tiêu dùng nên các doanh nghiệp luôn cố gắng rút ngắn thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn để bắt kịp môi trường kinh doanh thay đổi không ngừng. Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao. Thời gian luân chuyển của tài sản ngắn hạn ngắn, thường dưới 1 năm. Giúp doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi lại bằng tiền để có thể tái đầu tư cho chu kì sản xuất kinh doanh tiếp theo. Do đó, tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao. 1.1.3. Vai trò của tài sản ngắn hạn Là điều kiện tiên quyết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong bất cứ doanh nghiệp nào, tài sản ngắn hạn cũng là một phần không thể thiếu trong cơ cấu tài sản của mình. Để tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài TSCĐ, doanh nghiệp còn phải có tiền, các nguyên, nhiên vật liệu… phục vụ cho quá trình sản xuất. Nếu thiếu các yếu tố này thì hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ không thể diễn ra 2 Thang Long University Library được. Như vậy, tài sản ngắn hạn là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động hay nói cách khác tài sản ngắn hạn là điều kiện tiên quyết cho quá trình sản xuất kinh doanh của bất cứ doanh nghiệp nào. Là điều kiện vật chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Do đặc điểm của đối tượng lao động là giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị hàng hóa nên trong chu kì sản xuất kinh doanh phải thường xuyên mua sắm, dự trữ vật tư để đảm bảo quá trình tái sản xuất. Lượng tài sản ngắn hạn có hợp lý, đồng bộ thì mới không làm gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh. Quyết định đến quy mô hoạt động. Nếu một công ty có quy mô sản xuất lớn thì quy mô về TSNH cũng phải lớn để có thể đáp ứng, cũng như đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục là tiền đề cho sự tăng trưởng cũng như sự phát triển, giúp doanh nghiệp chớp thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh. Là công cụ để phản ánh, kiểm tra, kiểm soát, đánh giá khách quan quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn tham gia vào tất cả các khâu sản xuất, kinh doanh. Ở mỗi khâu thì tài sản ngắn hạn lại tồn tại dưới một hình thái khác nhau. Thông qua các khâu sản xuất này sẽ phản ánh được quy mô sản xuất cũng như giúp doanh nghiệp dễ dàng kiểm tra, kiểm soát tài sản ngắn hạn của mình. Đóng vai trò quyết định đến giá thành hàng hóa sản phẩm của doanh nghiệp. Trong rất nhiều yếu tố chủ yếu cấu thành nên giá thành, ta không thể nào không nhắc đến TSNH. Đó là do chính đặc điểm luân chuyển một lần vào toàn bộ giá trị sản phẩm. Giá trị của hàng hóa bán ra được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi nhuận. Do vậy, TSNH đóng vai trò quyết định giá cả hàng hóa bán ra. Giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh toán ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn có thể nhanh chóng thu hồi về bằng tiền, có tính thanh khoản cao. Từ đó giúp cho doanh nghiệp tránh khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán và chặn đứng nguy cơ phá sản doanh nghiệp. 1.1.4. Phân loại tài sản ngắn hạn 1.1.4.1. Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán. 3 Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất… Tài sản ngắn hạn trong khâu lƣu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, các khoản nợ phải thu của khách hàng. Theo cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn để đưa ra biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng một cách cao nhất. 1.1.4.2. Căn cứ vào phạm vi sử dụng Tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh chính Đối với doanh nghiệp sản xuất thì tài sản ngắn hạn sử dụng trong trong hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu là nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang… cụ thể như sau: Nguyên vật liệu chính: Gồm giá trị của những loại nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất và là bộ phận cơ bản cấu thành nên sản phẩm. Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì nó chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất, có thể kết hợp với vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dạng bề ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình sản xuất diễn ra bình thường. Nhiên liệu: Thực chất là một loại vật liệu phụ nhưng có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm diễn ra bình thường. Công cụ, dụng cụ: Là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, chúng không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định vì giá trị nhỏ và thời gian sử dụng tương đối ngắn. Công cụ, dụng cụ sử dụng trong doanh nghiệp được chia làm hai loại:  Công cụ, dụng cụ đƣợc phân bổ một lần (phân bổ 100%): Đây là loại công cụ, dụng cụ khi xuất kho đem sử dụng, toàn bộ giá trị của chúng được phân bổ hết vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kì của doanh nghiệp. Loại công cụ này được áp dụng với các loại công cụ, dụng cụ có giá trị nhỏ, phát huy tác dụng trong thời gian ngắn, chúng không ảnh hưởng lớn đến tổng chi phí sản xuất kinh doanh trong kì của doanh nghiệp.  Công cụ, dụng cụ đƣợc phân bổ nhiều lần: Là loại công cụ, dụng cụ có giá trị lớn, thời gian sử dụng tương đối dài và hư hỏng có thể sửa chữa. 4 Thang Long University Library Sản phẩm dở dang: Là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất chưa được hoàn thiện, đang nằm trên các địa điểm làm việc chờ được chế biến tiếp. Tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động kinh doanh phụ Để linh hoạt trong sử dụng tài sản trên thực tế hiện nay người ta dùng tài sản ngắn hạn để chi trả cho công tác sửa chữa. Căn cứ vào đặc điểm kinh tế và kĩ thuật sửa chữa được phân thành hai loại: sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn tài sản lưu động. Ngoài ra tài sản ngắn hạn còn sử dụng trong hoạt động kinh doanh phụ như: hoạt động cung cấp dịch vụ, lao vụ… Tài sản ngắn hạn sử dụng trong công tác quản lý doanh nghiệp: Công tác quản lý doanh nghiệp bao gồm cả quản lý kinh doanh và quản lý hành chính. Tài sản ngắn hạn được sử dụng cho văn phòng bao gồm: Vật liệu cho văn phòng, cho phương tiện vận tải; công cụ, dụng cụ văn phòng phẩm: giấy, bút, mực, bàn ghế…, khoản tạm ứng: hội nghị, tiếp khách, đào tạo cán bộ. 1.1.4.3. Căn cứ theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán Tiền: là bộ phận tài sản ngắn hạn tồn tại dưới hình thái tiền tệ bao gồm: Tiền mặt tại quỹ: Là số tiền mà doanh nghiệp đang giữ tại quỹ của mình bao gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ, ngân phiếu, các loại chứng từ, tín phiếu có giá trị như tiền, vàng bạc, kim khí quý đang được giữ tại quỹ. Tiền gửi ngân hàng: Là số tiền hiện có trên tài khoản tiền gửi ngân hàng của doanh nghiệp tại ngân hàng, công ty tài chính nếu có. Bao gồm: tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý… Tiền đang chuyển: Là số tiền mà doanh nghiệp đã nộp vào ngân hàng hay đã gửi qua bưu điện, đang làm thủ tục trích chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp sang tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp khác mà doanh nghiệp chưa nhận được giấy báo Có của ngân hàng. Đầu tư ngắn hạn Bao gồm các chứng khoán ngắn hạn , các khoản đầu tư ngắn hạn khác, các khoản dự phòng đầu tư ngắn hạn… Đây là khoản mục vừa có tính thanh khoản cao, dễ dàng chuyển đổi thành tiền mà tốn ít chi phí và có khả năng sinh lời. Để đáp ứng nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này. Các khoản phải thu Là toàn bộ các khoản mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thu từ các đối tượng khác: Phải thu khách hàng, phải thu nội bộ, các khoản thế chấp, cầm cố, kí quỹ… Trong các doanh nghiệp, việc mua bán chịu là thường xuyên xảy ra, đôi khi để thực hiện các điều khoản hợp đồng kinh tế doanh nghiệp phải trả trước một khoản nào đó, từ đây nó hình thành nên các khoản thu của doanh nghiệp. Khi các khách hàng trả 5 nợ của doanh nghiệp thất bại, rủi ro trong kinh doanh là nguyên nhân làm phát sinh các khoản nợ khó đòi. Vì vậy, việc trích lập các khoản dự phòng là cần thiết, nó sẽ đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường và tương đối ổn định. Khoản chi dự phòng này là một bộ phận trong khoản phải thu và là một phần của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp. Hàng tồn kho Hàng tồn kho bao gồm toàn bộ giá trị tồn kho của doanh nghiệp như nguyên vật liệu, hàng hóa, thành phẩm, chi phí sản xuất dơ dang, công cụ dụng cụ... và chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Tồn kho trong quá trình sản xuất là các loại nguyên liệu nằm tại từng công đoạn của dây truyền sản xuất. Thông thường quá trình sản xuất của các doanh nghiệp được chia thành nhiều công đoạn, giữa những công đoạn này bao giờ cũng tồn tại những bán thành phẩm. Đây là những bước đệm để quá trình sản xuất được liên tục. Nếu dây truyền sản xuất càng dài và càng có nhiều công đoạn thì tồn kho trong quá trình sản xuất sẽ càng lớn. Tài sản ngắn hạn khác Các khoản tạm ứng Là các khoản tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp giao cho người nhận tạm ứng để thực hiện hoạt động kinh doanh nào đó hoặc giải quyết một công việc đã được phê duyệt. Các phí trả trƣớc Là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng đến kết quả hoạt động của nhiều kì thanh toán, cho nên chưa thể tính vào chi phí sản xuất kinh doanh một kì mà được tính cho hai hay nhiều kì hạch toán. Qua cách phân loại như trên ta thấy tình hình tài sản ngắn hạn hiện có của doanh nghiệp về hình thái vật chất cũng như đặc điểm của từng loại tài sản ngắn hạn, để có thể đánh giá việc sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có hợp lý và hiệu quả không, từ đó phải tăng cường các biện pháp nâng cao hiểu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. 1.2. Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề mà các doanh nghiệp quan tâm, quản trị sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại trên thị trường. Để đạt được hiệu quả đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhiều cố gắng và có 6 Thang Long University Library những chiến lược hợp lý từ khâu sản xuất cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng Tuy nhiên để đi đến mục đích là lợi nhuận đã đề ra thì vấn đề chung mà các doanh nghiệp đều phải quan tâm chú trọng đến hiệu quả sử dụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn là một bộ phận của tài sản và được cấu thành từ nguồn vốn của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp, bởi khác với tài sản cố định, tài sản ngắn hạn cần các biện pháp linh hoạt, kịp thời phù hợp với từng thời điểm thì mới đem lại hiệu quả cao. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một trong những căn cứ đánh giá năng lực sản xuất, chính sách dự trữ, tiêu thụ sản phẩm và nó cũng ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp. Ngoài mục tiêu sử dụng cho mua sắm, dự trữ, tài sản ngắn hạn còn được sử dụng trong thanh toán. Bởi vậy, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn còn thể hiện ở khả năng đảm bảo lượng tài sản ngắn hạn cần thiết để thực hiện thanh toán. Đảm bảo đầy đủ tài sản ngắn hạn trong thanh toán sẽ giúp doanh nghiệp tự chủ hơn trong kinh doanh tạo uy tín với bạn hàng và khách hàng. Vì vậy ta có thể hiểu, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, khả năng khai thác và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí. 1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có một lượng tài sản nhất định và nguồn vốn tài trợ tương ứng, không có tài sản sẽ không có bất kì hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Song việc sử dụng tài sản như thế nào cho có hiệu quả cao mới là nhân tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp. Với ý nghĩa đó, việc quản lý, sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng là một nội dung rất quan trọng của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả từng đồng tài sản ngắn hạn nhằm làm cho tài sản ngắn hạn được thu hồi sau mỗi kì sản xuất. Việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn cho phép rút ngắn thời gian chu chuyển vốn, qua đó vốn được thu hồi nhanh hơn, có thể giảm bớt được số tài sản ngắn hạn cần thiết mà vẫn hoàn thành được khối lượng sản phẩm hàng hóa bằng hoặc lớn hơn trước. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông và hạ giá thành sản phẩm. Hơn nữa, mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thu được lợi nhuận và lợi ích xã hội chung nhưng bên cạnh đó một vấn đề quan trọng đặt cho 7 các doanh nghiệp là tối thiểu cần phải bảo toàn tài sản ngắn hạn. Do đặc điểm tài sản ngắn hạn lưu chuyển toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm và hình thái tài sản ngắn hạn thường xuyên biến đổi vì vậy vấn đề bảo toàn tài sản ngắn hạn chỉ xét trên mặt giá trị. Bảo toàn tài sản ngắn hạn thực chất là đảm bảo cho số vốn cuối kì đủ mua một lượng vật tư, hàng hóa tương đương với đầu kì khi giá cả hàng hóa tăng lên, thể hiện ở khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự trữ và tài sản ngắn hạn định mức nói chung, duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn còn giúp cho doanh nghiệp luôn có được trình độ sản xuất kinh doanh phát triển, trang thiết bị, kĩ thuật được cải tiến. Việc áp dụng kĩ thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại sẽ tạo ra khả năng rộng lớn để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường. Đặc biệt khi khai thác được các tài sản, sử dụng tốt tài sản ngắn hạn, nhất là việc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài sản ngắn hạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh để giảm bớt nhu cầu vay vốn cũng như việc giảm chi phí lãi vay. Từ những lý do trên, cho thấy sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp. Đó là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của một doanh nghiệp, xa hơn nữa là sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. 1.2.3. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.2.3.1. Phân tích quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn (1) Phân tích quy mô tài sản ngắn hạn Quy mô tài sản ngắn hạn được hiểu là số lượng tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản của doanh nghiệp. Việc so sánh quy mô tài sản ngắn hạn với quy mô tài sản dài hạn sẽ cho thấy bức tranh tổng quát về lượng vốn đầu tư cho từng loại tài sản của doanh nghiệp. Quy mô tài sản ngắn hạn cao hay thấp tùy thuộc vào loại hình hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp. Đối với những doanh nghiệp thương mại, chuyên phân phối hàng hóa, sản phẩm thì quy mô tài sản ngắn hạn luôn rất cao, thường chiếm đến hơn 90% tổng tài sản. Mặt khác, những doanh nghiệp sản xuất hay các doanh nghiệp vận tải, xây dựng... lại có quy mô tài sản ngắn hạn thấp hơn một chút do đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp này yêu cầu phải đầu tư nhiều hơn cho tài sản dài hạn. Xem xét quy mô tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp nhằm đánh giá xem liệu lượng vốn đầu tư cho tài sản ngắn hạn có phù hợp với đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp hay không. Từ đó, đưa ra những điều chỉnh trong chính sách đầu tư nhằm tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Việc tăng giảm quy mô TSNH phản ánh quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát triển hay thu hẹp. Muốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh thì cần phải đầu tư và mua sắm thêm TSNH để đáp ứng cho các khâu sản xuất, tránh tình trạng thiếu hụt đối tượng lao động dẫn tới gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh. Đi 8 Thang Long University Library kèm với việc tăng quy mô TSNH đòi hỏi doanh nghiệp sử dụng TSNH một các có hiệu quả. Từ đó giúp hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn được duy trì và nâng cao thông qua đó doanh nghiệp sẽ có xu hướng tăng trưởng bền vững. Ngược lại việc thu hẹp quy mô TSNH cho thấy sự thu hẹp về quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đang trong tình trạng khó khăn sẽ phải cắt giảm sản xuất để tiết kiệm chi phí dẫn tới cắt giảm quy mô đầu tư TSNH. Mặc dù thu hẹp quy mô TSNH nhưng hiệu quả sử dụng TSNH vẫn phải nâng cao. Hiệu quả sử dụng TSNH có tốt thì mới giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, giảm bớt gánh nặng khó khăn cho doanh nghiệp. (2) Phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn Xem xét cơ cấu tài sản ngắn hạn tức là xem xét tỷ trọng từng khoản mục tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản ngắn hạn, nó cho biết trong tổng tài sản ngắn hạn, khoản mục nào đang được doanh nghiệp đầu tư nhiều nhất, từ đó đánh giá được cơ cấu tài sản ngắn hạn đã hợp lý hay chưa. Phân tích cơ cấu tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền Nếu tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền đang chiếm phần lớn trên tổng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thì ta có thể đưa ra kết luận rằng doanh nghiệp đấy đang dự trữ quá nhiều tiền. Việc dự trữ nhiều tiền trong tài khoản sẽ tăng khả năng thanh toán của doanh nghiệp, nhưng mặt khác nó gây lãng phí do không được đưa vào quá trình đầu tư, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền quá thấp thì doanh nghiệp sẽ dễ gặp phải rủi ro thanh khoản. Hơn nữa, dự trữ tiền mặt trong tài khoản quá thấp cũng gây ảnh hưởng đến việc chi tiêu trong các hoạt động thường ngày của doanh nghiệp, phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là thấp. Phân tích cơ cấu các khoản đầu tƣ tài chính ngắn hạn Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao cho thấy doanh nghiệp đang đầu tư nhiều vào hoạt động tài chính như: mua các chứng khoán, trái phiếu, tín phiếu ngắn hạn hay đầu tư nhiều tiền nhàn rỗi vào các khoản tiền gửi có kỳ hạn trong ngân hàng, các hình thức đầu tư này đều đem lại nguồn doanh thu tài chính ổn định, do đó hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp là có hiệu quả. Tỷ trọng các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào loại hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Dù tỷ trọng cao hay thấp mà đem loại kết quả đầu tư tương ứng thì cho thấy doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả sử dụng TSNH và ngược lại. Thật vậy, thường thì các doanh nghiệp không chuyên về lĩnh vực tài chính sẽ hạn chế đầu tư vào các khoản tài chính ngắn hạn để tránh rủi ro do hạn chế về mặt kiến thức của lĩnh vực 9 này. Những biến động của thị trường chứng khoán, tỷ lệ lạm phát hay lãi suất ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ trọng các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp. Phân tích cơ cấu các khoản phải thu: Các khoản phải thu thực chất là đồng vốn mà doanh nghiệp bị đối tác (có thể là khách hàng hoặc nhà cung cấp) chiếm dụng, vì thế về nguyên tắc cơ cấu các khoản phải thu càng nhỏ sẽ càng tốt. Tuy nhiên nếu quá nhỏ lại phản ánh chính sách bán hàng chặt chẽ, sẽ không thúc đẩy khách hàng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Cơ cấu, tính chất các khoản phải thu phụ thuộc vào mỗi loại hình kinh doanh khác nhau (ví dụ kinh doanh bán lẻ phải thu sẽ thấp, bán buôn phải thu cao hơn….), phụ thuộc vào từng doanh nghiệp khác nhau, chính sách bán hàng của họ trong từng thời kỳ (tăng trưởng để chiếm thị phần hay duy trì thị phần đảm bảo hoạt động ổn định an toàn). Nếu doanh nghiệp có tỷ trọng các khoản phải thu trong tổng tài sản tăng trong khi doanh thu, quy mô kinh doanh không tăng, thì như vậy tình hình kinh doanh của khách hàng có nhiều biến đổi hoặc có những thay đổi trong chính sách bán hàng. Trong trường hợp này cần làm việc với doanh nghiệp để xác định bản chất các khoản công nợ này, nguyên nhân và cách khắc phục: - Vòng đời của sản phẩm đã đến thời kỳ bão hoà, suy thoái? - Tình hình tiêu thụ sản phẩm trên thị trường có diễn ra như thường lệ không, hay xuất hiện dấu hiệu giảm sút, suy thoái làm ảnh hưởng đến kỳ hạn thanh toán của khách hàng. Thời gian thu tiền bình quân của phần lớn khách hàng giảm thể hiện rõ rệt về sự sút giảm doanh thu của doanh nghiệp. Sản phẩm đang tiêu thụ khó khăn do nhu cầu suy giảm hoặc xuất hiện cạnh tranh từ những sản phẩm mới, đối thủ cạnh tranh mới. Vì thế cần phải đánh giá lại tình hình thị trường chung về sản phẩm, những khách hàng có sản phẩm cùng loại khác, dự đoán thị trường và tìm hiểu, đánh giá các biện pháp khắc phục giai đoạn khó khăn của doanh nghiệp, dự báo khả năng thành công và các biện pháp khắc phục rủi ro tín dụng nếu tình hình xấu xảy ra. - Xuất hiện các khoản công nợ lớn, kéo dài, tập trung tại một vài khách hàng, tìm hiểu lý do: do khách hàng cố tình dây dưa không thanh toán hay khách hàng gặp khó khăn tài chính chưa thể thanh toán. Tìm hiểu các biện pháp xử lý của khách hàng vay vốn về các khoản công nợ này, khả năng thu hồi các khoản công nợ, ảnh hưởng của việc không thu hồi được các khoản công nợ này đến tài chính của doanh nghiệp. 10 Thang Long University Library - Doanh nghiệp có những thay đổi trong chính sách bán hàng nhằm lôi kéo kích thích tiêu thụ sản phẩm như chấp nhận kéo dài thời hạn thanh toán cho khách hàng. Việc xác định các yếu tố nhằm giúp doanh nghiệp tìm ra nguyên nhân tỷ trọng các khoản phải thu tăng lên. Khi đã xác định được nguyên nhân của các khoản phải thu này, doanh nghiệp cần đưa ra các chính sách nhằm thu hồi các khoản phải thu này để tái sản xuất hay mở rộng hoạt động kinh doanh. Nếu quản lý tốt cũng như thu hồi nhanh các khoản phải thu này thì sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung. Phân tích cơ cấu hàng tồn kho: Cũng như các khoản phải thu, cơ cấu hàng tồn kho là dấu hiệu cảnh báo sớm về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. - Nếu dự trữ hàng tồn kho quá nhiều sẽ làm cho chi phí quản lý và chi phí lưu kho tăng, dẫn tới làm giảm thu nhập, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. - Ngược lại, nếu dự trữ hàng tồn kho quá ít sẽ không đủ đáp ứng nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp, không kịp thời đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Hậu quả là bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh, làm giảm thu nhập của doanh nghiệp, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Như vậy, việc phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn sẽ giúp doanh nghiệp đánh giá xem lượng vốn đầu tư cho tài sản ngắn hạn và dài hạn đã phù hợp chưa. Các khoản mục nhỏ cấu thành lên tài sản ngắn hạn đã chiếm tỷ trọng hợp lý với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay chưa. Từ đó, đưa ra chính sách quản lý tài sản ngắn hạn hiệu quả. 1.2.3.2. Chính sách quản lí tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn. Chính sách tài sản ngắn hạn là mô hình tài trợ cho TSNH mà doanh nghiệp theo đuổi. Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể được nhận biết thông qua mô hình quản lý TSNH và mô hình quản lý nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Khi kết hợp hai mô hình này, ta có thể có 3 kiểu chính sách: chính sách cấp tiến, chính sách thận trọng và chính sách dung hòa. - Chính sách quản lý cấp tiến Sự kết hợp giữa mô hình quản lý tài sản cấp tiến và quản lý nợ cấp tiến tạo nên chính sách cấp tiến. Với chính sách này, doanh nghiệp đã sử dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản cố định. Ưu điểm của chính sách này là chi phí huy 11 Sơ đồ 1.1. Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn Cấp tiến Thận trọng TSLĐ NVNH TSLĐ TSCĐ NVNH NVDH NVDH TSCĐ Dung hòa TSLĐ NVNH TSCĐ NVDH (Nguồn: Nguyễn Đình Kiệm – Bạch Đức Hiền – Tài chính doanh nghiệp – NXB Học viện Tài chính, 2008) động vốn thấp, thời gian quay vòng tiền được rút ngắn. Tuy nhiên sự ổn định của nguồn không cao do nguồn ngắn hạn được sử dụng nhiều, khả năng thanh toán ngắn hạn cũng không được đảm bảo. Tóm lại, chính sách này đem lại thu nhập cao và rủi ro cao. - Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn thận trọng Chính sách này là sự kết hợp giữa mô hình quản lý tài sản thận trọng và quản lý nợ thận trọng. Doanh nghiệp sử dụng một phần nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản lưu động. Chính sách này mang lại khá nhiều ưu điểm như: khả năng thanh toán được đảm bảo, tính ổn định của nguồn vốn cao và hạn chế các rủi ro trong kinh doanh. Tuy nhiên, doanh nghiệp lại mất chi phí huy động vốn cao hơn do lãi suất dài hạn thường cao hơn lãi suất ngắn hạn, thời gian quay vòng tiền dài. Tóm lại, với chính sách này, doanh nghiệp có mức rủi ro thấp nhưng mang lại thu nhập thấp, cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thấp. - Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn dung hòa Để dung hòa giữa rủi ro và thu nhập, doanh nghiệp có thể lựa chọn chính sách dung hòa: kết hợp quản lý tài sản thận trọng với nợ cấp tiến hoặc kết hợp quản lý tài sản cấp tiến với quản lý nợ thận trọng. Chính sách này dựa trên cơ sở nguyên tắc tương thích: TSNH được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn ngắn hạn và TSCĐ được tài trợ bằng nguồn dài hạn. Chính sách quản lý này cân bằng giữa thu nhập và chi phí nhưng chưa đem lại được hiệu quả tối ưu, dẫn tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn không cao. Trên đây là các mô hình cơ bản về chính sách quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn một chính sách tài sản ngắn hạn 12 Thang Long University Library riêng và việc quản lý tài sản ngắn hạn tại mỗi doanh nghiệp sẽ mang những đặc điểm khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản, nội dung chính của quản lý tài sản ngắn hạn vẫn là quản lý các bộ phận cấu thành nên tài sản ngắn hạn. (1 )Chính sách quản l tiền Quản lý TSNH bằng tiền của doanh nghiệp gồm tiền mặt tại quỹ và tiền gửi ngân hàng. TSNH bằng tiền là yếu tố trực tiếp quyết định khả năng thanh toán của một doanh nghiệp tương ứng với một quy mô kinh doanh nhất định đòi hỏi thường xuyên phải có một lượng tiền tương xứng mới đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp ở trạng thái bình thường. Chính vì thế việc quản lý TSNH bằng tiền là vấn đề hết sức quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Nội dung chủ yếu của quản lý TSNH bằng tiền bao gồm các vấn đề chính sau: - Xác định vốn dự trữ tiền mặt một cách hợp lý. Để xác định mức tồn trữ tiền mặt hợp lý có nhiều cách như có thể dựa vào mô hình EOQ (còn gọi là mô hình Baumol). Mô hình Baumol: Giả định:  Tình hình thu – chi tiền ổn định, đều đặn.  Không tính đến tiền thu trong kỳ hoạch định.  Không có dự trữ tiền cho mục đích an toàn.  Do thu – chi tiền mặt tại công ty là đều đặn nên lượng tiền mặt biến thiên như sau: Hình 1.1 Mức dự trữ tiền mặt (Nguồn: Th.S Vũ Lệ Hằng, Bài giảng Tài Chính Doanh Nghiệp 1, ĐH Thăng Long) 13 Hình 1.2. Định mức dữ trữ tiền mặt tối ƣu (Nguồn: Th.S Vũ Lệ Hằng, Bài giảng Tài Chính Doanh Nghiệp 1, ĐH Thăng Long) Chi phí giao dịch (TrC) T TrC = xF C Trong đó: T: Tổng nhu cầu về tiền trong năm C: Quy mô 1 lần bán chứng khoán F: Chi phí cố định của 1 lần bán chứng khoán Chi phí cơ hội (OC) C OC = xK 2 Trong đó: C/2: Mức dự trữ tiền mặt trung bình K: Lãi suất đầu tư chứng khoán Tổng chi phí (TC) T C TC = TrC + OC = xF+ xK C 2 Từ đó ta tính được mức dự trữ tối ưu: 2xTxF C* = K Theo mô hình Baumol, khi TSNH bằng tiền xuống thấp, doanh nghiệp bán chứng khoán để thu tiền về, từ đó doanh nghiệp phải mất chi phí giao dịch cho mỗi lần bán chứng khoán. Ngược lại, khi doanh nghiệp dự trữ tài sản ngắn hạn bằng tiền thì doanh 14 Thang Long University Library nghiệp sẽ mất khoản tiền thu được do không đầu tư chứng khoán hay gửi tiết kiệm. Do mô hình Baumol áp dụng với những giả định nhất định nên không phù hợp với các doanh nghiệp mang tính chất thời vụ, có lượng tài sản ngắn hạn bằng tiền phát sinh không đều. Dưới đây là một số công việc cần làm khi sử dụng hay áp dụng mô hình quản lý tiền Baumol: - Quản lý chặt chẽ các khoản thu chi bằng tiền doanh nghiệp cần phải xây dựng các nội quy, quy chế về quản lý các khoản thu, chi, đặc biệt là các khoản thu chi bằng tiền mặt để tránh sự mất mát, lạm dụng tiền của doanh nghiệp mưu lợi cho cá nhân. - Tất cả các khoản thu chi bằng tiền mặt phải được thông qua quỹ, không được chi tiêu ngoài quỹ. - Phải có sự phân định rõ ràng trong quản lý tiền mặt giữa nhân viên kế toán tiền mặt và thủ quỹ. - Tăng tốc quá trình thu tiền và làm chậm đi quá trình chi tiền. Dự đoán được thời gian chi trả, doanh nghiệp có thể tận dụng lượng tiền mặt trôi nổi trên một số dư tiền mặt nhỏ hơn. - Cần quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng tiền mặt. Xác định rõ đối tượng tạm ứng, các trường hợp tạm ứng, mức độ tạm ứng và thời hạn được tạm ứng. - Thường xuyên đảm bảo khả năng thanh toán cho các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp. Để chủ động trong thanh toán, doanh nghiệp phải thực hiện tốt việc lập kế hoạch lưu chuyển tiền tệ, trên cơ sở đó có biện pháp thích ứng nhằm đảm bảo sự cân bằng thu chi vốn bằng tiền của doanh nghiệp và nâng cao khả năng sinh lời. Vì vậy chính sách quản lý tiền mặt chặt chẽ sẽ giúp tăng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, cụ thể đó là tránh sự mất mát, lãng phí của tiền, thêm đó là tăng tính minh bạch và hợp lý trong chi và thu tiền từ đó làm giảm chi phí quản lý. (2) Chính sách quản l các hoản phải thu. Trong số các khoản mục phải thu của doanh nghiệp, phải thu khách hàng đóng vai trò quan trọng nhất. Phải thu khách hàng là khoản mục xuất hiện trong quan hệ mua bán trả chậm giữa các doanh nghiệp, hay còn gọi là khoản tín dụng thương mại. Khi doanh nghiệp bán hàng trả chậm cho khách hàng nghĩa là doanh nghiệp cấp tín dụng thương mại cho khách hàng. Chính sách quản lý khoản phải thu tốt sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thu hồi các khoản nợ, các khoản tín dụng để tái đầu tư sản xuất ở chu kì kinh doanh tiếp theo và tránh bị các doanh nghiệp khác chiếm dụng vốn. Ngược lại, nếu chính sách quản lý khoản phải thu kém sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. 15 Để quản lý khoản phải thu từ khách hàng, doanh nghiệp cần chú ý các nội dung sau: - Xác định chính sách tín dụng thƣơng mại: Nợ phải thu từ khách hàng của doanh nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào khối lượng hàng hóa, dịch vụ bán chịu cho khách hàng và thời hạn bán chịu. Vì vậy, để quản lý khoản phải thu trước hết cần xem xét, đánh giá các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến chính sách bán chịu của doanh nghiệp như:  Mục tiêu mở rộng thị trường, tăng doanh thu và tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.  Tính chất thời vụ trong sản xuất và tiêu thụ của một số sản phẩm (thời hạn bán chịu rất ngắn trong các ngành thực phẩm tươi sống và kỳ thu tiền bình quân rất cao trong các ngành kiến trúc, sản xuất cơ giới và ở những doanh nghiệp lớn…)  Tình trạng cạnh tranh: cần xem xét tình hình bán chịu của các đối thủ cạnh tranh để có đối sách bán chịu thích hợp và có lợi.  Tình trạng tài chính của doanh nghiệp: không thể mở rộng việc bán chịu cho khách hàng khi doanh nghiệp đã có nợ phải thu ở mức cao và có sự thiếu hụt lớn vốn bằng tiền trong cân đối thu chi bằng tiền. - Phân tích khách hàng, xác định đối tƣợng bán chịu: Để thẩm định độ rủi ro trong việc cấp tín dụng cho khách hàng cần có sự phân tích đánh giá khả năng trả nợ và uy tín của khách hàng, nhất là với những khách hàng tiềm năng. Trên cơ sở đó quyết định hình thức hợp đồng (thực hiện trên tài khoản mua bán chịu, lệnh phiếu, hối phiếu thương mại, tín dụng thư không hủy ngang hay bán có điều kiện). - Phân tích, đánh giá các khoản tín dụng mà khách hàng đề nghị Sau khi phân tích năng lực tín dụng của khách hàng, doanh nghiệp sẽ xem xét các khoản tín dụng mà khách hàng đề nghị dựa vào chỉ tiêu NPV. Một số mô hình mà doanh nghiệp thường sử dụng: Quyết định tính dụng khi xem xét một phương án cấp tín dụng: Mô hình cấp tín dụng cơ bản: CFt NPV= - CFo k CF0= VC × S × ACP ÷ 365 CFt = [S × (1−VC) - S × BD - CD] × (1- T) 16 Thang Long University Library Trong đó: VC: Tỷ lệ chi phí biến đổi trên doanh thu. S: Doanh thu dự kiến mỗi kỳ. ACP: Thời gian thu tiền trung bình tính theo ngày. BD: CD: Tỷ lệ nợ xấu trên dòng tiền vào từ bán hàng. Luồng tiền ra tăng thêm của bộ phận tín dụng. T: Thuế suất cận biên của doanh nghiệp. k: Tỷ lệ thu nhập yêu cầu sau thuế. Sau khi tính toán NPV, doanh nghiệp đưa ra quyết định trên cơ sở: NPV > 0: Cấp tín dụng. NPV = 0: Bàng quan. NPV < 0: Không cấp tín dụng. Mô hình so sánh hai phƣơng thức bán trả tiền ngay và bán trả chậm. Bảng 1.1. Cấp tín dụng và không cấp tín dụng Chỉ tiêu Không cấp tín dụng Cấp tín dụng Số lượng bán (Q) Q0 Q1 (Q1 > Q0) Giá bán (P) P0 P1 (P1 > P0) AC0 AC1 (AC1 > AC0) 100% h (h ≤ 100%) Thời hạn nợ 0 T Tỷ suất chiết khấu 0 R Chi phí sản xuất bình quân (AC) Xác suất thanh toán (Nguồn: Th.S Vũ Lệ Hằng, Bài giảng Tài Chính Doanh Nghiệp 1, ĐH Thăng Long) Không cấp tín dụng khi: NPV = P0Q0 – AC0Q0 Cấp tín dụng khi: P1Q1h NPV1 = - AC1Q1 (1+R) Doanh nghiệp đưa ra quyết định dựa trên cơ sở so sánh NPV và NPV1 NPV > NPV1: Cấp tín dụng. NPV = NPV1: Bàng quan. NPV < NPV1: Không cấp tín dụng. Mô hình quyết định cấp tín dụng kết hợp thông tin rủi ro tín dụng. 17 Bảng 1.2. Sử dụng và không sử dụng thông tin rủi ro tín dụng Không sử dụng thông tin rủi ro Q1 Sử dụng thông tin rủi ro Q1 h P1 P1 AC1 AC1 Chi phí thông tin rủi ro 0 C Xác suất thanh toán h 100% Thời hạn nợ T T Tỷ suất chiết khấu R R Chỉ tiêu Số lượng bán (Q) Giá bán (P) Chi phí sản xuất bình quân (AC) (Nguồn: Th.S Vũ Lệ Hằng, Bài giảng Tài Chính Doanh Nghiệp 1, ĐH Thăng Long) Không sử dụng thông tin rủi ro: P1Q1h NPV1 = - AC1Q1 (1+R) Sử dụng thông tin rủi ro: P1Q1h NPV2 = - AC1Q1 - C (1+R) Doanh nghiệp đưa ra quyết định dựa trên cơ sở so sánh NPV1 và NPV2: NPV1 > NPV2: Không sử dụng thông tin rủi ro tín dụng. NPV1 = NPV2: Bàng quan. NPV1 < NPV2: Sử dụng thông tin rủi ro tín dụng. - Thƣờng xuyên kiểm soát nợ phải thu Mở sổ theo dõi chi tiết nợ phải thu và tình hình thanh toán với khách hàng. Thường xuyên kiểm soát để nắm vững tình hình nợ phải thu và tình hình thu hồi nợ. Để theo dõi các khoản nợ phải thu, doanh nghiệp có thể sử dụng 2 cách:  Thời gian thu nợ trung bình (ACP)  Dựa theo mẫu hình phải thu: Mẫu hình phải thu là tỷ lệ % của doanh thu bán hàng trả chậm vẫn chưa thanh toán trong tháng ghi nhận doanh thu và trong những tháng tiếp theo. Do các khoản phải thu được chia nhỏ theo từng tháng phát sinh doanh thu nên theo dõi sự thay đổi trong mẫu hình phải thu giúp doanh nghiệp ghi nhận ngay sự thay đổi trong hành vi thanh toán của khách hàng. 18 Thang Long University Library Thường xuyên theo dõi và phân tích cơ cấu nợ phải thu theo thời gian. Xác định trọng tâm quản lý nợ phải thu để có biện pháp quản lý chặt chẽ. - Áp dụng các biện pháp thích hợp thu hồi nợ và bảo toàn vốn:  Chuẩn bị sẵn sàng các chứng từ cần thiết đối với các khoản nợ sắp đến kỳ hạn thanh toán. Thực hiện kịp thời các thủ tục thanh toán.  Thực hiện các biện pháp kịp thời thu hồi các khoản nợ đến hạn.  Chủ động áp dụng các biện pháp tích cực và thích hợp thu hồi các khoản nợ quá hạn. Cần xác định rõ nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn để có biện pháp thu hồi nợ thích hợp. Có thể chia nợ quá hạn thành các giai đoạn để có biện pháp thu hồi phù hợp.  Trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi để chủ động bảo toàn vốn lưu động. (3) Chính sách quản lý hàng tồn kho Tại cùng thời điểm khi doanh nghiệp được hưởng những lợi ích từ việc sử dụng hàng tồn kho do đó các chi phí có liên quan cũng phát sinh tương ứng, bao gồm: chi phí đặt hàng, chi phí tồn trữ và chi phí thiệt hại do kho không có hàng. Chính sách quản lý hàng tồn kho nếu tốt sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh do việc dự trữ hàng hóa hợp lý khi thị trường khan hiếm một loại hàng hóa nào đó mà doanh nghiệp có thể đáp ứng đủ thì sẽ thu được lợi nhuận rất lớn. Ngoài việc dữ trữ hàng hóa, doanh nghiệp còn phải quản lý tồn kho tốt nguồn nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất để đáp ứng sự vận hành liên tục dây chuyền sản xuất cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó có thể thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn được nâng cao nếu doanh nghiệp có một chính sách quản lý hàng tồn kho hợp lý và ngược lại. Để công tác quản lý hàng tồn kho được hiệu quả, doanh nghiệp cần lưu ý đến một số loại chi phí và mô hình quản lý hàng tồn kho dưới đây. - Chi phí đặt hàng Chi phí đặt hàng bao gồm chi phí quản lý giao dịch, chi phí vận chuyển và chi phí giao nhận hàng hóa. Chi phí đặt hàng được tính bằng đơn vị tiền tệ cho mỗi lần đặt hàng. Chi phí cho mỗi lần đặt hàng thường bao gồm các chi phí cố định và chi phí biến đổi, bởi vì một phần tỷ lệ chi phí đặt hàng thường biến động theo số lượng hàng được mua. Tuy nhiên, trong mô hình quản lý hàng tồn kho đơn giản EOQ (sẽ được trình bày ở phần dưới đây) giả định rằng chi phí cho mỗi lần đặt hàng là cố định và độc lập với số đơn vị hàng hóa được mua. - Chi phí tồn trữ Chi phí tồn trữ bao gồm tất cả các chi phí lưu giữ hàng trong kho trong một khoảng thời gian xác định trước. Chi phí tồn trữ được tính bằng đơn vị tiền tệ trên mỗi 19 đơn vị hàng lưu kho hoặc xác định bằng tỷ phần trăm trên giá trị hàng lưu kho trong một chu kỳ. Các chi phí tồn trữ bao gồm: chi phí lưu giữ, chi phí bảo hiểm, chi phí bảo quản, chi phí về thuế, chi phí đầu tư vào hàng tồn kho, chi phí hư hỏng hàng tồn kho và chi phí thiệt hại do hàng đang có trong kho bị lỗi thời… - Chi phí thiệt hại khi hàng tồn kho hết Chi phí thiệt hại khi hàng tồn kho hết xảy ra bất cứ khi nào doanh nghiệp không có khả năng giao hàng bởi vì nhu cầu hàng lớn hơn số lượng hàng sẵn có trong kho. Ví dụ, nguyên vật liệu trong kho hết thì chi phí thiệt hại sẽ bao gồm chi phí đặt hàng khẩn cấp và chi phí thiệt hại do ngừng sản xuất. Khi sản phẩm dở dang tồn kho bị hết thì doanh nghiệp bị thiệt hại do kế hoạch sản xuất kinh doanh bị thay đổi, gây nên thiệt hại do ngưng trệ sản xuất và phát sinh chi phí. Khi thành phẩm, hàng hóa tồn kho hết có thể gây ra hậu quả là lợi nhuận bị mất trong ngắn hạn kho khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp khác gây nên những mất mát tiềm năng trong dài hạn. - Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả - Mô hình EOQ Mô hình EOQ hay mô hình đặt hàng kinh tế là mô hình xác định lượng đặt hàng tối ưu (Q*) sao cho tổng chi phí là thấp nhất. Các giả định của mô hình:  Nhu cầu về hàng tồn kho là ổn định;  Không có biến động giá, hao hụt, mất mát trong khâu dự trữ;  Không xảy ra thiếu hụt hàng tồn kho nếu đơn đặt hàng được thực hiện đúng hạn. Trong mô hình EOQ, tổng chi phí bao gồm: Chi phí đặt hàng (Ordering cost): S Chi phí đặt hàng = xO Q Chi phí dự trữ hàng tồn kho (Carrying cost): Q Chi phí dự trữ = xC 2 Trong đó: S: Lượng hàng cần đặt trong năm O: Chi phí một lần đặt hàng Q/2: Mức tồn kho trung bình C: Chi phí dự trữ kho trên một đơn vị hàng tồn kho trong năm 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -