Tài liệu Khảo sát vài phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả trong thơ xuân quỳnh

  • Số trang: 141 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 1450 |
  • Lượt tải: 2
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------------------- NGUYỄN THỊ THÚY THÀNH KHẢO SÁT MỘT SỐ PHƢƠNG TIỆN BIỂU THỊ QUAN HỆ NGHỊCH NHÂN QUẢ TRONG THƠ XUÂN QUỲNH LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC HÀ NỘI - 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------------------- NGUYỄN THỊ THÚY THÀNH KHẢO SÁT MỘT SỐ PHƢƠNG TIỆN BIỂU THỊ QUAN HỆ NGHỊCH NHÂN QUẢ TRONG THƠ XUÂN QUỲNH LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 60 22 02 40 Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Nguyễn Thị Phƣơng Thùy HÀ NỘI - 2013 2 LỜI CẢM ƠN Luận văn này được hoàn thành dưới sự giúp đỡ nhiệt tình và chu đáo của TS. Nguyễn Thị Phương Thùy. Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô. Nhân đây, em xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ trong khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội – những người đã dạy dỗ, giúp đỡ em trong suốt những năm học vừa qua. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn tới gia đình, bạn bè và những người thân yêu đã luôn sát cánh, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn. Tuy đã rất cố gắng nhưng luận văn có lẽ khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp và nhận xét của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để em có thể phát triển đề tài này ở cấp độ cao hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Hả Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2013 Học viên Nguyễn Thị Thúy Thành 3 DANH MỤC BẢNG BIỂU 1. Bảng/ biểu 2.1 – Quan hệ nghịch nhân quả trong thơ Xuân Quỳnh – trang 30 2. Bảng/ biểu 2.2 – Quan hệ nghịch nhân quả sớm trong thơ Xuân Quỳnh – trang 44 3. Bảng/ biểu 2.3 – Quan hệ nghịch nhân quả muộn trong thơ Xuân Quỳnh – trang 48 4. Bảng/ biểu 2.4 – Quan hệ nghịch nhân quả trong thơ Xuân Diệu – trang 53 5. Bảng/ biểu 2.5 – Quan hệ nghịch nhân quả sớm trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Xuân Diệu – trang 54 6. Bảng/ biểu 2.6 – Quan hệ nghịch nhân quả muộn trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Xuân Diệu – trang 61 7. Bảng/ biểu 3.1 – Quan hệ nghịch nhân quả phiếm định thời trong thơ Xuân Diệu – trang 84 8. Bảng/ biểu 3.2 – Quan hệ nghịch nhân quả phiếm định thời trong thơ Xuân Quỳnh và thơ Xuân Diệu – trang 86 4 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 4 2. Mục đích nghiên cứu 5 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 5 4. Ý nghĩa của luận văn 6 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 7 6. Phƣơng pháp nghiên cứu 7 7. Bố cục của luận văn 8 Chƣơng 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1. Đôi nét về con ngƣời và nhà thơ Xuân Quỳnh 9 1.2. Quan hệ nghịch nhân quả và phƣơng tiện biểu hiện 12 1.2.1. Khái niệm về quan hệ nghịch nhân quả 12 1.2.2. Một số kiểu quan hệ nghịch nhân quả 16 1.2.3. Các phương tiện biểu hiện quan hệ nghịch nhân quả 23 1.3. Tiểu kết 28 Chƣơng 2: KHẢO SÁT CÁC PHƢƠNG TIỆN BIỂU THỊ QUAN HỆ NGHỊCH NHÂN QUẢ SỚM VÀ MUỘN TRONG THƠ XUÂN QUỲNH 2.1. Câu thơ chứa cấu trúc nghịch nhân quả sớm và nghịch nhân quả muộn trong thơ Xuân Quỳnh 31 2.1.1. Quan hệ nghịch nhân quả sớm 34 2.1.2. Quan hệ nghịch nhân quả muộn 44 2.2. Giá trị của các phƣơng tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả sớm và nghịch nhân quả muộn trong thơ Xuân Quỳnh (có sự so sánh với thơ Xuân Diệu) 48 2.2.1. Đôi nét về nhà thơ Xuân Diệu 49 2.2.2. Giá trị của các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả sớm trong thơ Xuân Quỳnh 55 5 2.2.3. Giá trị của các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả muộn trong thơ Xuân Quỳnh 59 2.3. Tiểu kết 68 Chƣơng 3: KHẢO SÁT CÁC PHƢƠNG TIỆN BIỂU THỊ QUAN HỆ NGHỊCH NHÂN QUẢ PHIẾM ĐỊNH THỜI TRONG THƠ XUÂN QUỲNH 3.1. Câu thơ chứa quan hệ nghịch nhân quả phiếm định thời trong thơ Xuân Quỳnh 69 3.2. Gía trị của các phƣơng tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả phiếm định thời trong thơ Xuân Quỳnh – có sự so sánh với thơ Xuân Diệu 83 3.3. Tiểu kết 99 KẾT LUẬN 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC 106 6 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Quan hệ nghịch nhân quả là một kiểu quan hệ được thể hiện tương đối nhiều trong lời nói và trong nhiều tác phẩm văn chương. Nghiên cứu về quan hệ nghịch nhân quả, đặc biệt là cách biểu hiện của nó giúp ta thấy được nét đặc thù trong cách biểu hiện mối quan hệ nghịch nhân quả trong tiếng Việt và mối tương quan giữa hình thức và nội dung trong tiếng Việt nói riêng, trong ngôn ngữ nói chung. Để tạo một câu ghép tiếng Việt, chúng ta thường dùng các cặp liên từ như “vì… nên”, “nếu… thì”, “tuy… nhưng”… hay những cặp phụ từ như: “đã... vẫn…”, “mới… đã…”… biểu thị những quan hệ lô gich- ngôn từ khác nhau. Vì thế, các nhà nghiên cứu đã căn cứ vào quan hệ ý nghĩa giữa các vế trong câu ghép để phân loại chúng thành các kiểu câu khác nhau “nguyên nhân – kết quả”, “điều kiện – kết quả”, “nhượng bộ - tăng tiến”… Tuy từ trước đến nay đã có một số người nghiên cứu về quan hệ nghịch nhân quả trong câu tiếng Việt như: - Logic và tiếng Việt – GS.TS Nguyễn Đức Dân (1987) - Vấn đề logic ngữ nghĩa và thông tin trong lời nói – Hồ Lê (Ngôn ngữ số 2.1979) - Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt – Nguyễn Kim Thản (1963- 1964) - Luận văn cao học “ Ngữ nghĩa và ngữ pháp của cấu trúc nhân nhượng trong tiếng Việt” của Học viên Ngô Thị Thanh Thúy, khoa Văn học và Ngôn ngữ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012. Nhưng chưa thực sự có công trình chuyên biệt nghiên cứu về các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả trong thơ tiếng Việt. Chúng tôi hi vọng sẽ tìm ra những hướng tiếp cận mới về thơ Xuân Quỳnh dưới góc nhìn mới – góc nhìn của ngôn ngữ học hiện đại. Vì thế, chúng tôi chọn đề tài: “Khảo sát một số phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả trong thơ Xuân Quỳnh”. 7 2. Mục đích nghiên cứu Mục đích của luận văn là khảo sát, tìm hiểu các phương tiện biểu thị các kiểu quan hệ nghịch nhân quả trong các bài thơ thuộc một số tập thơ của Xuân Quỳnh để thấy được giá trị của chúng trong việc thể hiện phong cách thơ, hình tượng thơ và chất nữ tính trong thơ của tác giả. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng được khảo sát chủ yếu là các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả trong các bài thơ thuộc một số tập thơ của Xuân Quỳnh như: - Tơ tằm - chồi biếc (thơ, in chung, NXB Văn học, 1963) - Hoa dọc chiến hào (thơ, in chung, 1968) - Gió Lào, cát trắng (thơ, 1974) - Lời ru trên mặt đất (thơ, 1978) - Sân ga chiều em đi (thơ, 1984) - Tự hát (thơ, 1984) - Hoa cỏ may (thơ, 1989) Và để làm nổi bật hiệu quả của việc sử dụng các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả trong thơ Xuân Quỳnh, luận văn đã tiến hành khảo sát, so sánh với các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả trong một số bài thơ thuộc các tập thơ của nhà thơ Xuân Diệu như: - Thơ thơ (1968, 1970) - Gửi hương cho gió (1967) - Ngọn Quốc kỳ (1961) - Sáng (1953) - Mẹ con (1954) - Ngôi sao (1955) - Riêng chung (1960) - Mũi Cà Mau - Cầm tay (1962) - Một khối hồng (1964) - Hai đợt sóng (1967) 8 - Tôi giàu đôi mắt (1970) - Hồn tôi đôi cánh (1976) - Thanh ca (1982) 4. Ý nghĩa của luận văn Việc nghiên cứu về quan hệ nghịch nhân quả và các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả trong câu tiếng Việt nói chung và trong thơ của Xuân Quỳnh có ý nghĩa cả về mặt lí luận và thực tiễn 4.1. Ý nghĩa lí luận Về lí luận, việc nghiên cứu về các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả trong câu tiếng Việt góp phần làm rõ những vấn đề quan trọng như quan hệ ngữ nghĩa, quan hệ ngữ pháp, nghĩa bề mặt và nghĩa hàm ẩn, cách biểu hiện một nội dung quan hệ ngữ nghĩa bằng các phương tiện ngôn ngữ khác nhau trong một ngôn ngữ cụ thể. Luận văn này hi vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu, làm rõ đặc điểm của phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả trong thơ trong thơ Việt Nam trên tư liệu thơ Xuân Quỳnh (so sánh với thơ Xuân Diệu). Đồng thời cũng có thể đóng góp một phần nhỏ vào lí luận ngữ dụng học: bổ sung thêm lí luận về quan hệ nghịch nhân quả. 4.2. Ý nghĩa thực tiễn Luận văn đóng góp cách tiếp cận tác phẩm thơ theo hướng mới, từ góc độ ngôn ngữ học ứng dụng: tiếp cận các quan hệ nghịch nhân quả và phân tích tác dụng của các kiểu quan hệ nghịch nhân quả trong việc biểu đạt nội dung tư tưởng của nhà thơ. Từ đó đem đến quan điểm mới trong sự tiếp cận các tác phẩm thơ. Đó không chỉ là sự cảm thụ văn chương đơn thuần mà còn có sự nghiên cứu về ngôn ngữ thơ, coi thơ như một hệ thống cấu trúc đặc biệt. Ngoài ra, luận văn sẽ có đóng góp một phần vào phương pháp dạy và học thơ cũng như giúp người dạy, người học ngữ pháp tiếng Việt nắm vững, sử dụng tốt và có hệ thống các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả trong giảng dạy và học tập ở các bậc đào tạo khác nhau, giúp chúng ta có cách nhìn mới, 9 uyển chuyển hơn, khoa học hơn khi tiếp cận một tác phẩm văn học bất kì. Về thực tiễn, những kết quả của việc nghiên cứu về các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả trong câu tiếng Việt có thể được sử dụng vào việc biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo phục vụ cho dạy - học ngữ pháp văn bản tiếng Việt, đặc biệt là ngữ pháp văn bản thơ. Việc làm sáng tỏ cách biểu thị quan hệ nghịch nhân quả trong thơ Xuân Quỳnh giúp chúng ta hiểu thêm về nội dung, ý nghĩa một số tác phẩm của nhà thơ để vận dụng vào công việc giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ thơ tiếng Việt. Thực tế cho thấy, hướng nghiên cứu của các tác giả hiện nay chủ yếu mới chỉ tập trung đề cập đến quan hệ nhân quả ở cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt bằng động từ quan hệ, cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả bằng quan hệ từ, vấn đề phân tích ngữ pháp kiểu câu có ý nghĩa nhân quả được biểu hiện bằng quan hệ từ…. Hướng nghiên cứu về quan hệ nghịch nhân quả và các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả nhìn chung chưa được chú ý nghiên cứu, đặc biệt là sự vận dụng cấu trúc quan hệ nghịch nhân quả trong các tác phẩm thơ.Ngoài ra, luận văn còn cung cấp tư liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, giảng dạy, học tập thơ Việt Nam ở các bậc đào tạo. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn này có các nhiệm vụ như sau: - Khảo sát, miêu tả các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả trong thơ Xuân Quỳnh. - Khảo sát giá trị của các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả tỏng thơ Xuân Quỳnh. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu - Luận văn được thực hiện chủ yếu theo hướng quy nạp trên cơ sở thu thập, lựa chọn, thống kê, phân tích, xử lí, so sánh đối chiếu tư liệu để miêu tả, bàn luận, đánh giá chung về vấn đề nghiên cứu. - Luận văn sử dụng phương pháp miêu tả, thống kê và những thủ pháp phân tích của ngôn ngữ học để xử lí tư liệu, mô tả, bàn luận về quan hệ nghịch nhân quả trong thơ Xuân Quỳnh nói riêng và trong thơ tiếng Việt nói chung. 10 Phương pháp xử lý tư liệu được thực hiện theo các bước: + Xác định các kiểu quan hệ nghịch nhân quả được sử dụng trong tác phẩm đã lựa chọn. + Thống kê số liệu về các kiểu quan hệ nghịch nhân quả trong tác phẩm đã lựa chọn. + Lập bảng thống kê các kiểu quan hệ nghịch nhân quả được sử dụng trong tác phẩm đã lựa chọn. 7. Bố cục luận văn Ngoài phần danh mục bảng biểu, mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có bố cục như sau: Phần mở đầu: 1. Lý do chọn đề tài 2. Mục đích nghiên cứu 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Ý nghĩa của luận văn 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 6. Phương pháp nghiên cứu 7. Bố cục của luận văn Phần nội dung: Chương 1: Một số cơ sở lý luận liên quan đến đề tài Chương 2: Khảo sát các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả sớm và muộn trong thơ Xuân Quỳnh. Chương 3: Khảo sát các phương tiện biểu thị quan hệ nghịch nhân quả phiếm định thời trong thơ Xuân Quỳnh Phần kết luận 11 Chƣơng 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1. Đôi nét về con ngƣời và nhà thơ Xuân Quỳnh Xuân Quỳnh (1942 - 1988) là một trong những nữ sĩ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ sinh ở thập kỉ 40 và rỡ ràng với những tác phẩm thơ trẻ ở thập kỉ 60. Thơ chị rất nữ tính và giàu cảm xúc, khi thì đầy ắp hạnh phúc, đắm say, lúc lại thấm đẫm suy tư, đau khổ, diễn tả những trăn trở của trái tim một người phụ nữ vừa làm thơ, vừa làm vợ, làm mẹ. Và cũng chính vì vậy, thơ chị rất gần gũi với đời thường. Trong muôn vàn phong cách thơ hiện đại, nữ sĩ Xuân Quỳnh để lại một dấu ấn đặc biệt bởi một trái tim hồn hậu, đầy nữ tính và rất nhạy cảm trong thơ. Thơ chị luôn viết về những điều bình dị nhất, thể hiện những khát khao đời thường nhất nhưng vẫn mang bao dự cảm về cuộc đời trôi chảy vô định. Cũng giống như hầu hết các nữ sĩ Đông Tây Kim Cổ, Xuân Quỳnh làm thơ cốt để diễn tả cuộc sống của chính mình về tất cả mọi phương diện: những khát khao, những tình cảm, những suy nghĩ, và "sự sống" của một người phụ nữ. Vì lẽ đó hầu hết thơ của chị đều là thơ trữ tình. Đất nước, thiên nhiên, thời đại đều được phản ánh vào thơ chị thông qua cái lăng kính trữ tình đó. Nói đến xuất xứ của Xuân Quỳnh giữa làng thơ, phải nói đến sự xuất hiện đông đảo, ào ạt của một lớp người viết mới đem vào văn học những giọng nói mới vào những năm 60. Tính chất tự truyện là nét đậm, quán xuyến hàng loạt bài thơ, tập thơ và cũng là nét khác biệt rõ rệt so với thơ của nhiều người cùng thế hệ. Gần như chị đã trở thành nhân vật văn học của chính thơ mình. Chị đam mê sống, đam mê yêu, đam mê trong thiên chức làm vợ, làm mẹ. Xuân Quỳnh đã sống trọn vẹn tấn kịch của chính mình, ghi lại bằng thơ những động thái tâm hồn mình. Xuân Quỳnh đã từng bảo vệ thị hiếu và quan niệm nghệ thuật của chị bằng chính những sáng tác của mình. Công chúng nhận ra ở chị một hồn thơ gần gũi như đã thân quen từ lâu. "Chất thơ trữ tình của của Xuân Quỳnh đan quyện cái đắm đuối của cảm xúc trẻ trung vừa đồng thời là niềm lo âu hạnh phúc của người đã qua trải nghiệm, đem 12 đến cho người đọc niềm cảm chân thành, sự lôi cuốn lãng mạn, nóng hổi tình đời, tình người." [14]. Cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh là cái tôi được xây cất bởi những mảng trạng thái tâm hồn đầy mâu thuẫn của một trái tim đa cảm và tinh tế. Cái tôi trữ tình ấy hóa thân vào nhiều nhân vật trữ tình khác nhau, thể hiện sự tương tranh giữa các mặt đối lập, giữa biến động và yên tĩnh, khao khát và lo âu, quyết liệt và nữ tính, khắc nghiệt và yên lành. Nhắc đến thơ Xuân Quỳnh không thể không nói đến thơ tình. Đó là một trái tim yêu tha thiết, đằm thắm, dịu dàng, đầy nữ tính nhưng vẫn không kém phần quyết liệt và không thôi khao khát. Tình yêu cũng là lĩnh vực để chị suy tư, day dứt, kiếm tìm những giá trị của bản thân, thông qua đó hướng tới giá trị của cuộc đời cũng như sự sống. Câu thơ Xuân Quỳnh rạng rỡ, ấm áp khi nói tới niềm vui chung sống lứa đôi: … Nhưng lúc này anh ở bên em Niềm vui sướng trong ta là có thật Như chiếc áo trên tường như trang sách Như chùm hoa nở cánh trước hiên nhà… Chị hiểu sự gắn bó của hai tâm hồn trong tình yêu là sự gắn bó của những giá trị chung mà cả hai phía cùng vun đắp, là sẻ chia rung động, âu lo, sẻ chia lí tưởng: Ôi trời xanh xin trả cho vô tận Trời không xanh nhưng đáy mắt em xanh Và trong em chẳng thể còn anh Nếu ngày mai em không làm thơ nữa Bản tính chất phác, nồng hậu và hơi giản đơn khiến chị thường có xu hướng tìm đến cái ổn định, một niềm tin chắc chắn vào lẽ phải của sự hi sinh, vị tha trong tình yêu cũng như trong cuộc đời. Ngoài đời thực, Xuân Quỳnh là người đàn bà đẹp và được yêu nhưng ít khi chị thể hiện lòng tự tôn về điều này trong thơ của mình. Dấn thân quyết liệt để kiếm tìm giá trị của đời sống, của tình yêu cũng là giá trị cá nhân khi khám phá những 13 chân lí rộng lớn hơn tồn tại của một con người đơn lẻ, Xuân Quỳnh đã luôn trung thực với những gì riêng chị nhận thức và tin theo. Xuân Quỳnh luôn ao ước một cuộc đời bình dị, một hạnh phúc đời thường, có khi chỉ là sự sóng bước tay trong tay nhưng lại ùa về cả sự ấm áp, thương yêu và đầy bình yên. Với một quan niệm như vậy nên Xuân Quỳnh thường tìm thấy trong những điều bình thường những sự vật bình thường giản dị ẩn chứa sự gần gũi thân thuộc nhưng vô cùng cần thiết đối với cuộc đời. Lời thơ của chị cũng trở nên giản dị, tự nhiên như những gì thoát ra từ chính sự vật, hiện tượng của cuộc sống hàng ngày. Xuân Quỳnh có khuynh hướng tìm đến một thế giới quan xuất phát từ tình yêu thương. Trong bất kì bài thơ nào, chị cũng tự tin, thoải mái bộc lộ tình yêu đối với mọi người, mọi vật. Xuất phát từ chính khả năng yêu thương chủ quan để định hướng những giá trị còn lại của cuộc đời. Chủ đề thơ Xuân Quỳnh thường là những vấn đề nội tâm: kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu gia đình... Hiện thực xã hội, sự kiện đời sống hiện diện như một bối cảnh cho tâm trạng. Do vậy thơ Xuân Quỳnh hướng nội, rất tâm trạng cá nhân nhưng không là thứ tháp ngà xa rời đời sống. Thơ chị là đời sống đích thực, đời sống của chị trong những năm đất nước còn chia cắt, còn chiến tranh, còn nghèo, còn gian khổ, là những lo toan con cái, cơm nước, cửa nhà của một người phụ nữ, người phụ nữ làm thơ thường ngược xuôi trên mọi ngả đường bom đạn. Xuân Quỳnh không làm ra thơ, không chế tạo câu chữ mà chị viết như kể lại những gì chị đã sống, đã trải. Nét riêng của Xuân Quỳnh so với thế hệ nhà thơ hiện đại cùng thời chính là ở khía cạnh nội tâm đó. Thơ chị là thơ mang tâm trạng. Thời ấy nhiều bài thơ thiên về phản ánh sự kiện, cốt để được việc cho đời, còn tâm trạng tác giả thường là tâm trạng chung của xã hội, vui buồn tác giả hòa trong vui buồn chung của công dân. Tâm trạng thơ Xuân Quỳnh là tâm trạng nảy sinh từ đời sống của chính chị, từ hoàn cảnh của riêng chị. Thơ Xuân Quỳnh giàu tình cảm, tình cảm sâu và tinh tế nhưng lẩn khuất phía sau tình cảm ấy lại là tư tưởng có tính khái quát, triết lý (Cơn mưa không phải của 14 mình, Đồi đá ong và cây bạch đàn, Chuyện cổ tích về loàìi người, Những người mẹ không có lỗi...) Đấy là những triết lý nảy sinh từ đời sống, nó có tính thực tiễn, giúp ích thật sự cho người đọc nhận thức và xử lý việc đời, không phải thứ triết lý tư biện, viễn vọng mà chẳng dùng được vào việc gì. “Thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng có tứ, chị dùng tứ để bộc lộ chủ đề”. Đây là một đóng góp đáng quý của Xuân Quỳnh vì giai đoạn ấy thơ chúng ta rất lỏng về tứ. Xuân Quỳnh có năng khiếu quan sát. Chị quan sát bằng tất cả giác quan và phong phú trong liên tưởng. Chi tiết vốn quen thuộc bỗng trở nên mới lạ, tạo ý vị cho câu thơ. Một màu cỏ mùa xuân: Cỏ bờ đê rất lạ/ Xanh như là chiêm bao. Tiếng mưa trên lá cọ: Mưa trên cọ bàng hoàng rồi vụt tạnh. Xuân Quỳnh là hiện tượng rất quan trọng của nền thơ Việt Nam. Có lẽ từ thời Hồ Xuân Hương, qua các chặng phát triển, phải đến Xuân Quỳnh, nền thơ ấy mới thấy lại một nữ thi sĩ mà tài năng và sự đa dạng của tâm hồn được thể hiện ở một tầm cỡ đáng kể như vậy, dồi dào phong phú như vậy. Thơ Xuân Quỳnh đã đi vào lòng người đọc, trở thành tiếng nói tâm tình về những ngọt bùi, cay đắng ở đời, tiếng nói của tình yêu và tình mẫu tử, tiếng nói hồn hậu, dung dị, chứa đựng sự sống đương thời mà cũng in dấu nếp nghĩ, nếp cảm của tâm hồn người Việt tự xa xưa. 1.2. Quan hệ nghịch nhân quả và phƣơng tiện biểu hiện 1.2.1. Khái niệm về quan hệ nghịch nhân quả 1.2.1.1. Về quan hệ nhân quả Trong triết học, tính nhân quả là một trong những hình thức của mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau phổ biến nhất, tất yếu và vốn có giữa các sự vật, hiện tượng và quá trình. Trong lịch sử triết học, vấn đề tính nhân quả luôn là cuộc đấu tranh gay gắt giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Các nhà theo chủ nghĩa duy tâm như Hume hay Kant đều phủ nhận tính nhân quả khách quan, còn Hegel – tuy thừa nhận mối quan hệ nhân quả tồn tại độc lập với con người nhưng lại coi nó là biểu hiện của ý niệm tuyệt đối. Trong khi đó, chủ nghĩa duy vật thừa nhận tính nhân quả: “mỗi hiện tượng của tự nhiên và xã hội đều bị ước chế bởi một hay nhiều nguyên 15 nhân nhất định; nhân và quả đều ở trong những mối quan hệ tác động lẫn nhau; nhân sinh ra quả nhưng quả không thụ động, nó tác động lại nhân đã sinh ra nó và đồng thời là nhân để sinh ra quả khác, tạo thành một chuỗi nhân quả vô hạn,vv…” [13]. Như vậy, để cho nguyên nhân có thể sản sinh ra kết quả thì phải có những điều kiện cần thiết. Tính khách quan của mối quan hệ nhân quả được biểu hiện cụ thể trong quá trình hoạt động thực tiễn. Có thể nói, thực tiễn là tiêu chuẩn cao nhất đánh giá tính khách quan của mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và xã hội. Tóm lại, quan hệ nhân quả là quan hệ giữa hai sự tình là nguyên nhân và kết quả, có nguyên nhân thì tất yếu sẽ có kết quả được tạo ra. Từ quan điểm của triết học, tính nhân quả cũng đã được đưa vào và vận dụng trong các ngành học khác như tâm lí học, ngôn ngữ học…. Theo nhiều nhà nghiên cứu, quan hệ nhân quả có thể thể hiện trên bề mặt ngôn ngữ ở nhiều hình thức như cấu trúc câu điều kiện, cấu trúc nguyên nhân, cấu trúc gây khiến. Thậm chí, mối quan hệ đó còn thể hiện trong những câu có chứa liên từ “và”, “hoặc”,… Trong câu có liên từ nhân quả, quan hệ nhân quả được diễn đạt một cách rõ ràng thông qua các biểu thức ngôn ngữ. Trong câu điều kiện, có sự thiết lập những giả thiết và đưa ra những tiên đoán dựa trên giả thiết. Những tiên đoán này có được nhờ những gợi ý từ quan hệ nhân quả. Có thể thấy, đa số các công trình nghiên cứu về câu điều kiện đều không nhắc đến mối quan hệ nhân quả. Câu điều kiện và câu nhân quả được xem là những cấu trúc giống nhau về hình thức ở chỗ đều do sự kết hợp qua lại hai mệnh đề. Trong Việt ngữ học, Nguyễn Đức Dân [9, tr.303] đã diễn giải ra rằng: “Hai sự vật A và B, trong tự nhiên cũng như trong xã hội, thường có quan hệ với nhau. Sự vật này ảnh hưởng tới sự vật kia. Quan hệ logic phổ biến giữa chúng là quan hệ nhân quả”. Ông còn dẫn chứng cụ thể rằng, về phương diện ngôn ngữ, chúng được thể hiện ở 3 loại câu ghép quan hệ như sau: 16 - Câu điều kiện – kết quả: Nếu A thì B, B khi A (các sự kiện A và B chưa xảy ra). Ví dụ: Nếu ông ốm thì cháu sẽ về thăm. - Câu nguyên nhân – kết quả: Vì A nên B, tại A mà/nên B; Do A mà/nên B; A hèn chi B; B bởi A. Ví dụ: Vì gió to nên lá cây rụng nhiều. - Câu quy luật nhân quả: Hễ A là B, Cứ A là B, Động A là B. Ví dụ: Hễ gió to là lá rụng nhiều Có thể nói, phát hiện về tính nhân quả là một nỗ lực của các nhà ngôn ngữ học nhằm bổ sung cho thuyết hàm chân ngụy nhằm góp phần giải thích ý nghĩa câu điều kiện trong ngôn ngữ tự nhiên. Bên cạnh đó, cấu trúc của quan hệ nhân quả thể hiện mối quan hệ giữa hai đối tượng được nói đến trong câu ghép đẳng lập và mối quan hệ đó không thực sự chặt chẽ, chúng có thể tách rời nhau và đứng độc lập. 1.2.1.2. Quan hệ nghịch nhân quả Như vậy, quan hệ nhân quả đã được rất nhiều tác giả căn cứ để xem xét phân loại cấu trúc nhân nhượng. Khảo sát của các nhà ngôn ngữ học cho thấy quan hệ nhân quả là cơ sở nhận biết cấu trúc nhân nhượng mà cụ thể là quan hệ nhân quả nghịch. Câu điều kiện và câu nhân quả tưởng chừng như không hề có sự liên quan gì về ý nghĩa. Tuy nhiên, ngay từ những mô hình câu điều kiện mang tính hình thức này, đã từ lâu các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng quan hệ điều kiện của ngôn ngữ tự nhiên rất khác với quan hệ điều kiện trong lôgic học. Cái làm nên sự khác nhau đó chính là quan hệ nhân quả hàm chứa trong cầu điều kiện của ngôn ngữ tự nhiên. Nghĩa là giữa câu nguyên nhân và câu điều kiện có mối quan hệ gần gũi với nhau về ý nghĩa: giữa hai mệnh đề cùng tồn tại mối quan hệ nhân quả. Nếu như cấu trúc của quan hệ nhân quả thể hiện mối quan hệ không chặt chẽ của hai sự tình được nói đến trong câu ghép đẳng lập thì cấu trúc của quan hệ nghịch nhân quả lại thể hiện sự gắn bó chặt chẽ của hai sự tình được biểu hiện trong câu ghép chính phụ. Không chỉ thừa nhận mối quan hệ nhân quả trong câu điều kiện, Nguyễn Đức Dân còn khẳng định câu nhượng bộ là câu có quan hệ nghịch nhân quả. Ông chỉ ra rằng “Giả sử hai đối tượng X và Y có quan hệ nhân quả, nghĩa là khi X ở trạng thái 17 A sẽ làm cho Y ở trạng thái B, còn khi X ở trạng thái C sẽ làm cho Y ở trạng thái D. Chẳng hạn quan hệ giữa sự cố gắng học hành chăm chỉ và việc đạt kết quả cao trong học tập. Quan hệ này có thể biểu diễn thành sơ đồ như sau: Sơ đồ 1.1 A: chăm C: lười B: giỏi D: không giỏi X Y Tuy nhiên, quan hệ trên không phải là tuyệt đối, nghĩa là vẫn có những ngoại lệ. Nghĩa là có những người học tập rất chăm chỉ nhưng kết quả học lại không cao và ngược lại. Điều đó cho thấy X ở trạng thái A nhưng Y lại ở trạng thái D hoặc X ở trạng thái C nhưng Y lại ở trạng thái B. Đây là những trường hợp ngược với lẽ thông thường. Trong trường hợp này, chúng ta có thể khẳng định: giữa X và Y đã xảy ra quan hệ nghịch nhân quả. Quan hệ này có thể được biểu hiện thành 2 sơ đồ: Sơ đồ 1.2 A: chăm Sơ đồ 1.3 C: lười A: chăm X X Y Y B: giỏi D: không giỏi A: giỏi C: lười C:không giỏi Qua phân tích ở trên, ta có thể thấy được rằng, quan hệ nghịch nhân quả là quan hệ tồn tại song song với quan hệ nhân quả. Tuy nhiên đây là quan hệ biểu thị 18 những trường hợp ngược với lẽ thông thường, đi ngược lại với mối quan hệ logic nhân quả trong quan hệ nhân quả. 1.2.2. Một số kiểu quan hệ nghịch nhân quả 1.2.2.1. Cách phân loại cấu trúc nghịch nhân quả trong tiếng Việt của các nhà Việt ngữ Cấu trúc nghịch nhân quả trong tiếng Việt dường như ít được giới Việt ngữ quan tâm. Các nhà ngữ pháp học khi đề cập đến cấu trúc này chỉ điểm qua một vài dạng thức tiêu biểu về hình thức. Điển hình như các tác giả sau: - Hoàng Tuệ Trong Giáo trình về Việt ngữ, Hoàng Tuệ không phân loại cấu trúc nghịch nhân quả. Ông chỉ nêu ra những đặc điểm về mặt hình thức và mô hình cơ bản của cấu trúc nghịch nhân quả và cho rằng kết cấu “dầu P thì Q” là kiểu kết cấu của những câu phức hợp có quan hệ phụ thuộc nhượng bộ. Trong đó P là mệnh đề phụ bắt đầu bằng “dầu”, “mặc dầu”, “dẫu”; trong Q thường dùng “cũng”. P và Q là hai mệnh đề với hai kết cấu Đề - Thuyết. Ông khái quát bằng mô hình sau: DẦU (Đ1 – T1) THÌ (Đ2 – CŨNG – T2) - Hoàng Trọng Phiến Hoàng Trọng Phiến cũng không phân loại cấu trúc một cách rõ ràng cụ thể nhưng qua cách thể hiện quan điểm về ngữ nghĩa của các liên từ “tuy” và “mặc dù”. Ông viết “mặc dù ...” chỉ là giả thiết, điều kiện về một tình hình nào đó,“..tuy ...” không phải là giả thiết mà là sự thực” [26]. - Nguyễn Kim Thản Nguyễn Kim Thản [28] chỉ liệt kê các liên từ có trong cấu trúc nghịch nhân quả như “tuy”, “dù”, “ mặc dù” v.v... Ngoài ra ông chú ý thêm những vị từ tình thái đi kèm với các liên từ chỉ sự nhượng bộ như “vẫn”, “cũng”. Mặc dù chỉ nhắc đến những chỉ tố nghịch nhân quả nhưng ông cũng đã chú ý đến hai yếu tố quan trọng trong cấu trúc nghịch nhân quả “vẫn”, “cũng”. 19 - Hồ Lê Khi bàn về câu điều kiện – hệ quả trong công trình “Cú pháp tiếng Việt” [19], Hồ Lê căn cứ vào tiêu chí nội dung của điều kiện và tính chất của mối quan hệ điều kiện – hệ quả để phân loại. Theo đó, có bốn kiểu nhưng trong đó có ba kiểu là cấu trúc nghịch nhân quả như bảng sau: Tiêu chí Phân loại Dạng thức của cấu trúc Nội dung của điều kiện Điều kiện giả định Dù (cho) … thì Điều kiện hiện thực Tuy … nhưng… Tính chất của mối quan hệ Điều kiện thuận hệ quả (*) Vì … nên… điều kiện – hệ quả Điều kiện nghịch hệ quả Tuy … nhưng… Chú thích:(*) không phải cấu trúc nhân nhượng. Căn cứ vào bảng trên ta thấy cấu trúc nhân nhượng có điều kiện giả định và điều kiện hiện thực đều thuộc cấu trúc nhân nhượng có điều kiện nghịch nhân quả. Kết hợp hai tiêu chí nội dung của điều kiện và tính chất của mối quan hệ điều kiện nghịch hệ quả ta thấy theo quan điểm của Hồ Lê thì cấu trúc nhân nhượng chỉ có hai loại: - Cấu trúc nhân nhượng có điều kiện giả định nghịch với hệ quả: dù cho…, cho dù…, dù…, dầu…, ví dù…, ví dầu… - Cấu trúc nhân nhượng có điều kiện hiện thực nghịch với hệ quả: mặc dù… nhưng…, tuy… nhưng… Điều cần lưu ý ở đây là khi Hồ Lê đưa ra loại cấu trúc nhân nhượng có điều kiện hiện thực nghịch với hệ quả ông cho rằng quan hệ giữa hai tiểu cú phải liên kết bằng hai liên từ đứng đầu mỗi tiểu cú, còn với loại cấu trúc nhân nhượng có điều kiện giả định nghịch với hệ quả thì ông chỉ đưa ra một liên từ ở tiểu cú mang ý nghĩa nhân nhượng. Vậy phải chăng như thế không có tính cân đối giữa hai tiểu cú? Thực ra ở đây yếu tố cần nhất là liên từ chỉ ý nhân nhượng, còn liên từ thứ hai kia có thể có hoặc không. Nếu không có liên từ thứ hai thì ranh giới giữa hai tiểu cú được ngăn cách bằng dấu phẩy (,). Tuy nhiên phải thừa nhận rằng, hình thức đầy đủ 20
- Xem thêm -