Tài liệu Khảo sát lỗi chính tả và dùng từ tiếng việt của học sinh tày, nùng trường phổ thông vùng cao việt bắc

  • Số trang: 109 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 104 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ------------------------------------- TRẦN THỊ KIM HOA KHẢO SÁT LỖI CHÍNH TẢ VÀ DÙNG TỪ TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH TÀY, NÙNG TRƯỜNG PHỔ THÔNG VÙNG CAO VIỆT BẮC LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC THÁI NGUYÊN, NĂM 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ------------------------------------- TRẦN THỊ KIM HOA KHẢO SÁT LỖI CHÍNH TẢ VÀ DÙNG TỪ TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH TÀY, NÙNG TRƯỜNG PHỔ THÔNG VÙNG CAO VIỆT BẮC Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 60.22.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. HÀ QUANG NĂNG THÁI NGUYÊN, NĂM 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Lêi cam ®oan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả Trần Thị Kim Hoa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CẢM ƠN Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Hà Quang Năng. Nhân đây tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy PGS. TS. Hà Quang Năng người đã tận tình giúp đỡ để tác giả hoàn thành luận văn này. Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới BGH, Phòng Khảo thí các thầy cô giáo tổ Văn, các em học sinh trường PTVCVB và bạn bè đồng nghiệp đã tận tình quan tâm, chỉ bảo, cung cấp nhiều thông tin và tư liệu quý giá cho luận văn. Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy, cô giáo những người đã trực tiếp giúp tác giả nâng cao vốn kiến thức ngôn ngữ trong thời gian theo học chương trình thạc sĩ ngôn ngữ khoá 2008 - 2010 tại trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên. Trong quá trình học tập và nghiên cứu bản thân tác giả đã có nhiều cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các thầy, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp chỉ dẫn và góp ý. Tác giả luận văn Trần Thị Kim Hoa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT PTVCVB : Phổ thông Vùng cao Việt Bắc THPT : Trung học phổ thông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ. Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông của các dân tộc Việt Nam. Hiện nay, ở nước ta, tiếng Việt được sử dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đối với mỗi người Việt Nam, tiếng Việt vừa là phương tiện giao tiếp, học tập, làm việc, vừa là công cụ tư duy. Các dân tộc thiểu số có quyền và nghĩa vụ học tập và sử dụng tiếng Việt. Điều này đã được khẳng định trong Hiến pháp và trong các Nghị định của Chính phủ. Vì vậy, cần phải nghiên cứu để tìm ra con đường ngắn nhất nhằm giúp học sinh dân tộc thiểu số học và sử dụng tiếng Việt thành thạo là một trong những nhiệm vụ của nhà trường, nhất là đối với các trường dân tộc nội trú, nơi tập trung nhiều học sinh các dân tộc thiểu số học tập. 1.2. Trường Phổ thông Vùng Cao Việt Bắc (PTVCVB) là nơi tập trung con em các dân tộc từ nhiều tỉnh về học tập. Trong đó, học sinh Tày, Nùng chiếm 3/4 tổng số học sinh toàn trường. Cũng giống như học sinh các dân tộc thiểu số khác, vốn tiếng Việt của các em còn hạn chế. Trong quá trình giao tiếp và học tập, các em mắc nhiều lỗi về ngôn ngữ như: lỗi dùng từ, đặt câu, chính tả, diễn đạt… Là giáo viên, đang trực tiếp làm công tác giảng dạy tại trường dân tộc nội trú, chúng tôi thấy học sinh dân tộc thiểu số nói chung và học sinh Tày, Nùng nói riêng khi viết bài hoặc làm bài còn mắc các lỗi chính tả, lỗi dùng từ sai hoặc không phù hợp với văn cảnh. Với học sinh người Kinh, tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ. Trong khi đó, đối với học sinh các dân tộc thiểu số nói chung và học sinh dân tộc Tày, Nùng nói riêng, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai- ngôn ngữ được hình thành trong học sinh sau khi các em đã nắm vững và sử dụng tiếng dân tộc mình (tiếng mẹ đẻ). Việc dạy ngôn ngữ thứ hai có nhiều điểm khác với dạy- học tiếng mẹ đẻ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 Và một trong những đặc thù trong dạy- học ngôn ngữ thứ hai đó là hiện tượng giao thoa ngôn ngữ khi người học thụ đắc ngôn ngữ thứ hai. Bởi vì như L.V. Sherba đã nói “Có thể gạt bỏ tiếng mẹ đẻ ra khỏi chương trình học ngôn ngữ thứ hai, nhưng không thể nào gạt bỏ tiếng mẹ đẻ ra khỏi đầu những người học ngôn ngữ thứ hai đó” [dẫn theo 10, tr.73] Do sự tiếp xúc, giao thoa giữa các ngôn ngữ nên đã có hiện tượng mắc lỗi của học sinh như đã nêu trên. 1.3. Để góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo phổ thông nói chung, nâng cao trình độ sử dụng tiếng Việt cho học sinh thiểu số nói riêng cũng là góp phần thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước về sự bình đẳng dân tộc, chúng tôi đã chọn đề tài: “Khảo sát lỗi chính tả và dùng từ tiếng Việt của học sinh Tày, Nùng trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc”. 2. Lịch sử vấn đề Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lỗi chính tả và từ vựng tiếng Việt. Về lỗi chính tả, có thể kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả sau: Hoàng Phê trên cơ sở tìm hiểu lỗi chính tả ở cả ba vùng Bắc- TrungNam đã biên soạn cuốn “Chính tả tiếng Việt” dưới dạng một từ điển. Trên cơ sở tìm hiểu các vấn đề chính tả của các phương ngữ Phan Ngọc đã đưa ra các mẹo chữa lỗi chính tả trong cuốn “Mẹo giải nghĩa từ tiếng Việt và chữa lỗi chính tả”. Trong cuốn sách này, Phan Ngọc đã đưa ra các mẹo giải nghĩa của các từ Hán- Việt và chữa các lỗi chính tả liên quan đến từ Hán - Việt. Trong luận án của mình, Hoàng Thảo Nguyên đã khảo sát các loại lỗi chính tả của học sinh Thừa Thiên- Huế do ảnh hưởng của phương ngữ Trung. Về lỗi dùng từ có thể kể đến các công trình sau: “Lỗi từ vựng và cách khắc phục” của các tác giả Hồ Lê, Trần Thị Ngọc Lang, Lê Đình Nghĩa. Trong cuốn này các tác giả đã nêu ra chín loại lỗi, trong đó có những kiểu lỗi có thể gộp thành một như: lỗi do phối hợp nghĩa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 không ăn khớp với những đơn vị từ vựng đi với nó với lỗi phong cách. Các tác giả mới đưa ra cách khắc phục một số lỗi như: lỗi viết sai âm gây ra sự lẫn lộn về nghĩa, lỗi hiểu sai nghĩa của từ, lỗi do phối hợp nghĩa giữa một số từ hoặc không ăn khớp, hoặc bị trùng lặp. “Từ điển lỗi dùng từ” do Hà Quang Năng chủ biên. Tác giả đã xác định năm dạng lỗi cơ bản như: dùng từ sai vỏ âm thanh, dùng từ sai ý nghĩa, dùng lặp từ, dùng thừa từ và thiếu từ, dùng từ sai phong cách và sai từ loại. Từ đó, các tác giả đưa ra biện pháp khắc phục lỗi. “Rèn luyện kỹ năng dùng từ và kỹ năng về chính tả” trong cuốn “Tiếng Việt thực hành” của Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp. Các tác giả đã nêu ra ba loại lỗi chính về từ tiếng Việt: lỗi thông thường về dùng từ trong văn bản, lỗi chính tả, lỗi về quy tắc viết hoa và quy tắc phiên âm tiếng nước ngoài. “Tiếng Việt thực hành” của tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng cũng đã nêu ra các cách dùng từ: dùng đúng âm thanh và hình thức cấu tạo, đúng về nghĩa và quan hệ kết hợp; dùng từ phải hợp phong cách văn bản, đảm bảo tính hệ thống của văn bản. Ngoài những công trình trên còn có một số luận văn, niên luận và khóa luận của học viên, sinh viên khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên như: Lương Thị Kim Dung với luận văn thạc sĩ (2003) “Giao thoa ngôn ngữ và việc dạy học từ tiếng Việt cho học sinh người dân tộc Tày”. “Khảo sát lỗi chính tả của sinh viên trường Đại học Sư phạm, trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp thuộc Đại học Thái nguyên”, luận văn tốt nghiệp của Dương Thùy Linh, sinh viên lớp Văn K36A. “Tìm hiểu lỗi chính tả tiếng Việt của học sinh dân tộc Mường trường PTDTNT tỉnh Hòa Bình”, luận văn tốt nghiệp của Bùi Hải Yến, sinh viên lớp Văn K34. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 Tìm hiểu lỗi của học sinh dân tộc thiểu số khi học tiếng Việt cũng có nhiều công trình đề cập đến. Song tìm hiểu lỗi chính tả và cách dùng từ tiếng việt của học sinh dân tộc Tày - Nùng thì đến nay chúng tôi thấy vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Chính vì vậy mà chúng tôi nghiên cứu đề tài này. 3. Mục đích nghiên cứu Trên sở thống kê các bài viết của học sinh ở trường PTVCVB, luận văn tiến hành tìm hiểu những loại lỗi cơ bản thường gặp của học sinh thuộc bình diện ngữ âm và từ vựng, từ đó, đề xuất những phương pháp sửa lỗi để giúp nâng cao chất lượng đào tạo ở trường dân tộc nội trú. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu - Xác lập cơ sở lý thuyết liên quan đến việc giải quyết các vấn đề lỗi của học sinh. - Thống kê, phân loại, miêu tả các loại lỗi liên quan đến bình diện ngữ âm, từ vựng. - Bước đầu chỉ ra những nguyên nhân, đề xuất giải pháp sửa chữa và cách khắc phục. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Tiến hành đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp thống kê: thống kê số lượng các lỗi xuất hiện trong các bài viết của học sinh. - Phương pháp miêu tả và phân tích lỗi: trên cơ sở miêu tả các loại lỗi để tìm ra những nguyên nhân mắc lỗi từ đó đề ra giải pháp sửa lỗi. 6. Tƣ liệu nghiên cứu - Tổng số 712 bài viết của học sinh dân tộc người Tày, Nùng trường PTVCVB (từ lớp 10 đến lớp 12). 7. Ý nghĩa của luận văn - Việc khảo sát, nghiên cứu và phân tích lỗi, chỉ ra hệ thống các lỗi của học sinh dân tộc Tày, Nùng khi học tiếng Việt nhằm góp phần vào việc nâng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 cao việc dạy và học ở trường dân tộc nội trú. Đồng thời góp thêm một bước tiến mới trong việc nghiên cứu lỗi và chỉ ra lỗi của học sinh dân tộc. - Những kết quả nghiên cứu sẽ giúp ích cho việc nâng cao trình độ sử dụng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số và có thể áp dụng vào việc giảng dạy cho các đồng nghiệp dạy học ở các trường dân tộc nội trú. 8. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương, cụ thể là: Chƣơng 1. Những cơ sở lý luận về lỗi và phân tích lỗi khi học ngôn ngữ thứ hai. Chƣơng 2. Lỗi chính tả tiếng Việt của học sinh Tày, Nùng Chƣơng 3. Lỗi dùng từ tiếng Việt của học sinh Tày, Nùng Chƣơng 4. Một số giải pháp chữa lỗi chính tả và cách dùng từ tiếng Việt cho học sinh Tày, Nùng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỖI VÀ PHÂN TÍCH LỖI KHI HỌC NGÔN NGỮ THỨ HAI 1. Khái niệm lỗi Theo S.P. Corder lỗi “là kết quả của sự thể hiện không thành công” [dẫn theo 8. tr8]. Khi người học thụ đắc một ngôn ngữ nào đó với tư cách là ngôn ngữ thứ hai thì mắc lỗi là điều không tránh khỏi. Hiện tượng mắc lỗi là một điều tất yếu khi học một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ. “Lỗi không phải là một vấn đề phải vượt qua hay là những cái gì sai trái, hay là điều đáng xấu hổ phải xóa bỏ. Thực ra, lỗi là một phần của việc học và qua lỗi có thể phát hiện ra những chiến lược mà người học đã sử dụng để học một ngoại ngữ. Lỗi cung cấp cho chúng ta những sự hiểu biết, những cái nhìn giá trị, những kinh nghiệm quý báu về quá trình học một ngoại ngữ” [dẫn theo 8. tr.8]. Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng của Nhà xuất bản Longman năm 1985 định nghĩa về lỗi như sau: “Lỗi của người học (trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ) là hiện tượng sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn một từ, một đơn vị ngữ pháp, một hoạt động nói năng…) bằng cách mà người bản ngữ hoặc người giỏi thứ tiếng đó cho là sai hoặc là chưa đầy đủ” [dẫn theo 31. tr. 13]. Các nhà ngôn ngữ học ứng dụng đưa ra sự phân biệt giữa hai loại lỗi, đó là: - Lỗi do người học chưa có hiểu biết đầy đủ. Đây là lỗi thường xảy ra với người học ngôn ngữ thứ hai. Theo S.P. Corder, loại lỗi này mang tính hệ thống, lặp lại nhiều lần, cần được quan tâm, là đối tượng của phân tích lỗi. Tuy nhiên theo gợi ý của W.T. Little Wood “tiêu chí đáng tin cậy nhất là tính xuất hiện thường xuyên (regularity)- Chứng cớ tốt nhất mà một lỗi (error) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 phản ánh hệ thống chiều sâu của người học là khi nó xuất hiện đều đặn trong lời nói của người học” [22, tr.8]. Theo gợi ý này, chúng tôi chỉ khảo sát những lỗi có tần số xuất hiện nhiều lần. - Sai sót do người học thiếu chú ý, mệt mỏi lơ đãng hoặc một số dạng khác của sự thể hiện ngôn ngữ. Đây là những lỗi mang tính chất ngẫu nhiên, không có chiều sâu nên không được coi là đối tượng của phân tích lỗi. Theo Hendrickson lỗi “là một phát ngôn, một hình thức biểu đạt hoặc là một kết cấu mà một giáo viên ngôn ngữ đặc biệt thấy rằng không thể chấp nhận được bởi vì cách sử dụng không hợp lí của chúng hoặc là sự vắng mặt của chúng trong các diễn ngôn đời thường” [dẫn theo 8. tr. 8]. 2. Những khuynh hƣớng lí luận của phân tích lỗi Cơ sở lí luận mà luận văn dựa vào là lí thuyết phân tích lỗi do S.P. Corder khởi xướng. Tuy nhiên để hiểu một cách hệ thống về lí luận phân tích lỗi, luận văn sẽ lần lượt trình bày các quan điểm khác nhau về lỗi. 2.1. Thuyết hành vi Thuyết hành vi được hình thành vào khoảng cuối những năm 50 của thế kỉ XX. Thuyết này nghiên cứu sự thụ đắc ngôn ngữ thứ hai dựa trên ngôn ngữ thực mà người học đã tạo ra đồng thời nghiên cứu và xem xét quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai. Thuyết này đề cập đến hai khái niệm cơ bản, đó là “thói quen” và “lỗi”. 2.1.1. Khái niệm thói quen Hai đặc điểm quan trọng của thói quen là: - Chúng có thể quan sát được - Thói quen mang tính tự động vì vậy khó có thể xóa bỏ được chúng. Muốn thay đổi được thói quen cần thay đổi môi trường, khi đó các kích thích dẫn đến thói quen sẽ biến mất. Cũng theo thuyết này, thói quen được hình thành khi những kích thích đặc biệt có liên hệ với một phản ứng đặc biệt. Watson, nhà tâm lí học đại diện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 cho trường phái thuyết hành vi, cho rằng, kích thích sẽ gợi ra phản ứng. Tức là nếu kích thích xuất hiện thì phản ứng cũng sẽ xuất hiện. Còn Skinner lại không nhấn mạnh đến tầm quan trọng của kích thích mà tập trung vào phản ứng. Vì theo ông, hành vi tiếp theo một phản ứng sẽ củng cố nó từ đó giúp cho việc tăng cường mối liên hệ giữa chúng. Và như vậy, việc học một thói quen cần diễn ra qua sự “bắt chước” hoặc qua “củng cố”. Các nhà nghiên cứu cho rằng, quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai diễn ra như quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất. Bởi theo họ, sở dĩ nắm vững tiếng mẹ đẻ là bởi chúng bắt chước các phát ngôn do người lớn tạo ra. Khi đó, trẻ em sẽ tạo cho mình một sự hiểu biết về các mẫu hoặc những thói quen hình thành nên ngôn ngữ mà chúng đang học. Quá trình học ngôn ngữ thứ hai cũng diễn ra như vậy. Bắt chước và củng cố là những phương tiện mà người học dùng để xác định sự liên kết giữa các kích thích phản ứng, sự liên kết hình thành nên thói quen của ngôn ngữ thứ hai. Quá trình học ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai thành công khi các nhiệm vụ được phân thành một số các mối liên hệ kích thích và phản ứng. Và mối liên hệ này cần được người học luyện tập có hệ thống để nắm vững chúng. Về góc độ lí thuyết, ngoài việc đưa ra một bức tranh tổng thể về quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai như là việc hình thành thói quen thì thuyết hành vi cũng giải thích vì sao người học ngôn ngữ thứ hai lại mắc lỗi. 2.1.2. Khái niệm chuyển di “Trong lý thuyết về quá trình học nói chung (không chỉ ngôn ngữ), chuyển di là sự áp dụng những hiểu biết có trước trong tình huống A vào việc học trong tình huống B… Chuyển di ngôn ngữ là chiến lược mà người học áp dụng những tri thức có sẵn về ngôn ngữ nguồn vào việc hình thành những giả thuyết về ngôn ngữ đích” [22, tr. 19] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 Thuyết hành vi cho rằng, các thói quen cũ sẽ giao thoa với các thói quen mới. Vì vậy, khi thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, người ta quan tâm đến “những công cụ ngữ pháp được lập trình trong bộ óc khi ngôn ngữ thứ nhất giao thoa với quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai” [dẫn theo 8, tr.11]. Thuyết hành vi cho rằng, khái niệm giao thoa có vai trò quan trọng trong việc mô tả quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai. Giao thoa là kết quả của những gì ngăn chặn trước. Khi thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, giao thoa được thể hiện như sau. Ở chỗ mà ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai có cùng một ý nghĩa, tuy nhiên ý nghĩa này được thể hiện bằng những cách khác nhau thì khả năng lỗi sẽ xuất hiện trong ngôn ngữ thứ hai. Và lúc này, người học sẽ chuyển di những hiểu biết của mình từ ngôn ngữ thứ nhất sang ngôn ngữ thứ hai. Việc học ngôn ngữ thứ hai liên quan đến việc hình thành những thói quen mới. Vì thế, người học phải vượt qua được sự ngăn chặn để hình thành thói quen mới. Theo thuyết hành vi, chuyển di sẽ diễn ra từ ngôn ngữ thứ nhất sang ngôn ngữ thứ hai. Có hai loại chuyển di là: chuyển di tích cực và chuyển di tiêu cực. Chuyển di tiêu cực xuất hiện khi có sự ngăn chặn trước, nó cản trở việc học một thói quen mới. Khi đó lỗi xuất hiện. Chuyển di tích cực xuất hiện khi thói quen của ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai có sự tương đồng. Khi đó lỗi không xuất hiện. Như vậy, sự khác nhau giữa ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai sẽ tạo ra khó khăn cho quá trình học và tất yếu lỗi sẽ xuất hiện. Còn giữa ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai có sự tương đồng sẽ thúc đẩy quá trình học được nhanh và dễ dàng. Thuyết hành vi cho rằng, lỗi được coi như một điều gây rắc rối, không được chấp nhận. Thậm chí, một số nhà nghiên cứu còn khẳng định, sẽ rất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 nguy hiểm nếu lỗi trở thành một thói quen và chúng ta phải chấp nhận những lỗi này. Quan điểm này của thuyết hành vi cuối cùng đã bị loại bỏ triệt để bằng những quan điểm khác nhau do N. Chomski đưa ra. Ông cho rằng con người chắc chắn phải có một loại khả năng bẩm sinh nhất định có thể hướng dẫn các khả năng tạo câu và giúp cho một đứa trẻ có khả năng thụ đắc ngữ pháp của một ngôn ngữ cho đến khi chúng 5 hoặc 6 tuổi. Và ông gọi khả năng này là “ngữ pháp phổ quát” và cho rằng đây chính là khả năng của con người mà ngôn ngữ học nhằm mục đích theo đuổi. 2.2. Khuynh hướng phân tích đối chiếu Khuynh hướng phân tích đối chiếu cho rằng khó khăn chủ yếu khi thụ đắc ngôn ngữ thứ hai là sự giao thoa giữa hệ thống ngôn ngữ thứ nhất và hệ thống ngôn ngữ thứ hai. Robetrt Lado, một trong những nhà ngôn ngữ học đi tiên phong về phân tích tương phản, trong cuốn “Ngôn ngữ qua các nền văn hóa” có viết “những phần nào mà tương tự như tiếng mẹ đẻ của người học thì sẽ đơn giản đối với người học, còn những phần nào mà khác so với tiếng mẹ đẻ thì sẽ lại rất khó” [dẫn theo 8 tr.14]. Từ đó ông đưa ra cách giải quyết lí thuyết toàn diện và những phương pháp mang tính hệ thống cho việc nghiên cứu ngôn ngữ tương phản. Chính điều này liên quan đến việc miêu tả ngôn ngữ, so sánh ngôn ngữ và dự đoán những khó khăn khi học ngôn ngữ thứ hai. Phân tích đối chiếu liên quan đến việc so sánh và đối chiếu những đặc điểm của tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ đích. Ví dụ như so sánh về mặt ngữ âm, từ vựng, cú pháp,… để tìm ra những khác biệt và có thể dự đoán sự xuất hiện của các lỗi tiềm năng. Quá trình học ngôn ngữ là quá trình hình thành thói quen. Thói quen cũ (việc sử dụng tiếng mẹ đẻ) sẽ ngăn cản hoặc tạo thuận lợi cho việc hình thành thói quen mới (việc học ngôn ngữ thứ hai) trên cơ sở sự giống và khác nhau Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11 giữa cái cũ và cái mới. Tức là sẽ có sự chuyển di tích cực ở chỗ hai ngôn ngữ tương đồng, và sự chuyển di tiêu cực ở chỗ hai ngôn ngữ khác nhau. Phân tích đối chiếu cho rằng sự chuyển di tiêu cực chính là nguyên nhân dẫn đến lỗi mà người học mắc phải trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ đích. Tuy nhiên, phương pháp phân tích đối chiếu cũng thường bị phê phán ở những điểm sau: - Thứ nhất, người ta nghi ngờ khả năng dự đoán lỗi của phân tích đối chiếu không chính xác. Khi xem xét kĩ ngôn ngữ của người học, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng phương pháp này không giải thích được nhiều lỗi. Thậm chí có những lỗi mà người học mắc không liên quan đến ngôn ngữ mẹ đẻ. Có rất nhiều lỗi trong dự đoán thì có nhưng trong thực tế đã không xuất hiện. Thế nhưng những lỗi không dự đoán thì lại xuất hiện nhiều. Chứng tỏ phân tích tương phản không thể dự đoán được những khó khăn của quá trình học mà chỉ có tác dụng trong việc giải thích các lỗi đã mắc trong quá khứ. - Thứ hai, người ta không tin vào khả năng đưa ra được điều gì thích hợp với việc giảng dạy ngôn ngữ của phương pháp này. Những hạn chế như đã nêu ở trên đã ảnh hưởng đáng kể đến thuyết phân tích đối chiếu. 2.3. Lí thuyết phân tích lỗi S.P. Corder là người khởi xướng lí thuyết phân tích lỗi. Theo ông, phân tích lỗi là việc nghiên cứu và phân tích các lỗi do người học ngôn ngữ gây ra. Nói cụ thể hơn thì phân tích lỗi là quá trình xác định sự tác động, bản chất và nguyên nhân cũng như kết quả của việc học ngôn ngữ không hiệu quả. Phân tích lỗi chú ý đến quá trình thụ đắc ngôn ngữ, năng lực giao tiếp và tập trung vào phân tích lỗi của người học, phân loại lỗi, miêu tả lỗi đồng thời đánh giá mức độ nghiêm trọng của lỗi. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12 S.P. Corder cho rằng, trong việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, về cơ bản, người học cũng sử dụng chiến lược như thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất. Thế nhưng điều này không có nghĩa quá trình thụ đắc tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai là giống nhau. Từ việc phân loại lỗi mà người học mắc và xem xét các chiến lược mà người học ngôn ngữ sử dụng, các nhà nghiên cứu đã biết được rất nhiều về quá trình thụ đắc ngôn ngữ. Với người học, lỗi là cái gì đó “không thể thiếu được” vì mắc lỗi có thể được coi là một cách thức mà người học dùng để học ngôn ngữ thứ hai. Như vậy, việc phân tích lỗi với người học giúp chúng ta hiểu được quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai một cách sâu sắc hơn. Từ đó giáo viên kịp thời giúp người học sửa chữa lỗi để họ có thể đạt được kết quả tốt khi học ngôn ngữ thứ hai. 2.3.1. Các giai đoạn phân tích lỗi S. P. Corder đưa ra ba giai đoạn trong phân tích lỗi như sau: - Nhận diện lỗi - Miêu tả lỗi - Giải thích lỗi 2.3.1.1. Giai đoạn một - nhận diện lỗi Cần phải hiểu lỗi là gì trước khi tiến hành nhận diện một lỗi. Ở giai đoạn thứ nhất này, Corder đã chia lỗi thành ba loại, đó là: - Lỗi trước hệ thống: là những lỗi mà người học mắc phải khi họ đang cố gắng nắm vững một kiến thức mới. - Lỗi sau hệ thống: là lỗi xảy ra khi người học tạm thời quên một kiến thức mà họ đã nắm và hiểu trước đó. - Lỗi hệ thống: là những lỗi xuất hiện khi người học hình thành giả thuyết không chính xác về ngôn ngữ đích. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13 Một quy luật chung mà Corder đưa ra là: tất cả các câu trong ngôn ngữ của người học đều được coi là “có thể sai” cho đến khi xác minh được chúng. Và ông cho rằng “nhận diện lỗi chủ yếu phụ thuộc vào sự diễn giải chính xác của người học”. Khi muốn biết người học định nói gì, giáo viên có thể yêu cầu người học giải thích bằng tiếng mẹ đẻ của họ. Tiếp theo cần dịch câu đó sang ngôn ngữ đích một cách chính xác cả nội dung và hình thức. Từ đó, ta có thể so sánh câu này với câu ban đầu mà người học đã sai. Ngoài ra, trong những trường hợp không thể dựa vào tiếng mẹ đẻ của người học, tức là giáo viên không thể tiếp cận được với người học thì có thể dựa vào trình độ, kinh nghiệm và khả năng suy luận của giáo viên hoặc người nghiên cứu. Tuy nhiên để thực hiện được điều này cần phải xác định được người học đã học cái gì và học như thế nào. Khi giai đoạn nhận diện lỗi hoàn thành sẽ chuyển sang giai đoạn miêu tả lỗi. 2.3.1.2. Giai đoạn hai- miêu tả lỗi Ở giai đoạn này, giáo viên cần chỉ cho người học thấy được họ đã thất bại ra sao khi không hiểu được thông tin mong đợi. Corder cho rằng “mục đích của việc phân tích lỗi là giải thích lỗi về khía cạnh ngôn ngữ học và tâm lí học để giúp người học học được”. Và ông cũng cho rằng, chúng ta nên tìm những lỗi lặp đi lặp lại để có thể quan sát được các quy tắc mà người học đang sử dụng. 2.3.1.3. Giai đoạn ba- giải thích lỗi Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong phân tích lỗi. Ở đây có hai cách giải thích về nguyên nhân mắc lỗi: Cách thứ nhất cho rằng người học mang sang ngôn ngữ thứ hai những thói quen trong tiếng mẹ đẻ của họ. Chính những thói quen này ngăn cản người học trong việc thụ đắc những thói quen mới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14 Cách thứ hai cho rằng việc học ngoại ngữ là một quá trình tri nhận, hình thành các giả thuyết và xử lí các ngữ liệu. Vì vậy, lỗi là dấu hiệu của những giả thuyết, là chiến lược người học áp dụng để cấu trúc ngôn ngữ đích. Và như vậy, lỗi là bộ phận đương nhiên không thể thiếu trong quá trình học ngoại ngữ. Giải thích lỗi là hệ quả của giai đoạn nhận diện và miêu tả lỗi. 2.3.2. Phân loại lỗi Có hai cách phân loại lỗi: phân loại lỗi dựa vào nguồn gốc; phân loại lỗi dựa vào các đơn vị ngữ pháp. a. Phân loại lỗi dựa vào nguồn gốc: gồm hai loại cơ bản là lỗi giao thoa và lỗi tự ngữ đích. * Lỗi giao thoa là lỗi được tạo ra do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ của người học lên sản phẩm ngôn ngữ đích của người học, nhất là những khu vực mà hai ngôn ngữ khác nhau nhiều. Đây là cách phân loại mà luận văn của chúng tôi sử dụng để miêu tả, đồng thời dựa vào các tiêu chí nguyên nhân để giải thích lỗi. Vì thế, chúng tôi sẽ dành một mục riêng để trình bày về lí thuyết giao thoa. * Lỗi tự ngữ đích Là những lỗi sinh ra trong bản thân ngôn ngữ đang được học. Lỗi này được tạo ra do người học sử dụng những tri thức đã biết về ngôn ngữ đích để tạo ra những sản phẩm ngôn ngữ mới. b. Phân loại lỗi dựa vào đơn vị ngữ pháp Cách thức tiến hành là đi miêu tả ngữ pháp của các lỗi. Đây là cách phân loại mà các công trình thực nghiệm về phân tích lỗi thường tiến hành. 2.4. Ý nghĩa của lỗi và phân tích lỗi Việc phân tích lỗi cho thấy lỗi có ba ý nghĩa sau: - Ý nghĩa thứ nhất: lỗi là một điều tất yếu, không thể thiếu với người học, vì thế chúng ta có thể coi việc mắc lỗi là cách thức người học sử dụng để Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15 học. Đây được coi như một chiến lược học không chỉ đối với trẻ em khi học ngôn ngữ thứ nhất mà ngay cả đối với người lớn khi học ngôn ngữ thứ hai. - Lỗi có thể cho giáo viên nắm bắt được trình độ của người học, từ đó giáo viên có thể biết được mình nên dạy học sinh cái gì. - Lỗi có thể cung cấp cho nhà nghiên cứu những chứng cứ về việc ngôn ngữ đã được học như thế nào, người học đã sử dụng những biện pháp gì và chiến lược gì trong quá trình khám phá ngôn ngữ. Phân tích lỗi cung cấp những phản hồi đối với lí luận ngôn ngữ. Ngôn ngữ học tâm lí tiên đoán tiếng mẹ đẻ ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến quá trình học ngôn ngữ thứ hai. Ngoài ra, phân tích lỗi có thể đem đến một số chứng cứ để bác bỏ hoặc ủng hộ tiên đoán này. Có thể khẳng định phân tích lỗi là một bộ phận của phương pháp luận nghiên cứu việc học ngôn ngữ thứ hai. 3. Các nguyên nhân tạo lỗi Theo quan điểm của phân tích lỗi hiện đại, các nguyên nhân của lỗi là do người học áp dụng các chiến lược trong qua trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai. Hai chiến lược mà người học thường sử dụng nhất là: chuyển di và vượt tuyến. 3.1. Chiến lược chuyển di Chiến lược chuyển di là sự áp dụng những hiểu biết có trước trong tiếng mẹ đẻ, tức là mượn các quy tắc, kết cấu của tiếng mẹ đẻ để đưa vào ngôn ngữ đích. Chuyển di từ ngôn ngữ thứ nhất sang ngôn ngữ thứ hai có hai loại: Chuyển di tích cực và chuyển di tiêu cực. Chuyển di tích cực diễn ra khi người học sử dụng những tri thức có trong tiếng mẹ đẻ để hình thành những giả thuyết về ngôn ngữ đích. Chuyển di tiêu cực diễn ra khi người học sử dụng những hình thức biểu đạt, những kết cấu, những quy tắc có ở tiếng mẹ đẻ để hình thành những câu mới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -