Tài liệu Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái landrace và yorkshire từ lứa 2 5 tại trang trại ông trần văn liêm xã cổ lũng huyện phú lương tỉnh thái nguyên

  • Số trang: 54 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 32 |
  • Lượt tải: 0
trangtranthi64149

Tham gia: 04/06/2016

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHAN VĂN HỢP Tên đề tài: KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI LANDRACE VÀ YORKSHIRE TỪ LỨA 2 - 5 TẠI TRANG TRẠI ÔNG TRẦN VĂN LIÊM XÃ CỔ LŨNG, HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y Lớp : K43 - CNTY Khoa : Chăn nuôi Thú y Khoá học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : ThS. Lê Minh Toàn Thái Nguyên, 2015 i LỜI CẢM ƠN Thực tập tốt nghiệp là nội dung rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước lúc ra trường. Giai đoạn này vừa giúp cho sinh viên kiểm tra, hệ thống lại những kiến thức lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất. Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire từ lứa 2 - 5 tại trang trại ông Trần Văn Liêm - xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”. Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận sự giúp đỡ tận tình của cán bộ tại cơ sở, các thầy cô giáo trong Khoa chăn nuôi thú y, đặc biệt là sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn Th.s Lê Minh Toàn đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập này. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y, Bác Trần Văn Liêm, gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn, bỡ ngỡ ban đầu của quá trình thực tập. Do thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong được sự giúp đỡ, góp ý chân thành của các thầy, cô giáo và toàn thể các bạn bè đồng nghiệp để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn. Thái nguyên, ngày tháng Sinh viên Phan Văn Hợp năm 2015 ii DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 2.1: Hàm lượng axit amin thích hợp cho lợn nái chửa và lợn nái nuôi con (Võ Trọng Hốt, 2000)[8] ............................................................. 19 Bảng 2.2. Năng suất sinh sản của lợn Landrace ............................................. 22 Bảng 2.3. Năng suất sinh sản của một số lợn ngoại nuôi tại Việt Nam.......... 22 Bảng 2.4: Các tham số thống kê về các tính trạng năng suất sinh sản của đàn lợn nái Yorkshire và Landrace ........................................................... 23 Bảng 4.1. Lịch phòng bệnh của trai lợn ....................................................... 31 Bảng 4.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 34 Bảng 4.3. Các chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn cái hậu bị ............................. 35 Bảng 4.4: Các chỉ tiêu về lợn con sơ sinh của nái Landrace .......................... 36 Bảng 4.5: các chỉ tiêu về lợn con sơ sinh của nái Yorkshine ................... 37 Bảng 4.6: So sánh các chỉ tiêu sơ sinh nái Landrace và Yorkshire lúc sơ sinh ..................................................................................................... 38 Bảng 4.7: Các chỉ tiêu về lợn con lúc 21 ngày tuổi của nái Landrace ....... 40 Bảng 4.8: Các chỉ tiêu về lợn con lúc 21 ngày tuổi của nái Yorkshire ...... 41 Bảng 4.9: So sánh chỉ tiêu 21 ngày tuổi đàn con của nái Landrace và Yorkshire lúc 21 ngày tuổi ............................................................... 42 iii DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT Y Từ viết tắt Ý nghĩa Y Yorkshire L Landrace MC Móng cái CS Cộng sự TĐDLĐ Tuổi động dục lần đầu TPGLĐ Tuổi phối giống lần đầu TĐLĐ Tuổi đẻ lứa đầu TGMT Thời gian mang thai iv MỤC LỤC PHẦN 1. MỞ ĐẦU ....................................................................................................1 1.1.Đặt vấn đề .............................................................................................................1 1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài .............................................................................2 1.3. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................................2 PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .........................................................................3 2.1.Cơ sở khoa học ......................................................................................................3 2.1.1.Đặc điểm một số giống lợn ngoại ......................................................................3 2.1.2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái ............................................................7 2.1.3. Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái. ...............................14 2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái..............................17 2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ......................................................21 2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ...................................................................21 2.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới .................................................................24 PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....25 3.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................25 3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành..........................................................................25 3.3. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................25 3.3.1. Một số đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái hậu bị .....................................25 3.3.2. Khả năng sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire ..............................25 3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ..........................................26 3.4.1. Số trung bình. ................................................................................................26 3.4.2. Độ lệch chuẩn. ...............................................................................................26 3.4.3. Sai số trung bình. ..........................................................................................26 3.4. Phương pháp xử lý số liệu ..............................................................................26 PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................................27 4.1. Công tác phục vụ sản xuất ................................................................................27 4.1.1. Nội dung công tác phục vụ sản xuất ............................................................27 4.1.2. Biện pháp thực hiện ......................................................................................27 v 4.1.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ..............................................................28 4.2. Kết quả nghiên cứu ...........................................................................................35 4.2.1. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái Landrace và Yorkshire hậu bị ..35 4.2.2. Khả năng sính sản của lợn nái Landrace và Yorkshire ..................................36 PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..............................................................44 5.1. Kết luận ............................................................................................................44 5.2. Đề nghị .............................................................................................................44 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 1 PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1.Đặt vấn đề Khi nền kinh tế phát triển thì nhu cầu về thực phẩm của con người ngày càng nâng cao cả về chất lượng và số lượng, vì vậy trong những năm gần đây ngành chăn nuôi đã có những bước tiến nhất định, đặc biệt là ngành chăn nuôi gia súc. Trong đó, chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, bởi nó không chỉ đáp ứng nhu cầu thực phẩm (thịt) cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, cung cấp phân bón cho cây trồng… Do nhu cầu tiêu thụ thịt trong nước đang tăng nhanh, đặc biệt là thịt nạc, do sự cạnh tranh gay gắt về chất lượng và giá cả của lợn giống, lợn hơi và các sản phẩm chế biến từ thịt lợn trên thị trường trong nước và quốc tế, nhiều hộ nông dân, trang trại chăn nuôi lợn ở nước ta đã cố gắng chuyển phương thức chăn nuôi truyền thống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm vốn có và nguồn thức ăn từ phụ phẩm nông nghiệp sang chăn nuôi theo hướng công nghiệp. Những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước tạo mọi điều kiện để phát triển mạnh ngành chăn nuôi lợn, đạt tốc độ phát triển khá cao với số lượng đàn lợn lớn. Thái Nguyên là tỉnh miền núi phía Bắc có ngành chăn nuôi đang ngày càng phát triển mạnh, trong đó huyện Phú Lương có nhiều trang trại chăn nuôi lợn ngoại với quy mô lớn được mở ra trong những năm gần đây. Để nâng cao hiệu quả sản xuất trong chăn nuôi, chất lượng con giống là tiền đề quan trọng, vì vậy chất lượng của đàn nái sinh sản có ảnh hưởng đến năng suất, quyết định đến số lượng con giống sản xuất. Hiện nay giống lợn Landrace và Yorkshire đóng vai trò chủ yếu trong khâu sản xuất và lợn nái nuôi thịt ở nước ta. Việc đánh giá năng xuất sinh sản đòi hỏi cấp thiết đối với người làm công tác chọn giống và nhân giống vật nuôi. Bên cạnh những tiến bộ đã đạt được thì còn gặp không ít khó khăn, đặc biệt là về kỹ thật, tình hình dịch bệnh của đàn lợn nái. 2 Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, nhằm nâng cao kiến thức cũng như góp phần đẩy mạnh công tác chăn nuôi lợn, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire từ lứa 2 - 5 tại trang trại ông Trần Văn Liêm - xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”. 1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái giống Landrace và Yorkshire từ lứa 2 - 5 tại trang trại ông Trần Văn Liêm - xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. - Theo dõi thu thập đầy đủ và chính xác các số liệu có liên quan đến khả năng sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire. - Là cơ sở, căn cứ cho các nghiên cứu tiếp theo ở mức cao hơn. 1.3. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa trong khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học góp phần nâng cao hiểu biết và làm phong phú thêm những kiến thức về khả năng sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire từ lứa 2 - 5 nuôi tại tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá được khả năng sinh trưởng và sinh sản của đàn lợn Landrace và Yorkshire hiện đang nuôi tại cơ sở để khuyến cáo người dân nuôi lợn nái lựa chọn được giống lợn phù hợp với điều kiện cụ thể tại đia phương. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1.Cơ sở khoa học 2.1.1.Đặc điểm một số giống lợn ngoại 2.1.1.1. Giống lợn Landrace Nguồn gốc và sự phân bố: Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [10], giống lợn nổi tiếng Landrace được tạo ra ở Đan Mạch. Việc tạo giống lợn Landrace được bắt đầu năm 1895, khi mà một số lợn đực giống Yorkshire được nhập vào Đan Mạch từ nước Anh và cho giao phối với lợn địa phương của Đan Mạch. Giống lợn địa phương của Đan Mạch tầm vóc khá to, thô, trường mình, thể chất hơi yếu, mông xuôi chân thẳng, tai cụp xuống, tính chịu đựng kham khổ và khả năng sinh sản cao. Nhờ chọn lọc khắt khe từ năm 1900 đến 1925 người ta đã củng cố được giống lợn Landrace và chính thức công nhận vào năm 1925. Nhờ có giống lợn Landrace đã tạo cho Đan Mạch trở thành nước sản xuất thịt lợn lớn nhất thế giới. Về sau công tác chọn lọc giống lợn Landrace ngày càng được tiến hành chặt chẽ và đã tạo cho giống lợn Landrace ngày càng có nhiều đặc điểm quý phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Vào năm 1934, Bộ nông nghiệp Mỹ đã nhập 30 con lợn giống Landrace của Đan Mạch về phục vụ công tác nghiên cứu giống lợn. Việc nhập giống lợn này của chính phủ Mỹ đã là tiền đề cho việc tạo ra các giống lợn mới sau này. Việc tạo ra giống lợn Landrace của Mỹ tiến hành với sự pha trộn thêm 1/16 đến 1/64 máu của giống lợn Poand China. Đến năm 1954, một đợt tiếp theo nhập 38 lợn đực và cái giống lợn Landrace của Na Uy, Đan Mạch vào Thụy Điển để làm tươi máu cho giống lợn Landrace Mỹ. Từ việc chọn lọc và nhân giống này giống lợn Landrace Mỹ được cải tiến tốt hơn rất nhiều. Mỗi một nước khi nhập giống lợn Landrace để phối tạo ra các dạng giống lợn Landrace phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng nước mình như lợn Landrace 4 của Bỉ có phần mông rất phát triển, lợn Landrace của Nhật thì dài mình… Việt Nam nhập lợn Landrace từ Cu Ba vào năm 1970. Trong các năm 1975 đến 1986 nhập Landrace từ Bỉ và Nhật. Đặc điểm ngoại hình: Lợn Landrace có dạng hình nêm (còn gọi là hình tên lửa) màu lông trắng tuyền, mình dài, có từ 16 - 17 đôi xương sườn, đầu dài hơi hẹp, tai to, dài rủ xuống che cả mắt, bốn chân hơi yếu. Lưng vồng lên, mặt lưng bằng phẳng, mông phát triển, tròn. Lợn Landrace có từ 12 - 14 vú. Lợn Landrace là giống lợn hướng nạc. Đặc điểm sinh trưởng: Lợn Landrace là giống lợn có năng suất cao. Tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng khối lượng thấp từ 2,70 - 3,01 kg; tăng khối lượng bình quân/ngày từ 700 - 800 gam, tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ từ 58 - 60% (một số trạm kiểm tra năng suất thông báo tỷ lệ nạc của Landrace đạt từ 59,65 - 63,10%). Khối lượng cơ thể lợn đực từ 280 - 320 kg, lợn nái từ 220 - 250 kg. Khả năng sinh sản: Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao và khả năng nuôi con khéo (trừ Landrace Bỉ, ngoài ra Landrace Bỉ còn có gen Halothal gây bệnh yếu tim) và Landrace thường được chọn làm “dòng cái” trong các công thức lai giữa lợn ngoại cao sản với nhau. Kết luận: Lợn Landrace là lợn chuyên hướng nạc, tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng chuyển hóa thức ăn thành thịt cao, là giống lợn lý tưởng để sản xuất thịt cung cấp cho nhu cầu người tiêu dùng. Là giống lợn có khả năng sinh sản cao, nuôi con khéo. Tuy nhiên khả năng thích nghi kém hơn Yorkshire trong điều kiện nóng ẩm. Ở Việt Nam, lợn Landrace được dùng để lai kinh tế và nuôi thuần dùng trong chương trình nạc hóa đàn lợn. Công thức lai chủ yếu hiện đang dùng là: Lợn đực Landrace x Lợn nái Móng Cái ( hoặc lợn địa phương) để lấy con lai F1 nuôi thịt. 5 Lợn đực Landrace x lợn F1 (Y x MC) lấy con lai F2 ¾ máu ngoại (50% L, 25% Y, 25% MC) nuôi thịt cho khối lượng lúc 6 tháng tuổi đạt 100 kg, tỷ lệ nạc đạt 46 - 48%. Sử dụng lợn Landrace trong các công thức lai kinh tế 2 giống hoặc 3 giống giữa các giống lợn ngoại để tăng tỷ lệ nạc từ 52 - 60%. 2.1.1.2 Giống lợn Yorkshire Nguồn gốc và sự phân bố : Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [10], Giống lợn Yorkshire được hình thành ở vùng Yorkshire của nước Anh. Trong thời gian đầu của quá trình tạo giống lợn trắng lớn, xương to, trường mình, có các chấm đen trên da được nuôi nhiều tại nước Anh. Các nhà chọn giống đã chọn lọc giống lợn này và cho lai tạo với giống lợn trắng Leicester và hình thành nên giống lợn Yorkshire trắng lớn (Large White ). Lợn nái Yorkshire trắng có khả năng sinh sản cao, đẻ nhiều con trên lứa, chất lượng và khối lượng thịt xẻ cao. Trong những năm cuối thế kỷ 19, lợn Yorkshire trắng được nhập về Cannada và Mỹ. Ở hai nước này, lợn Yorkshire trắng được gọi tên là Yorkshire vào năm 1893, hiệp hội giống lợn Yorkshire được thành lập tại Mỹ. Trong khoảng thời gian mà mỡ lợn là thị hiếu người tiêu dùng nước Mỹ, thì lợn Yorkshire chỉ được ưa thích tại vài nơi ở Mỹ vì đó là giống lợn thiên về hướng nạc. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, người tiêu dùng nước Mỹ quay trở lại với các sản phẩm của giống lợn hướng nạc. Vì thế giống lợn Yorkshire được chọn lọc và nhân giống trở thành giống lợn hướng nạc có phẩm chất thịt xẻ tốt hơn. Ngày nay giống lợn Yorkshire được đánh giá là giống lợn có số lượng nhiều nhất trong các đàn lợn giống và được nuôi rất nhiều nơi trên thế giới. Lợn Yorkshire được nhập vào nước ta vào năm 1964 từ Liên Xô cũ với tên gọi là lợn Đại Bạch, đó là một giống lợn thịt tốt, thân hình nở nang, mình không được dài. Đàn lợn này có tác dụng trong việc cải tạo lợn địa phương miền Bắc Việt Nam trong những năm 1970 - 1980. 6 Năm 1978, nước ta nhập Yorkshire từ Cu Ba, dòng lợn này có chiều dài thân hơn hẳn vòng ngực. Đàn này có tác dụng cải tiến đàn lợn nội và góp phần làm tươi máu đàn lợn Đại Bạch Liên Xô (cũ) nhập vào nước ta đã lâu chưa có điều kiện thay đổi được giống. Từ năm 1994 đến nay, phong trào nuôi lợn ngoại thuần đã phát triển ở vùng đồng bằng sông Hồng, nên một số lượng lớn lợn Yorkshire được đưa từ miền Nam nước ta đã thực sự thúc đẩy phong trào nuôi lợn ngoại đạt năng suất cao ở miền Bắc Việt Nam. Đặc điểm ngoại hình: Lợn Yorkshire có lông trắng ánh vàng, đầu cổ hơi nhỏ và dài, mõm thẳng và dài, mặt rộng, tai to trung bình và hướng về phía trước, mình dài lưng hơi cong, bụng gọn 4 chân dài chắc chắn, có 14 vú. Da của lợn Yorkshire có màu trắng, tuy nhiên thỉnh thoảng có một số nốt đen. Đối với lợn Đại Bạch nhập từ Liên Xô (cũ) có 2 kiểu hình: kiểu hình hướng nạc có tầm vóc to, thân dài, ngực hơi nông. Kiểu hình kiêm dụng mỡ - nạc có tầm vóc to, mình hơi ngắn, ngực sâu, mình tròn. Lợn Đại Bạch nuôi đẻ tại Việt Nam có ngoại hình thay đổi như lông thưa, thể chất có hiện tượng yếu, đi bàn, móng hơi dốc xuôi. Giống lợn Yorkshire thích hợp với chăn thả vì nó là giống lợn ưa hoạt động. Đặc điểm sinh trưởng: Lợn Yorkshire sinh trưởng phát dục nhanh. Khối lượng khi trưởng thành của con đực từ 250 - 300 kg, con cái từ 200 - 250 kg. Lợn Yorkshire nuôi đẻ tại Việt Nam, khả năng tăng khối lượng giảm chút ít so với giống gốc, khối lượng lúc 12 tháng tuổi chỉ bằng khối lượng giống gốc lúc 11 tháng tuổi. Lợn Yorkshire có mức tăng khối lượng bình quân từ 650 - 750 gam/con/ngày; tiêu tốn thức ăn từ 2,80 - 3,10 kg/kg tăng khối lượng, tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ từ 55 - 59%. 7 Khả năng sinh sản: Lợn Yorkshire có khả năng sinh sản tương đối cao, đẻ bình quân 10 - 11 con/lứa, khối lượng sơ sinh đạt 1,1 – 1,2 kg/con. Khi nuôi tại Việt Nam số con đẻ ra trên ổ bình quân là 9,57, khối lượng sơ sinh đạt 1,24 kg/con, khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi đạt 55 - 60 kg, khối lượng bình quân/con lúc 60 ngày tuổi đạt từ 15 – 18 kg. Kết luận: Lợn Yorkshire có tính di truyền ổn định, tầm vóc to, khả năng sản xuất cao, khả năng thích nghi tôt, thích hợp với phương thức nuôi chăn thả. Phương hướng công tác giống: - Nuôi thích nghi tại Việt Nam - Sử dụng trong lai giống với lợn nái nội như Móng Cái và các loại lợn địa phương khác lấy con lai nuôi thịt. - Sử dụng trong công thức lai lấy lợn lai nuôi thịt giữa các giống lợn cao sản nhập nội. 2.1.2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 2.1.2.1. Sự thành thục về tính và thể vóc Sự thành thục về tính: Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và có khả năng sinh sản. Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục. Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối. Khi đó ở con cái các noãn bao chín và rụng trứng (lần đầu), con đực có phản xạ sinh tinh. Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành thục về tính khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày), ở lợn ngoại (180 210 ngày)(Võ Trọng Hốt và cs (2000) [8]). Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cs (2001) [13], cho biết lợn Landrace thành thục về tính là 213, 1 ngày. 8 Ở lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như giống, chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cá thể,… - Giống: Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần. Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50 -55kg. Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 - 68 kg. Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi. Cụ thể lợn Landrace nhập vào nuôi ở Việt Nam có tuổi động dục lần đầu là 208 - 209 ngày. - Chế độ dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái. Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188, 5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234, 8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg. Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hocmon oestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng của trong trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục. - Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục. Mùa hè lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức. Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu). Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày. 9 - Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục. Nhưng cần tránh nuôi nái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn nái được nuôi nhốt theo nhóm. Bên cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị. Nếu cái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn cái hậu bị không tiếp xúc với lợn đực giống. Theo Hughes và Jemes (1996) [17], lợn cái hậu bị ngoài 90kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lợn cái hậu bị động dục lần đầu. Sự thành thục về thể vóc: Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định. Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính. Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên. Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt. Vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém. Đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ. Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này. Do đó không nên cho phối giống quá sớm. Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110 kg mới nên cho phối. 2.1.2.2. Chu kỳ động dục Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng. 10 Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý. Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính. Chu kỳ tính được bắt đầu từ khi cơ thể đã thành thục về tính, nó xuất hiện liên tục và chấm dứt khi cơ thể cái già yếu. Tiền động dục (kéo dài 2 - 3 ngày): Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục. Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển thành thục và nổi rõ lên bề mặt buồng trứng. Buồng trứng to hơn bình thường các tế bào ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên, đường sinh dục tăng tiết dịch nhày và xung huyết nhẹ, hệ thống tuyến ở cổ tử cung tiết dịch nhày, các noãn bao chín và tế bào trứng tách ra ngoài, tử cung co bóp mạnh, niêm dịch đường sinh dục chảy nhiều, con vật bắt đầu xuất hiện tính dục. Các biến đổi trên tạo điều kiện cho tinh trùng tiến lên trong đường sinh dục cái gặp tế bào trứng và tiến hành thụ tinh. Biểu hiện bên ngoài: Âm đạo không nhìn thấy, đỏ hồng, không có hoặc có ít nước nhờn không cho đực nhảy hoặc bỏ chạy khi ta ấn tay vào hông. Ở giai đoạn này lợn thường bỏ ăn hoặc ít ăn, hay kêu rít. Động dục (kéo dài 2 - 3 ngày): Thời gian của giai đoạn này được tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao các biến đổi của cơ quan sinh dục lúc này rõ rệt nhất, niêm mạc âm hộ xung huyết, phù thũng rõ rệt, niêm dịch trong suốt chảy ra ngoài nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ: Con cái đứng nằm không yên, phá chuồng, ăn uống giảm hẳn, kêu rít, đứng trong trạng thái ngẩn ngơ, ngơ ngác, đái rắt, luôn nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình, thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực như: đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và khụy xuống sẵn sàng chịu đực. Nếu ở giai đoạn này trứng gặp được tinh trùng, hợp tử được hình thành thì chu kỳ tính ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai và cho đến khi đẻ xong 11 một thời gian nhất định thì chu kỳ tính mới xuất hiện trở lại. Trường hợp gia súc không có thai thì chuyển sang giai đoạn tiếp. Giai đoạn sau động dục (kéo dài 1 ngày): Ở giai đoạn này toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần dần trở lại trạng thái hoạt đông sinh lý bình thường. Các phản xạ về hưng phấn, về sinh dục dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh, chịu khó ăn uống. Trên buồng trứng thể vàng xuất hiện và bắt đầu tiết progesteron. Progesteron tác động lên trung khu thần kinh làm thay đổi tính hưng phấn, làm kết thúc giai đoạn động dục, niêm mạc của toàn bộ đường sinh dục ngừng tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại. Giai đoạn nghỉ ngơi: Đây là giai đoạn dài nhất của chu kỳ sinh dục. Thời kỳ này con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục dần dần trở lại trạng thái yên tĩnh sinh lý bình thường. Trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bào bắt đầu phát dục nhưng chưa nổi rõ lên bề mặt của buồng trứng toàn bộ cơ quan sinh dục dần dần xuất hiện nhưng biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo. Nếu lợn không có chửa, tử cung sinh sản ra hormone Prostaglandin làm cho tan rã thể vàng, Progesteron không sản sinh ra nữa. Tuyến yên lại được giải phóng và lại sinh sản ra FSH, bắt đầu một chu kỳ mới. Chu kỳ động dục của lợn nái thường từ 18 - 22 ngày, thời gian động dục kéo dài 5 - 7 ngày, nhưng thời gian chịu đực thường 2,5 ngày, phối giống trong thời gian này đạt hiệu quả cao nhất. Đối với lợn Landrace thời điểm phối thích hợp vào cuối ngày thứ 3 đầu ngày thứ 4 tính từ lợn ngày lợn bắt đầu động dục. Để phối giống mang lại hiệu quả cao nhất có 3 cách, tính từ khi nái đứng im chịu đực như sau: - Đối với lợn Yorkshire thời điểm phối giống thích hợp vào ngày thứ 2 và thứ 3 tính từ ngày lợn bắt đầu động dục. - Sau 12 giờ và 36 giờ. 12 - Sau 12 giờ, 36 giờ sau đó cứ 12 giờ cho phối giống 1 lần đến khi lợn nái không chịu thì thôi. - Đối với lợn Yorkshire thời điểm phối giống thích hợp vào ngày thứ 2 và thứ 3 tính từ ngày lợn bắt đầu động dục. - Đối với lợn hậu bị nên cho phối giống sớm hơn lợn nái từ 6 - 8 giờ. Kết quả đem lại từ 3 cách phối trên đều như nhau. Sau khi phối giống 21 ngày không có hiện tượng động dục trở lại là lợn đã có chửa. Có thể phân biệt lợn có chửa hay không qua một số biểu hiện bên ngoài. Lợn có chửa biểu hiện mệt nhọc, ngủ nhiều ăn tốt hơn, dáng đi ngày càng nặng nề. Lợn tuy đã có chửa nhưng có thể có hiện tượng “động dục giả”. Biểu hiện như sau: âm hộ đỏ, không có nước nhờn, thời gian động dục ngắn, nói chung biểu hiện không rõ ràng. Có thể phân biệt động dục giả và động dục thật ở lợn: lợn động dục giả vẫn ăn uống bình thường, ăn xong vẫn nằm ngủ, khi thấy đực qua chuồng tai rủ xuống và lảng tránh. Điều này trái với lợn động dục, khi thấy đực qua chuồng luôn ve vẩy và đến gần đực. Chẩn đoán phân biệt lợn nái có chửa có một ý nghĩa rất to lớn, chẩn đoán lợn nái có chửa chính xác giúp cho người chăn nuôi nâng cao được tỷ lệ sinh sản của lợn nái, định ra được các thời kỳ chửa của lợn nái, từ đó định ra được cách nuôi dưỡng chăm sóc phù hợp. Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày, dao động từ 112 - 116 ngày, cá biệt có những lợn nái ngoại mang thai tới 117 - 118 ngày, thời gian mang thai dài quá hoặc ngắn quá đều ảnh hưởng không tốt. Nếu thời gian mang thai ngắn con đẻ ra yếu. sức chống chịu với ngoại cảnh kém, khả năng sống sót thấp. Nếu thời gian mang thai dài đẻ ra nhiều con chết, lợn mẹ thường đẻ khó khăn. 2.1.2.3. Quá trình sinh trưởng và phát triển của bào thai Hiểu rõ vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác chăm sóc và nuôi dưỡng nái mẹ trong thời kỳ mang thai. Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ sảy thai, chết thai và số lượng cũng như khối lượng sơ sinh trên ổ và trên con. 13 Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày). Giai đoạn này được tính từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 22 sau khi thụ tinh. Sau khi thụ tinh được 20 giờ thì sự phân chia tế bào bắt đầu diễn ra. Phôi thai được hình thành sau thụ tinh là thời điểm cho quá trình phát triển của cơ thể mới. Từ một tế bào, phôi tăng cường trao đổi chất thành túi phôi. Tiếp theo tới phôi thực hiện quá trình phân cắt, phôi thai phát triển thành hợp tử. Trong giai đoạn này hợp tử sử dụng chất dinh dưỡng của tế bào trứng và tinh trùng. Sau khi thụ tinh được 5 - 6 ngày thì mầm thai và túi phôi được hình thành. Lúc đầu mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ tế bào trứng, chất tiết từ các tuyến nội mạc tử cung. Sau khi các màng thai được hình thành, mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ bằng con đường thẩm thấu qua các màng. Sau 7 - 8 ngày, màng ối được hình thành, màng ối chứa dịch lỏng vừa có tác dụng bảo vệ phôi vừa cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi. Màng niệu được hình thành sau 12 ngày, là nơi chứa chất cặn bã do thai thải ra trong quá trình trao đổi chất. Đáng chú ý trong 3 tuần đầu này là sự liên kết giữa cơ thể mẹ và thai chưa chắc chắn, phôi thai mới hình thành nên chưa đảm bảo được an toàn. Khối lượng phôi thai trong giai đoạn này rất nhỏ, ở cuối giai đoạn mỗi phôi chỉ nặng 1 - 2 gam. Vì vậy, kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc trong 3 tuần đầu là cực kỳ quan trọng. Mỗi tác động của ngoại cảnh không tốt đến nái mẹ (như: tiếng ồn, ô nhiễm, quá nóng, hay quá lạnh...) đều ảnh hưởng tới phôi thai, dễ dẫn đến sảy thai. Dinh dưỡng hay chất lượng thức ăn không tốt (như: ôi thiu, lên men, mốc...) cũng gây hậu quả tương tự. Cần có sự chăm sóc cẩn thận đối với nái chửa trong 3 tuần đầu sau thụ tinh. Giai đoạn tiền thai (23 - 39 ngày). Thời kỳ này nhau thai phát triển đầy đủ hơn, quá trình phát triển diễn ra mạnh mẽ để hoàn chỉnh các cơ quan mới. Ở cuối thời kỳ này, hầu hết các cơ quan đã cơ bản hình thành, khối lượng phôi tăng lên 6 - 7 gam. Giai đoạn bào thai (40 - 114 ngày). 14 Đây là giai đoạn sinh trưởng mạnh nhất của bào thai. Các cơ quan bộ phận được hoàn chỉnh dần. Quá trình trao đổi chất của thai diễn ra mãnh liệt. Đặc điểm của từng giống đã bắt đầu được thể hiện từ ngày thứ 80 trở đi thai phát triển rất mạnh. Cuối thời kỳ này, khối lượng bào thai tăng gấp 100 lần kỳ trước. Dựa vào nhu cầu dinh dưỡng ta chia thành hai thời kỳ. - Chửa kỳ I: 1 - 84 ngày. - Chửa kỳ II: 84 - 114 ngày. Nhưng trên thực tế để tiện theo dõi và chăm sóc, giai đoạn chửa kỳ II được phân ra làm hai giai đoạn nhỏ: - Giai đoạn 1: 84 - 100 ngày. - Giai đoạn 2: 100 - 114 ngày. Mỗi giai đoạn này đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc là khác nhau. Đặc biệt chú ý trong 2 tuần cuối (100 - 114 ngày) dinh dưỡng và chăm sóc phải thấy hợp lý. Đây là thời kỳ nái mẹ cần nhiều chất dinh dưỡng nhất cho sự phát triển của bào thai. Tuy nhiên thể tích bào thai lớn làm giảm lượng thức ăn thu nhận, vì vậy cần phải cho nái ăn nhiều bữa để đảm bảo chất dinh dưỡng. trong thời kỳ mang thai tính thèm ăn của nái bị giảm xuống, để khắc phục điều này cần chế biến và bảo quản thức ăn thật tốt, kích thích tính ngon miệng cho nái thu nhận thức ăn cao. Giai đoạn này lợn mẹ cần sự yên tĩnh, những tác động kích thích từ bên ngoài dễ dẫn đến hiện tượng đẻ non hay xáo trộn sinh lý lợn mẹ, gây khó khăn khi đẻ. Khi thai đã thành thục sẽ được cơ thể mẹ đẩy ra ngoài (trong khoảng 113 - 116 ngày), lợn thường đẻ vào ban đêm, thời gian đẻ trung bình từ 2 - 6 giờ. Nếu sức khỏe của lợn mẹ và các thai bình thường thì không cần can thiệp nhiều trong khi đẻ. Nhưng nếu có khó khăn trong quá trình lợn đẻ (sức khỏe nái mẹ kém, thai nằm sai ngôi, thai chết khô, chết lưu…) thì can thiệp ngay để đảm bảo cho cả nái mẹ và đàn con. 2.1.3. Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái. Để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thì có thể dùng nhiều chỉ tiêu sinh sản khác nhau. Tuỳ vào mục đích nghiên cứu, lĩnh vực mà có thể chọn nhiều hoặc ít các chỉ tiêu. Hiện nay thường dùng một số chỉ tiêu sau: có hai nhóm chỉ tiêu chính là nhóm chỉ tiêu về đặc điểm sinh lý sinh dục và chỉ tiêu về năng suất sinh sản.
- Xem thêm -