Tài liệu Khảo sát đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của diễn ngôn có mục đích kêu gọi (lời kêu gọi)

  • Số trang: 108 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 2087 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------------ VŨ THỊ OANH KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC - NGỮ NGHĨA CỦA DIỄN NGÔN CÓ MỤC ĐÍCH KÊU GỌI (LỜI KÊU GỌI) LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC Hà Nội - 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------------ VŨ THỊ OANH KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC - NGỮ NGHĨA CỦA DIỄN NGÔN CÓ MỤC ĐÍCH KÊU GỌI (LỜI KÊU GỌI) Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học Mã số: 60.22.01 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Việt Thanh Hà Nội - 2012 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài .................................................................................... 1 2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 2 3. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................. 3 4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 3 5. Cấu trúc của luận văn.............................................................................. 4 Chƣơng 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN ..................................................... 5 1.1. Khái niệm diễn ngôn ............................................................................ 5 1.2. Phân tích diễn ngôn.............................................................................. 8 1.3. Đặc tính của diễn ngôn và phân loại diễn ngôn .................................. 11 1.3.1.Đặc tính của diễn ngôn ................................................................. 11 1.3.2. Phân loại diễn ngôn ..................................................................... 12 1.4. Diễn ngôn chính luận ......................................................................... 16 1.4.1. Phong cách chính luận ................................................................. 16 1.4.2. Đặc điểm ngôn ngữ trong phong cách chính luận ........................ 16 1.4.3. Kết cấu của diễn ngôn chính luận ................................................ 18 1.5. Khái niệm diễn ngôn có mục đích kêu gọi - Lời kêu gọi .................... 19 1.6. Một số nét sơ lược về diễn ngôn Lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch ......... 22 Tiểu kết chương 1 ..................................................................................... 23 Chƣơng 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA DIỄN NGÔN LỜI KÊU GỌI ... 24 2.1. Cấu trúc tổng thể của các kiểu loại văn bản ....................................... 24 2.2. Một số đặc điểm về cấu trúc của văn bản thông thường ..................... 24 2.3. Cấu trúc tổng thể của diễn ngôn Lời kêu gọi ...................................... 28 2.4. Đặc điểm của các thành phần trong cấu trúc diễn ngôn Lời kêu gọi ... 30 2.4.1.Đặc điểm cấu trúc phần tiêu đề ..................................................... 30 2.4.2. Đặc điểm cấu trúc phần hô gọi .................................................... 34 2.4.3. Đặc điểm cấu trúc phần kết ......................................................... 45 2.5. Một số kiểu loại cấu trúc của diễn ngôn Lời kêu gọi .......................... 49 2.5.1. Nhóm cấu trúc đơn ...................................................................... 50 2.5.2. Nhóm cấu trúc thiếu .................................................................... 54 2.5.3. Nhóm cấu trúc kép ...................................................................... 58 Tiểu kết Chương 2………………………………………………………...64 Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG DIỄN NGÔN LỜI KÊU GỌI ........................................................................................... 67 3.1. Đặc điểm cấu trúc ngữ pháp ............................................................... 67 3.1.1. Sử dụng câu mệnh lệnh, yêu cầu, đề nghị .................................... 67 3.1.2. Sử dụng cấu trúc song hành, cấu trúc đối .................................... 73 3.1.3. Sử dụng cấu trúc Hỏi - Đáp ......................................................... 76 3.2. Mạch lạc trong diễn ngôn Lời kêu gọi................................................ 78 3.3. Lập luận trong diễn ngôn Lời kêu gọi ................................................ 81 3.3.1. Lập luận và các bộ phận của lập luận .......................................... 81 3.3.2. Các kiểu lập luận ......................................................................... 82 3.3.3. Diễn dịch và quy nạp trong quan hệ lập luận ............................... 86 3.4. Liên kết trong diễn ngôn Lời kêu gọi ................................................. 88 3.4.1. Đặc điểm về liên kết .................................................................... 88 3.4.2. Từ nối với tư cách là phương tiện của phép nối ........................... 89 3.5. Đặc điểm về sử dụng từ ngữ .............................................................. 90 3.5.1. Sử dụng thành ngữ, tục ngữ ......................................................... 90 3.5.2. Sử dụng từ xưng hô, các giới ngữ chỉ quan hệ sở thuộc ............... 94 Tiểu kết Chương 3 .................................................................................... 96 KẾT LUẬN…………………………………………………………………98 TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 100 DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1.1. Lược đồ các yếu tố trong quá trình giao tiếp của R.Jakobson........ 20 Hình 2.1. Cấu trúc của văn bản thông thường ............................................... 27 Hình 2.2. Khung cấu trúc của diễn ngôn Lời kêu gọi.................................... 29 Hình 2.3. Bảng so sánh cấu trúc văn bản thông thường với Lời kêu gọi ....... 29 Hình 2.4. Tỷ lệ các dạng của Tiêu đề ........................................................... 30 Hình 2.5. Bảng các ví dụ về các kiểu dạng Tiêu đề cụ thể ............................ 32 Hình 2.6. Mức độ xuất hiện của câu hô gọi trong phần Hô gọi ..................... 35 Hình 2.7. Cấu trúc tổng quát và ví dụ phần Hô gọi ....................................... 37 Hình 2.8. Biểu đồ sử dụng từ hô gọi trong câu hô gọi................................... 39 Hình 2.9. Khung cấu trúc và các dạng Kết có mục đích khẳng định ............. 46 Hình 2.10. Khung cấu trúc và các dạng Kết có tính chất tung hô .................. 47 Hình 2.11. Sơ đồ cầu trúc thiếu .................................................................... 58 Hình 3.1. Tỷ lệ sử dụng cấu trúc Hỏi - Đáp .................................................. 78 Hình 3.2. Biểu hiện sự mạch lạc trong diễn ngôn ......................................... 81 Hình 3.3. Tỷ lệ sử dụng thành ngữ phân theo nguồn gốc .............................. 92 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Phân tích diễn ngôn là một lĩnh vực còn khá mới mẻ trong nghiên cứu ngôn ngữ học. Những vấn đề cơ bản của nó đã và đang được các nhà khoa học trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu. Bên cạnh những nghiên cứu mang tính chất lý luận nhằm tìm ra những đặc điểm, phạm trù, thông số của diễn ngôn so với một loại đơn vị mà cho tới nay vẫn còn không ít ý kiến cho rằng chúng đồng nhất, đó là văn bản, hoặc triển khai nghiên cứu phân tích diễn ngôn ở các giai đoạn phát triển của nó, từ phân tích diễn ngôn đến phân tích diễn ngôn phê bình, phân tích diễn ngôn hội thoại…, việc áp dụng các lý thuyết của phân tích diễn ngôn vào phân tích các kiểu dạng diễn ngôn/văn bản cụ thể cũng thu hút sự quan tâm của không ít nhà nghiên cứu. Ở Việt Nam, có thể kể tới công trình nghiên cứu diễn ngôn Bản tin (tiếng Anh) của Nguyễn Hòa, diễn ngôn Phóng sự của Nguyễn Thị Thanh Hương… Ngoài ra còn rất nhiều tác giả chọn một kiểu loại diễn ngôn cụ thể như diễn ngôn/văn bản quy phạm pháp luật, diễn ngôn/văn bản hành chính, diễn ngôn/văn bản xã luận… làm đối tượng nghiên cứu của các luận văn cao học. Tuy vậy, có thể nói cho tới nay, diễn ngôn có mục đích kêu gọi (gọi tắt là Lời kêu gọi) vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, ngoài một vài bài viết tiếp cận đối tượng này chưa thực sự toàn diện. Diễn ngôn có mục đích kêu gọi là một dạng diễn ngôn rất điển hình thuộc loại văn phong chính luận. Theo Diệp Quang Ban, nó thuộc dạng văn bản có chức năng “điều khiển”, khi người tạo văn bản nêu lên mong muốn, yêu cầu, đề nghị, mệnh lệnh để người nhận văn bản thực hiện một việc gì đó trong tương lai. Bên cạnh những đặc thù riêng về cấu trúc, điều kiện ra đời, vị thế của người tạo văn bản, mối quan hệ giữa người tạo văn bản với người tiếp nhận, vai trò của chức năng liên nhân… là hàng loạt vấn đề cần phải có sự nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện. Xuất phát từ nhu cầu này, chúng tôi 1 đã chọn đề tài “Khảo sát đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của diễn ngôn có mục đích kêu gọi (Lời kêu gọi)” với mong muốn góp thêm tiếng nói vào nghiên cứu diễn ngôn/văn bản chính luận nói chung thông qua nghiên cứu một kiểu loại diễn ngôn cụ thể dưới góc độ phân tích diễn ngôn. Bên cạnh đó, thông qua khảo sát, phân tích, chúng tôi cũng mong muốn làm rõ đặc điểm về cấu trúc, ngữ nghĩa của diễn ngôn Lời kêu gọi của một số tác giả trong giai đoạn từ năm 1945 trở lại đây, trong đó, một trong những tác giả tiêu biểu là Hồ Chủ Tịch. 2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu Mục đích của luận văn là áp dụng phương pháp phân tích diễn ngôn nhằm nghiên cứu những đặc điểm nổi bật, mang tính đặc trưng của các diễn ngôn Lời kêu gọi: từ những đặc điểm về cấu trúc tổng thể, đặc trưng ngữ nghĩa đến những đặc điểm sử dụng ngôn ngữ mang tính đặc thù nhằm thể hiện các chức năng thông tin (liên giao) và chức năng liên nhân của kiểu loại văn bản này. Với mục đích này, chúng tôi đã tiến hành thu thập và khảo sát 67 diễn ngôn Lời kêu gọi, trong đó tập trung nghiên cứu 54 diễn ngôn Lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch được tập hợp chủ yếu trong tác phẩm “Hồ Chí Minh toàn tập” từ tập 4 đến tập 7 (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản lần thứ 3, năm 2000) và một số văn bản của các tác giả và tổ chức khác như Lời kêu gọi của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chấp hành Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam.... Thực tế, vẫn còn có một số văn bản có mục đích kêu gọi như Hịch hoặc Chiếu của các tác giả trước đây. Tuy vậy, luận văn này chỉ hạn chế phạm vi nghiên cứu các Lời kêu gọi từ năm 1945 trở lại đây. 2 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Trên cơ sở tiếp thu những nghiên cứu của một số tác giả đi trước, luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu cho việc vận dụng lý thuyết về phân tích diễn ngôn để khảo sát các Lời kêu gọi nhằm phát hiện và làm rõ: - Đặc điểm cấu trúc tổng thể và đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa các thành phần cấu thành nên diễn ngôn Lời kêu gọi; - Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của các diễn ngôn Lời kêu gọi, trong đó chú ý đến việc sử dụng các yếu tố thực hiện chức năng liên nhân; - Phân tích và so sánh để thấy được nét đặc trưng, sự khác biệt về mặt cấu trúc - ngữ nghĩa, đặc điểm trong sử dụng ngôn từ của các diễn ngôn Lời kêu gọi của các tác giả, chủ yếu là của Hồ Chủ Tịch so với các tác giả khác qua các thời kỳ, qua đó góp phần làm rõ đặc điểm ngôn ngữ của Hồ Chủ Tịch. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn tập trung sử dụng các phương pháp, thủ pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp miêu tả: Căn cứ vào nguồn tư liệu sưu tầm được, luận văn đi theo chiều hướng miêu tả cấu trúc - ngữ nghĩa chung của các diễn ngôn được lựa chọn khảo sát. Từ đó, đi vào miêu tả chi tiết đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa của từng thành phần; đặc điểm sử dụng ngôn ngữ, đặc điểm về tính mạch lạc, liên kết, sử dụng lập luận… của diễn ngôn Lời kêu gọi. - Phương pháp phân tích diễn ngôn; - Thủ pháp phân tích - tổng hợp: Luận văn trước hết đưa một hệ thống những luận điểm về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, coi đó là cơ sở lý thuyết để vận dụng trong việc khảo sát đặc trưng cấu trúc ngữ nghĩa của diễn ngôn Lời kêu gọi. - Thủ pháp thống kê: Tiếp sau bước miêu tả, luận văn sẽ thống kê để đưa ra bộ số liệu khách quan về tần suất sử dụng các khuôn cấu trúc, các loại và các dạng thể hiện. 3 Ngoài ta, luận văn còn vận dụng kết hợp một số thủ pháp nghiên cứu khác như: phân tích hội thoại, phân tích dụng học, so sánh đối chiếu, các lược đồ, sơ đồ và bảng biểu có tính chất hỗ trợ. 5. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương sau: Chƣơng 1. Một số cở sở lí luận 1.1. Khái niệm diễn ngôn 1.2. Phân tích diễn ngôn 1.3. Đặc tính của diễn ngôn và phân loại diễn ngôn 1.4. Diễn ngôn chính luận 1.5. Khái niệm diễn ngôn có mục đích kêu gọi - Lời kêu gọi 1.6. Một vài nét sơ lược về diễn ngôn Lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch Tiểu kết Chương 1 Chƣơng 2. Đặc điểm cấu trúc của diễn ngôn Lời kêu gọi 2.1. Cấu trúc tổng thể của các kiểu loại văn bản 2.2. Một số đặc điểm về cấu trúc của văn bản thông thường 2.3. Cấu trúc tổng thể của diễn ngôn Lời kêu gọi 2.4. Đặc điểm cấu trúc các thành phần trong cấu trúc diễn ngôn Lời kêu gọi 2.5. Một số kiểu loại cấu trúc của diễn ngôn Lời kêu gọi Tiểu kết Chương 2 Chƣơng 3. Đặc điểm ngôn ngữ của diễn ngôn Lời kêu gọi 3.1. Đặc điểm cấu trúc ngữ pháp 3.2. Mạch lạc trong diễn ngôn Lời kêu gọi 3.3. Lập luận trong diễn ngôn Lời kêu gọi 3.4. Liên kết trong diễn ngôn Lời kêu gọi 3.5. Sử dụng từ ngữ Tiểu kết Chương 3 4 Chƣơng 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Khái niệm diễn ngôn Cho đến nay có khá nhiều quan niệm khác nhau về diễn ngôn, song vẫn chưa thực sự có một định nghĩa hoàn chỉnh nhất. Có thể nói, người đầu tiên đề xướng khái niệm diễn ngôn là Z.Harris (1952) với bài báo có tên gọi “Phân tích diễn ngôn”. Tại đây, ông đã đưa ra khái niệm diễn ngôn với cách hiểu là văn bản liên kết, ở bậc cao hơn câu. Mặc dù quan niệm này vẫn còn được nhiều người tranh luận, trong đó không ít ý kiến chưa thật thống nhất, song với khái niệm này, Harris đã góp phần quan trọng trong việc chuyển đổi đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học văn bản từ câu sang diễn ngôn, hướng nghiên cứu vào chức năng của ngôn ngữ. “Diễn ngôn” và “văn bản” là hai khái niệm không thể bỏ qua trong nghiên cứu ngôn ngữ học văn bản nói chung và trong phân tích diễn ngôn nói riêng. Tuy nhiên, trên thực tế, để phân định rạch ròi hai khái niệm này thật không đơn giản. Chúng được coi là hai khái niệm có cấu trúc xác định tách biệt hoàn toàn, thuộc hai quá trình. Có khi, khái niệm này là sự biểu hiện cụ thể, là bộ phận của khái niệm kia, cũng có khi chúng lại dùng thay thế cho nhau như hai khái niệm đồng nghĩa hoàn toàn. Hai tác giả Brown và Yule quan niệm rằng “văn bản như là một thuật ngữ khoa học để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vi giao tiếp” hay “văn bản là sự biểu hiện của diễn ngôn” [5, tr.22]. Còn khi xử lý diễn ngôn như là “sản phẩm” hay “tiến trình”, thì tác giả khảng định “diễn ngôn như là một tiến trình”. Theo G. Cook, “diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích” (dẫn theo [1, tr.17]). Còn D. Crystal lại định nghĩa “diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ 5 (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo có tính tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể” (dẫn theo [1, tr.17]). Trong khi đó, David Nunan cho rằng diễn ngôn như là một chuỗi ngôn ngữ gồm một số câu, những câu này được nhận biết là có liên quan theo một cách nào đó. Nói cách khác, diễn ngôn chỉ việc giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh và phân tích diễn ngôn là nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng. Trong khi đó, thuật ngữ văn bản được dùng để chỉ bất kỳ cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp, sự kiện đó tự nó có thể liên quan đến ngôn ngữ nói (một cuộc hội thoại, một bài thuyết giáo) hoặc ngôn ngữ viết (một bài thơ, một mẩu truyện) (dẫn theo [1, tr.18]). Như vậy, có thể nói rằng, các tác giả nước ngoài không đồng nhất khái niệm diễn ngôn và văn bản nhưng cũng không có sự phận định rành mạch ranh giới giữa diễn ngôn và văn bản. Văn bản trở thành sản phẩm của diễn ngôn và trong nhiều trường hợp có thể thay thế được cho nhau. Xét về tên gọi thuật ngữ, trong trong tiếng Anh, văn bản được gọi là text; còn diễn ngôn gọi là discourse. Ở Việt Nam, về vấn đề này cũng có nhiều quan điểm, cách nhìn nhận khác nhau hoặc có khi là sự thay đổi về quan điểm của cùng một tác giả trong những giai đoạn khác nhau. Tiêu biểu là Diệp Quang Ban. Ông đã nhận định mối quan hệ giữa diễn ngôn và văn bản như sau: (1) Văn bản được dùng để chỉ chung cho các sản phẩm của ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói có mạch lạc và liên kết; (2) Có sự đối lập giữa các diễn ngôn và văn bản: sử dụng văn bản để chỉ sản phẩm ngôn ngữ viết và diễn ngôn chỉ ngôn ngữ nói; (3) Diễn ngôn được dùng như văn bản có ý nghĩa. Vơi Nguyễn Thiện Giáp trong công trình “Dụng học Việt ngữ” quan niệm: Thuật ngữ diễn ngôn (discourse) và văn bản (text) thường được coi là đồng nghĩa với nhau để chỉ các sản phẩm ngôn ngữ, viết hay nói, dài hay 6 ngắn, tạo ra một tổng thể hợp nhất, trong đó diễn ngôn được hiểu là bao hàm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn [16, tr.169]. Có thể thấy, tác giả một mặt đồng nhất hai khái niệm trên, mặt khác ngay sau đó lại tỏ ra lúng túng khi nhấn mạnh đến sự phân biết tương đối giữa chúng. Một trong số tác giả khác ở Việt Nam cũng dành nhiều sự quan tâm cho vấn đề này là tác giả Nguyễn Hòa. Quan niệm của Nguyễn Hòa được khái quát lại trong công trình “Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề về lý luận và phương pháp”. Trong công trình nghiên cứu đó, tác giả chỉ ra sự phân biệt giữa diễn ngôn và văn bản. Theo tác giả, văn bản như là sản phẩm ngôn ngữ ghi lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể, trong khi đó diễn ngôn như là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể. Mặc dù đã đưa ra sự phân biệt hai khái niệm như trên, song tác giả cũng thừa nhận rằng trong thực tế sự phân biệt này cũng chỉ mang tính tương đối vì theo cách hiểu đó, trong văn bản sẽ xuất hiện một vài đặc trưng của diễn ngôn và ngược lại trong diễn ngôn cũng nhiều khi tồn tại các thuộc tính của văn bản. Theo ông, thực chất đây không phải là hai thực thể độc lập, hoàn toàn tách biệt nhau mà chỉ là một thực thể biểu hiện của ngôn ngữ hành chức trong bối cảnh giao tiếp cụ thể. Nói cách khác, tùy theo quan điểm của người nghiên cứu mà ngôn ngữ sẽ được coi là văn bản khi được xem xét từ góc độ hình thức và được coi là diễn ngôn khi xem xét ở góc độ hành chức. Từ cách điểm lại quan niệm của các tác giả trong và người nước về diễn ngôn và văn bản, về mối quan hệ giữa chúng, có thể nói rằng tùy theo mỗi quan điểm, mỗi cách tiếp cận và cách lý giải đều có những nhân tố hợp lý của các tác giả. Ở đây, chúng tôi không đi sâu vào trình bày quá trình phát triển theo thời gian về khái niệm diễn ngôn cũng như đi vào phân tích những góc độ 7 nghiên cứu những khái niệm này, mà chúng tôi chỉ muốn trình bày một số khái niệm trên để có một cái nhìn tóm lược những quan điểm về diễn ngôn của các tác giả. Tuy nhiên theo chúng tôi, quan điểm cho rằng diễn ngôn và văn bản là hai khái niệm đồng nhất là phù hợp với hướng nghiên cứu của chúng tôi về các diễn ngôn Lời kêu gọi. Vì vậy, trong luận văn, chúng tôi chấp nhận quan điểm này và lấy quan điểm này làm căn cứ để tiến hành phân tích các diễn ngôn Lời kêu gọi. Điều này không có nghĩa là chúng tôi phủ nhận các quan điểm khác, vì ngay trong bản thân mỗi tác giả trong các luận điểm của mình đều có sự dung hòa tương đối với các quan điểm khác. 1.2. Phân tích diễn ngôn Khái niệm diễn ngôn gắn liền với một khái niệm khác hết sức quan trọng, đó là phân tích diễn ngôn. Đến nay vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất về bản thân thuật ngữ phân tích diễn ngôn bởi nhu cầu cần phân biệt thuật ngữ này với một thuật ngữ rất gần và cũng dễ bị lẫn lộn khác là phân tích văn bản. Trước tiên, với việc xác định diễn ngôn như một tiến trình, Brown và Yule đã khẳng định quan điểm nhà phân tích diễn ngôn cần quan tâm đến chức năng hay mục đích của một mẩu dữ liệu ngôn ngữ và cách thức dữ liệu được người phát cũng như người nhận xử lý. Biện luận sâu hơn, hai tác giả cho rằng, nhà phân tích sẽ phải nghiên cứu từng từ, từng câu xuất hiện trong dữ liệu thành văn của diễn ngôn để tìm cho được bằng chứng về sự nỗ lực của người phát (người nói/người viết) trong việc chuyển giao thông điệp đến người nhận (người nghe/người đọc). Đồng thời cũng cần tìm hiểu bằng cơ chế nào, lý do tại sao mà người nhận có thể hiểu được chính xác thông điệp chuyển giao tới trong một ngữ cảnh cụ thể; đồng thời các yêu cầu trở lại của người nhận trong một ngữ cảnh cụ thể bằng cách nào có thể chuyển giao lại người phát, để từ đó ảnh hưởng đến kết cấu của diễn ngôn tiếp theo của người phát. Như vậy, có thể thấy rõ ràng là phương hướng nghiên cứu này chủ 8 trương lấy chức năng giao tiếp của ngôn ngữ là đối tượng nghiên cứu chính. Vì thế nó mô tả các hình thức ngôn ngữ không ở dạng tĩnh mà như các phương tiện động nhằm thể hiện ý nghĩa [dẫn theo 5, tr.48]. Một các giả khác - David Nunan với việc xác định hai khái niệm diễn ngôn và văn bản như đã trình bày ở trên, cũng đồng thời xác nhận phân tích diễn ngôn liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng (ngôn ngữ hành chức), khác với phân tích văn bản là thiên về nghiên cứu các thuộc tính cấu trúc của ngôn ngữ, bị tách khỏi các chức năng giao tiếp của chúng. Tác giả cũng biện luận thêm rằng, cũng giống như các nhà ngữ âm học và ngữ pháp học thì nhà phân tích diễn ngôn cũng cần quan tâm đến việc nhận diện những cái đều đặn và những khuôn mẫu của ngôn ngữ. Không chỉ vậy, nhà phân tích diễn ngôn còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng hơn cả là đạt đến mục đích cuối cùng của công việc phân tích: vừa chỉ ra, vừa giải thuyết mối quan hệ giữa những cái đều đặn đó với những ý nghĩa và những mục đích được diễn đạt qua diễn ngôn. Như vậy, ở đây, tác giả đã căn cứ vào đối tượng của nhà phân tích là ngôn ngữ xét về mặt cấu trúc hình thức thuần túy (phân tích văn bản) và ngôn ngữ trong quá trình sử dụng (phân tích diễn ngôn) để phân biệt hai khái niệm trên. Với tác giả Đỗ Hữu Châu, một người nghiên cứu khá nhiều về dụng hoặc cũng quan tâm đến mối quan hệ văn bản - diễn ngôn thì cho rằng: Diễn ngôn là lời của từng người nói ra trong một cuộc giao tiếp. Tùy theo đường kênh, hay tùy theo dạng ngôn ngữ được sử dụng mà chúng ta có diễn ngôn nói hay diễn ngôn viết. Chúng tôi sẽ gọi diễn ngôn viết là các văn bản. Tác giả cho rằng, diễn ngôn có cả hình thức và nội dung nhưng cả hai đều chịu tác động của ngữ cảnh. Do đó, phân tích diễn ngôn là phân tích cả các yếu tố hình thức của diễn ngôn, bao gồm các yếu tố ngôn ngữ, các đơn vị từ vựng, các quy tắc kết học, các hành vi ngôn ngữ tạo nên diễn ngôn. Các yếu tố kèm lời và phi lời theo tác giả cũng được xem là các yếu tố thuộc 9 hình thức của phát ngôn. Về nội dung, tác giả cho rằng diễn ngôn bao gồm cả nội dung thông tin và nội dung miêu tả. Hai thành tố nội dung này có thể hiện diện tường minh qua các yếu tố ngôn ngữ hình thức của diễn ngôn, hoặc tồn tại khiếm diện trong đích giao tiếp của đối phương. Như vậy, phân tích diễn ngôn một cách đầy đủ, toàn diện cần xem xét đến cả hai mặt hình thức và nội dung của diễn ngôn. Trong “Dụng học Việt ngữ”, Nguyễn Thiện Giáp cũng đã đưa ra quan niệm về phân tích diễn ngôn. Tác giả cho rằng, phân tích diễn ngôn có nhiệm vụ phân tích bằng một bộ phức hợp khái niệm và thuật ngữ ngữ pháp quen thuộc. Tác giả cho rằng người nói và người viết được coi như đã sử dụng ngôn ngữ chẳng những trong chức năng liên nhân (interpersonal function) tức là tham gia vào tương tác xã hội mà còn trong chức năng văn bản (textual funtion) tức là tạo ra một văn bản chuẩn tắc và thích hợp cả trong chức năng biểu ý (ideational function) - tức là thể hiện tư duy và kinh nghiệm một cách mạch lạc. Nghiên cứu lĩnh vực rộng rãi ấy của hình thức và chức năng của câu được nói và viết được gọi là phân tích diễn ngôn (discourse analysis) [16, tr. 186]. Bên cạnh đó, trên cơ sở phân tích quan điểm của David Nunan, Nguyễn Hòa lại cho rằng, mối quan hệ giữa phân tích diễn ngôn và phân tích văn bản cũng có sự tương đồng như mối quan hệ diễn ngôn và văn bản. Bởi theo ông, không nên nhìn nhận đây là hai bộ môn tách biệt mà thực chất chỉ nên xem xét đó là hai mặt của quá trình phân tích ngôn ngữ hành chức trong hoàn cảnh giao tiếp của xã hội. Với việc xác định như vậy, tác giả chủ trương quy các yếu tố như liên kết, cấu trúc đề thuyết, cấu trúc thông tin, cấu trúc diễn ngôn… thuộc địa hạt phân tích văn bản, đồng thời những yếu tố như mạch lạc, các hành động ngôn từ, vận dụng tri thức nền, cách thức xử lý từ trên xuống hay từ dưới lên… sẽ thuộc địa hạt phân tích diễn ngôn [20, tr.35]. 10 1.3. Đặc tính của diễn ngôn và phân loại diễn ngôn 1.3.1.Đặc tính của diễn ngôn Đặc tính cơ bản của diễn ngôn là tính mạch lạc, tính giao tiếp, ký hiệu và tính quan yếu. a. Tính mạch lạc Mạch lạc được tác giả Nguyễn Thiện Giáp coi là cái quyết định để một tác phẩm ngôn ngữ trở thành một diễn ngôn. Như vậy, cơ sở của mạch lạc là những cái gì quen thuộc, kiến thức văn hoá chung, kiến thức nền. Có thể hiểu một cách ngắn gọn rằng mạch lạc là mạch nối diễn ngôn, cho phép hiểu diễn ngôn trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội. Mạch lạc không phải là các phương tiện liên kết hình thức của văn bản mà nó là một phần nội dung thực của văn bản. Nó được thể hiện qua những phương tiện ngôn ngữ và phương tiện ngoài ngôn ngữ (hình thức tổ chức văn bản, quan hệ nghĩa - lôgic giữa các từ ngữ trong văn bản, quan hệ giữa từ ngữ trong văn bản với cái được nói tới trong tình huống từ bên ngoài văn bản...). Mạch lạc còn thể hiện trong cấu trúc hay cách thức tổ chức các yếu tố quan yếu của diễn ngôn theo một cách thức hay trình tự nhất định, nhằm thể hiện những ý tứ tạo thành mục đích nói. Như vậy, có thể thấy tính cấu trúc của diễn ngôn mang tính chủ quan của người viết. b. Tính giao tiếp và tính ký hiệu Xuất phát từ quan điểm cho rằng ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu được dùng làm công cụ giao tiếp, mà diễn ngôn trước hết là sự kiện giao tiếp, cho nên tính giao tiếp và tính ký hiệu là những đặc tính không thể thiếu của diễn ngôn. Tuy nhiên, diễn ngôn là một đơn vị ngôn ngữ chứa hành động ngôn từ. Chính vì thế, tính giao tiếp và tính ký hiệu của diễn ngôn còn có thêm phần ý nghĩa lời nói (ngữ nghĩa) và ý nghĩa dụng ngôn (ngữ dụng). Ý nghĩa lời nói được hiểu là nội dung biểu hiện hay nội dung mệnh đề. Nó được thể hiện qua các tham thể và mối quan hệ giữa các tham thể. Nội dung 11 mệnh đề thay đổi khi có sự thay đổi của một trong những yếu tố này. Xét về mặt nội dung biểu hiện, ý nghĩa của diễn ngôn bao gồm ý nghĩa của ký hiệu từ ngữ trong ngữ cảnh văn hoá và ngữ cảnh tình huống trong việc tạo và hiểu lời. Tính giao tiếp và tính ký hiệu của diễn ngôn còn thể hiện ở sự tham gia vào hai quan hệ chủ yếu trong ngôn ngữ học. Đó là quan hệ hệ hình và quan hệ cú đoạn. Mối quan hệ này được phản ánh qua khả năng kết hợp và lựa chọn diễn ngôn tuỳ theo tình huống giao tiếp, chủ đề giao tiếp cũng như việc cấu tạo thành những đơn vị diễn ngôn lớn hơn. c. Tính quan yếu Xét về hình thức, diễn ngôn là một cấu trúc các yếu tố quan yếu tạo nên tính mạch lạc. Theo Nguyễn Hoà, các yếu tố quan yếu là các đóng góp thể hiện tính giao tiếp của diễn ngôn. Các yếu tố quan yếu có chức năng biểu hiện một sự thể bao gồm các tham thể, quá trình, mối quan hệ giữa các tham thể cũng như ý nghĩa dụng học kèm theo. Các yếu tố quan yếu tham gia vào diễn ngôn với hình thức là những đơn vị từ ngữ. Những đơn vị từ ngữ lại bị quy định bởi hoàn cảnh giao tiếp xã hội, mục đích phát ngôn và thể loại diễn ngôn. Với tư cách là một quá trình giao tiếp tương tác, nội dung của diễn ngôn được tổng hợp từ nhiều phương diện, trong đó mạch lạc là yếu tố quan trọng nhất. Mạch lạc là sự hiện thực hoá của liên kết, cấu trúc, sự dung hợp giữa các hành động nói và tính quan yếu. Bên cạnh đó, tính quan yếu của diễn ngôn cũng chịu sự quy định của yếu tố văn hoá và những thông tin ngữ cảnh. 1.3.2. Phân loại diễn ngôn Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh trong những hoàn cảnh xã hội cụ thể. Như vậy, trong mỗi hoàn cảnh, chúng ta lại có một kiểu loại diễn ngôn. Điều này cho thấy, việc phân loại diễn ngôn không phải là việc làm dễ dàng, có tính thuyết phục. 12 Có nhiều quan điểm khác nhau về phân loại diễn ngôn. Nếu dựa vào phương thức biểu đạt, có thể phân chia thành diễn ngôn nói và diễn ngôn viết. Sự phân biệt này đã được nêu lên từ lâu và có tầm quan trọng nhất định đối với quan điểm sư phạm như việc dạy đọc, dạy viết, dạy nói. Một hướng phân loại khái quát khác là phân biệt diễn ngôn đối thoại với diễn ngôn đơn thoại. Cách phân loại này liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong sinh hoạt hằng ngày và ngôn ngữ trong văn học. Tuy nhiên, theo tác giả Hausenblas (dẫn theo [1, tr.75]) thì muốn có sự phân loại có hệ thống và thoả đáng thì phải cần đến sự hợp tác của cả hai bộ phận cùng quan tâm đến việc miêu tả ngôn ngữ. Đó là ngữ pháp và phong cách học. Từ đó, tác giả đưa ra các cách phân loại diễn ngôn như sau: a.Phân loại diễn ngôn theo cấu trúc * Phân loại theo cấu trúc nội tại: Dựa vào những tiêu chuẩn: tính đơn giản/tính phức tạp trong cấu trúc văn bản của diễn ngôn, tính độc lập/ tính lệ thuộc của các diễn ngôn, tính liên tục/tính gián đoạn của các diễn ngôn, có các loại diễn ngôn sau: - Diễn ngôn có độ phức tạp khác nhau trong cấu trúc; - Diễn ngôn tự do và diễn ngôn lệ thuộc; - Diễn ngôn liên tục và diễn ngôn gián đoạn. Cách phân loại này đến nay vẫn còn giá trị thực tiễn đối với việc dạy học ở nhà trường. Bởi cách phân loại này gợi ý về một số hướng dạy và rèn luyện học sinh tạo lập diễn ngôn, sự phân bố các bộ phận trong diễn ngôn, dạy học sinh cách đọc… * Phân loại khuôn hình văn bản: Do tính chất quá phức tạp của diễn ngôn và tính quá đa dạng của các diễn ngôn cụ thể, cho nên để khái quát được, chỉ có thể chia tất cả các diễn ngôn thành hai nhóm lớn: 13 - Thuộc nhóm thứ nhất là các diễn ngôn xây dựng theo những khuôn hình cứng nhắc, đã được định sẵn: các văn bản thuộc phong cách hành chính công vụ và một số văn bản pháp lý thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật. - Thuộc nhóm thứ hai là các diễn ngôn xây dựng theo những khuôn hình mềm dẻo, bao gồm: + Nhóm có khuôn hình thông dụng: các văn bản khoa học (bài báo, luận án khoa học) và một số văn bản báo chí. + Nhóm có khuôn hình tự do: các tác phẩm văn chương... b. Phân loại diễn ngôn theo phong cách học Một lĩnh vực chú ý nhiều đến sự khác biệt trong các kiểu loại diễn ngôn khác nhau là phong cách học, nhất là phong cách chức năng. Ngay từ năm 1984, tác giả Morohovski (dẫn theo [1, tr.86]) đã đưa ra bảng phân loại diễn ngôn với các tiêu chí riêng. Trước hết, tác giả phân định phong cách học thành ba bậc lớn xét theo mức độ từ trừu tượng đến cụ thể là: Phong cách học ngôn ngữ; Phong cách học hoạt động lời nói (tức là có quan hệ với các lĩnh vực hoạt động của ngôn ngữ trong đời sống xã hội); Phong cách học lời nói (tức là có quan hệ với các loại hình văn bản và các thể loại văn bản bên trong mỗi loại hình nếu có); Từ đó, tác giả đưa ra các loại hình diễn ngôn tương ứng: - Ở bậc phong cách học ngôn ngữ có 2 kiểu lớn: + Ngôn ngữ phi nghệ thuật; + Ngôn ngữ nghệ thuật. Cả ngôn ngữ phi nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật đều có thể được diễn đạt dưới dạng nói và dạng viết tức là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. - Ở bậc phong cách học hoạt động lời nói: hoạt động lời nói được xem xét trong các khu vực ít nhiều có tính chất chuyên môn trong đời sống xã hội và nhờ đó đưa ra 5 phong cách chức năng: 14 + Chính thức - công vụ; + Khoa học; + Công luận; + Hội thoại văn học; + Hội thoại đời thường; - Ở bậc phong các học lời nói: liên quan trực tiếp đến các văn bản cụ thể, có sự phân định các lớp văn bản từ chung đến riêng theo trình tự sau: + Phong cách chính thức công vụ có các kiểu loại văn bản: chỉ đạo, pháp lý, quân sự, ngoại giao, thương mại, kinh tế. + Phong cách khoa học: khoa học xã hội, khoa học kĩ thuật. + Phong cách công luận: chính trị, kinh tế, luật, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo. Theo Nguyễn Hữu Đạt [12, tr.74], tiếng Việt có 6 phong cách chức năng khác nhau, đó là: - Phong cách sinh hoạt hằng ngày; - Phong cách hành chính công vụ; - Phong cách khoa học; - Phong cách chính luận; - Phong cách báo chí và phong cách văn học nghệ thuật. Mỗi loại phong cách có các thể loại diễn ngôn khác nhau. Tuy nhiên, cách phân loại dựa vào trường diễn ngôn, tính chất diễn ngôn và cách thức diễn ngôn được quan tâm hơn cả vì tính hợp lý của nó. Hay nói cách khác là dựa vào chủ đề được đề cập, nội dung mệnh đề, mối quan hệ giữa các cá nhân tham gia (bao gồm cả ý nghĩa dụng học) và phương tiện thể hiện ngôn ngữ (nói hoặc viết), người ta phân chia thành các ngữ vực, tiếp đó trong các ngữ vực, có những thể loại diễn ngôn cụ thể. Chẳng hạn, trong ngữ vực báo chí, có các thể loại diễn ngôn như: tin, bình luận, tin vắn, phóng sự, ký... Trong ngữ vực văn chương, có các thể loại 15
- Xem thêm -