Tài liệu Khai thác và sử dụng nguồn nước tổng hợp có hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội vùng núi tỉnh viêng chăn

  • Số trang: 93 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 51 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

1 MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Viêng Chăn là một tình thuộc miền Trung nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, với tổng diện tích tự nhiên 15,927 km2 , trong đó 11,82 km2 là vùng P P P P núi chiếm khoảng 68 %. Vùng núi Viêng Chăn bao gồm nhiều dân tộc sinh sống, trình độ dân trí còn rất thấp, cơ sở hạ tầng rất nghèo nàn. Đặc biệt là tình trạng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt rất phổ biến, hiện đang là một thách thức lớn đối với ngành nông nghiệp của tỉnh nói chung và các công tác thủy lợi nói riêng. Đảng và nhà nước đã rất chú trọng tới việc đầu tư, thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi, trong đó chủ yếu là các vùng sâu vùng xa đặc biệt khó khăn. Các dự án có nguồn vốn trong nước và vốn nước ngoài xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn và đã đang được triển khai ngày một nhiều. Ở những vùng địa hình cao các hệ thống công trình thủy lợi đã được xây dựng nhằm khai thác nguồn nước mặt, các song suối để cung cấp nước cho sinh hoạt, nông nghiệp thủy điện để phát triển cho kinh tế - xã hội cho địa phương, thường nhằm khai thác mà còn mang tính tự phát giải quyết tổng thể chưa có quy hoạch một cách khoa học, đặc biệt là các vùng khan hiếm nguồn nước. Vì vậy nhu cầu về nguồn nước để đáp ứng được các mục tiêu nói trên ngày càng cao.Việc nghiên cứu tìm ra giải pháp khoa học nhằm ‘‘Sử dụng nguồn nước tổng hợp có hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội vùng núi tỉnh Viêng Chăn’’ là rất cần thiết và cấp bách, tạo tiền đề cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm tăng giá trị hàng hóa của sản phẩm nông nghiệp, giải 2 quyết thiếu nước sinh hoạt, nâng cao đời sống cho nhân dân, từ đó đảm bảo ổn định chính trị, an ninh quốc phòng. Yêu cầu đặt ra cho công tác thủy lợi phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng núi Viêng Chăn trong thời gian tới là : coi trọng vấn đề đảm bảo an ninh lương thực, tập trung phát tiển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, đẩy mạnh và phát tiển kinh tế đa ngành. 2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu và đề xuất mô hình khai thác và sử dụng nguồn nước tổng hợp có hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội vùng núi tỉnh Viêng chăn. 3. CÁCH TIẾP CẬN Tiếp cận tổng hợp: xem khu vực nghiên cứu là một phần lưu vực sông, trong đó các điều kiện cấu thành hệ thống bao gồm: địa chất, khí hậu, nước, sinh vật, con người, phương thức quản lý và khai thác. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Phương pháp điềuu tra, thu thập tài liệu, phân tích tài liệu thực tế - Phương pháp đánh giá và kế thừa kết quả nghiên cứu về các biện pháp khai thác và sử dụng nguồn nước tổng hợp vùng núi - Phương pháp kiểm nghiệm các mô hình. 3 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA VÙNG NÚI 1.1- TỈNH VIÊNG CHĂN 1.1.1- Vị trí địa lý Viêng Chân là một tỉnh nằm trong miền Trung của Lào, nằm trong giới hạn: Từ 17o48’ vĩ độ Bắc và Từ 102o06’ kinh độ Đông. P P P P - Phía Bắc giáp tỉnh : Luông Pra bang - Phía Nam giáp Thủ đô Viêng Chăn - Phía Đông giáp với Xiêng khoảng - Phía Tây giáp tỉnh Xayabouly và Tháilan Tỉnh lỵ của Viêng Chăn là Muang Phonhong cách thủ đô Viêng Chăn khoảng 80 km, có 13 huyện tất cả, trong đó có 9 huyện thuộc ở vùng miền núi nằm tập trung ở phía Tây Bắc và Đông Nam. 1.1.2- Đắc điểm địa hình Địa hình của tỉnh miền núi nhìn chung là địa hình đa dạng và phức tạp bao gồm: miền núi, trung du và đồng bằng. Hường dốc chính của địa hình theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Tỉnh Viêng chăn có 4/5 diện tích tự nhiên là vùng núi, địa hình bị chia cắt mạnh mẽ, có nhiều đồi núi, khe lạch. Đặc trưng cơ bản của vùng này là độ dốc lớn, độ dốc trung bình tới trên 25o , giao thông đi lại hết sức khó khăn, bên P P cạnh đó việc cung cấp cho sản suất nông nghiệp và cho sinh hoạt của đồng bảo hiện cũng là một vấn đề khó khăn. Diện tích đất có thể phát triển nông nghiệp thì nhỏ lẻ, phân tán. Các cánh đông tương đối bằng phằng để sản xuất cây 4 lương thực chỉ khoảng vài ngàn ha. Còn lại các cây trồng khác chỉ có thể trồng trên các diện tích đất dốc. Địa hình vùng núi Vieng chan nhìn chung có thể chia thành 2 dạng chính như sau: a. Địa hình núi cao Vùng này cao độ tương đối dốc theo hướng Bắc Nam, tập trung ở các huyện: Vangvieng, kasy, Hinheup. Phần lớn các loại địa hình này là có thể trồng cây lâm nghiệp và đất có khả năng nông nghiệp rất ít, năng suất thu nhập cũng thấp do nguồn nước tưới còn hạn chế, sản xuất nông nghiệp đồng bảo chủ yếu trông chờ vào nước mưa. Tuy khó khăn về nguồn nước nhưng ở vùng này lại có nhiều yếu tố thuận lợi về mặt địa hình, đó là có nhiều khe suối, thung lũng sông có lưu vực hứng nước lớn, phù hợp với việc xây dựng các kho nước lợi dụng tổng hợp, phục vụ cho phát triển kinh tế khu hạ du. b. Địa hình gò đồi Địa hình dạng này chủ yếu ở trên các huyện Saysomboun, Phuong, Xanakham, Viengkham, diện tích mặt bằng khá lớn, với cao độ bình quân từ 200 m đến 300 m. Các vùng này là có tiềm năng để phát triển cây công nghiệp, cây đặc sản. Tuy nhiên về diện tích hiện đang canh tác thì còn hạn chế ít. Những nguyên nhân dẫn tưới tình trạng này là: nguồn nước rất khan hiếm, chưa đáp ứng được thực tế sản xuất hiện tại cũng như mở rộng diện tích đất canh tác, mặt khác việc đầu tư các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt hiện vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Tuy có nhiều khó khăn về mặt khai thác nguồn nước, nhưng trên dạng địa hình này cungc có thuận lợi đó là: có nhiều sông suối nhỏ, có khả năng xây dựng các hồ chứa tưới và cấp nước tại chỗ. 5 1.1.3- Đặc điểm địa chất thổ nhưỡng a. Địa chất kiến tạo Khu vưc vùng núi Viêng Chăn được cấu tạo bởi các trầm tích Paleozoi nằm dưới, phủ lên trên là các trầm tích vụn thô lục địa Kainozoi. Dựa vào đặc điểm thành phần thạch học, quan hệ địa tầng có thể chia ra các phần vi địa tầng như sau : + Hệ tầng Phu pha Nang : phân bố thành những dải núi dạng Cuesta, thành phần thạch học gồm cát kết màu xám xét bột kết, chiều dầy hệ tầng khoảng 350 m. + Hệ Champa: Lộ ra ở rìa bồn trũng nằm lót trầm tích chữa muối của hệtầng Thangon. Thành phần thạch học bao gồm cuội kết, đôi khi là dăm kết, sạn kết và các kết màu xám, chiều dày khoảng 400 m. + Hệ tầng Vientaine: có diện phân bố khá rộng chủ yếu là bờ phải sông NamNgum và sông Tong, thành phần cuội kết, cát, sét, chiều dầy hệ tầng thay đổi từ 10 - 70 m. b. Địa chất thủy văn Phần thượng nguồn, nước ngầm chứa trong tầng khe nứt vỉa và tầng trầm tích lục nguyên. Nguồn cấp chính cho nước ngầm là nước mưa, lương cấp từ 0,1 đến 1 L/s/km2, cao nhất khoảng 2 L/s/km2. P P P P Trên khu vực nguyên cứu ít có mỏ nước áp lực xuất hiện và hầu như không có sông ngầm, khả năng sử dụng nước ngầm chủ yếu cho sinh hoạt nông thôn và cũng chỉ sử dụng được một số vùng. c. Địa chất khoáng sản Theo tài liệu của Cục mỏ địa chất, trong phạm vi khu vực có những điểm chứa muối lớn, phạm vi phân bố tương đối rộng, những điểm chứa dưới dạng 6 sa khoáng, như ở Caolia, dọc sông Namngum, mỏ than bùn ở bản Maknao, mỏ cát thủy tinh ở bản Ilay, mỏ đất sét... hầu hết các mỏ trên đang ở giai đoạn tìm kiếm chưa xác định được trữ lượng. Phần thượng nguồn hầu như không có mỏ khoáng sản mà chủ yếu là sa khoáng không tập trung. Các vị trí dự định xây dựng kho nước đều không có mỏ khoáng sản. d. Thổ nhưỡng Đất trong vùng nghiên cứu chủ yếu là đất mùn miền núi cao. Các loại đất chính gồm có như sau: - Đất cát (Arenosol) - Đất phù sa (Fluvisols) - Đất xói mòn mạnh (Leptosols) - Đất mùn trên núi cao (Acrisols) - Đất xám nâu (Lixsols) - Đất mặn (Solonet) - Đất đen nhiệt đới (Luvisols) - Đất ao hồ, sông suối - Đất vùng núi cao có độ dốc >25% . Các loại đất này dọc theo sông NamLik, Namngum và dọc theo các suối là đất phù sa được bồi tự và đất cát. Thành phần cơ giới của đất chủ yếu là đất cát pha thịt và đất thịt trung bình, chiều dày tầng đất canh tác chừng 30 - 60 cm, phía dưới là đất sét và đất thịt. Nói chung thành phần đất trên khu vực cho phép đa dạng hóa cây trồng cao, đát thuộc loại dễ cải tạo nếu được tưới tiêu hợp lý sẽ có năng suất cao, đây là một tiềm năng lớn để phát triển nông nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. 7 1.1.4- Đặc điểm khí tượng thủy văn 1.1.4.1. Mạng lưới quan trắc trên khu vực Bảng 1-1. Danh sách trạm thủy văn trong khu vực nghiên cứu TT Tên trạm Tên sông Tọa độ F Lưuvực (Km2) R Kinh độ Vĩ độ R 1 Kasy Lik 19o13’09’’ 102o 15’04’’ 374 2 Hineheup Lik 18o39’08’’ 102o21’03’’ 5,115 3 Vang vieng Xong 18o39’08’’ 102o26’09’’ 864 4 Naluang Ngum 18o11’50’’ 102o46’07’’ 5,220 5 Thalat Ngum 18o54’08’’ 102o31’00’’ 8,280 6 Pakkanhoung Ngum 18o31’00’’ 102o33’00’’ 13,560 7 Veunkham Ngum 18o11’00’’ 102o17’00’’ 15,230 8 Thangon Ngum 18o35’01’’ 102o37’03’’ 16,500 P P P P P P P P P P P P P P P P P P P P P P P P P P P P P P P P P P 1.1.4.2- Đặc điểm khí hậu, khí tượng. 1- Đặc điểm thời tiết khí hậu Nước CHDCND Lào nói chung và tỉnh Viêng Chăn nói riêng thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, rất đa dạng, phong phú và ôn hòa. Có 2 mùa rõ rẹt trong năm: mùa khô và mùa mưa. 2- Mưa Mùa mưa thường bắt đầu từ cuối tháng IV và kết thúc vào tháng X, đó là lương mưa chủ yếu trên toàn vùng đồng bằng, trung bình chiếm từ 85 – 90%. Mùa khô thường kéo dài từ tháng XI đến tháng IV năm sau, lượng mưa trong thời gian này rất ít chỉ chiếm sắp xỉ 10 - 15 % lượng mưa cả năm. Mưa hàng năm tại vùng Viêng Chăn có xu hướng tăng từ thấp đến cao, từ phía Nam lên Bắc, với số liệu thực đo ta thấy lượng mưa khu vực tại trạm Thangon 1600 mm, Napheng 2200 mm đến Phon Hong 2200 mm và lên phía 8 trên trạm Văng viêng là 3400 mm.Với số liệu thực đo lượng mưa trung bình nhiều năm tại các trạm có trong (bảng 1-2) như sau: Bảng 1-2: Mưa hàng năm trung bình nhiều năm tại một số trạm. Trạm đo Thời kỳ đo đạc X o (mm) Văng viêng 1969-2005 Phôn hông Năm mưa lớn Năm mưa nhỏ X(mm) Năm X(mm) Năm 3456.178 4544.7 2000 2623.4 1988 1971-2005 2259.55 3488.2 1995 1198.5 1974 Tha ngon 1951-2005 1688.81 2425.80 1971 1144.2 1977 Na pheng 1971-1998 2068.87 3360.1 1995 1376.8 1972 R R 3- Gió Gió được chia làm 2 màu rõ rệt như : mùa mưa là hướng gió Tây Nam và mùa khô là hướng gió Đông Bắc , nước Lào không có biển nên thường gió không lớn trung bình các tháng biến đổi từ 1 – 3 m/s. Và tốc độ gió lớn nhất nằm khoảng 30 m/s, nhưng thời gian kéo dài không lâu, chủ yếu là do gió lốc có tính cục bộ. Do vị trí địa lý nên Lào không ảnh hưởng trực tiếp mà chỉ bị ảnh hưởng gián tiếp. 4- Nhiệt độ Nhiệt độ bình quân năm dao động từ 21o đến 26o. Nhiệt độ trong các P P P P tháng chênh lệch nhau khoảng từ 1-5o. Các tháng có nhiệt độ cao thường vào P P tháng IV và tháng V, còn tháng có nhiệt độ thấp thường vào tháng XII đến tháng II năm sau. 9 Bảng 1-3. Nhiệt độ trung bình nhiều năm tại các trạm vùng Viêng Chăn Đơn vị: o c P Trạm Thời kỳ I II III IV V VI VII VIII IX X XI P XII Năm Phonghong 71-2000 21.4 23.3 26.3 28.3 28.0 27.7 27.3 27.1 27.1 26.4 24.1 21.3 25.7 Vangvieng 73-2000 21.6 23.3 26.0 27.6 27.6 27.5 27.0 26.7 27.2 26.5 24.6 22.5 25.7 Napheng 71-2000 22.5 24.0 26.6 28.6 28.4 27.7 27.8 27.3 27.6 25.9 23.9 22.4 26.1 Thangon 71-2000 22.1 24.4 27.2 28.9 28.7 28.1 27.6 27.3 27.4 26.6 24.5 21.8 26.2 Veunkham 87-2000 23.5 24.8 27.6 29.5 28.6 28.3 27.8 26.7 27.5 26.6 25.4 23.2 26.6 5- Độ ẩm không khí Độ ẩm không khí trên khu vực là khá lớn, độ ẩm tối đa là 88% thường vào tháng V đến tháng X hàng năm là trên 80%. Độ ẩm tối thấp vào tháng XI đến tháng IV năm sau, độ ẩm thường thấp hơn 70%. Bảng 1-4: Độ ẩm tương đối tháng năm trung bình nhiều năm tại các trạm vùng Viêng Chăn Đơn vị: % I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Phonhong 71-2000 72 71 70 72 78 82 83 84 82 79 75 74 77 Vangvieng 73-2000 72 70 68 72 77 81 84 85 81 77 74 73 76 Napheng 71-2000 67 66 64 65 74 76 76 75 74 76 73 69 71 Thangon 71-2000 72 69 67 69 76 82 82 85 83 80 76 74 76 Veunkham 87-2000 81 79 79 77 82 87 86 88 88 85 81 81 83 Trạm Thời kỳ 6- Bốc hơi Tổng lượng bốc hơi năm trên lưu vực là 1881 mm/năm. Bốc hơi bình quân tháng nhỏ nhất là 1,3 mm/ngày, lớn nhất 6,6 mm/ngày. Lượng bốc hơi trên lưu vực lớn nhất vào tháng III, IV, V. 10 Bảng 1-5: Lượng bốc hơi tháng, năm tại các trạm vùng Viêng Chăn Đơn vị: mm Trạm Thời kỳ I II III IV V VI VII VIII IX X XII Năm XI Phonghong 71-2000 61.6 73.2 99.1 88.8 62.6 47.9 43.5 39.4 41.7 50.6 55.9 58.8 723 Vangvieng 73-2000 120 132 160 147 111 75.3 68.5 57.6 66.0 91.3 100 113 1245 Napheng 71-2000 55.1 58.6 73.1 74.9 67.5 57.5 56.3 55.3 52.2 56.3 54.9 57.9 719 Thangon 71-2000 135 151 192 184 122 79.9 77.7 67.5 73.8 90.9 112 125 1413 Veunkham 87-2000 135 95.7 167 185 200 149 139 138 134 186 170 178 1880 1.1.4.3- Đặc điểm thủy văn 1- Dòng chảy năm Dòng chảy năm trung bình nhiều năm trên khu vực là 7.12 *109 m3 với R R P P P P môduyn dòng chảy bình quân là 42.16 l/s.km2. Về cơ bản nguồn nước trên hệ P P thống sông đều do mưa nên chế độ dòng chảy năm phụ thuộc vào chế độ mưa, mùa mưa thì dòng chảy lớn còn mùa khô hầu như cạn kiệt. Bảng 1-6: Dòng chảy năm trung bình nhiều năm ở một số vị trí Trạm F (km2) Sông P P Dòng chảy năm Q o (m3/s) M o (l/s.km2) W o .109(m3) R R P P R R P P R R P P P Kasy Namlik 374 9.62 25.72 0.30 * 109 Vangvieng Namxong 864 46.83 54.20 1.47 * 109 Hinheup NamLik 5.115 238.17 46.56 7.5 * 109 Thalat Namngum 8.280 610.58 73.74 19.23 * 109 R R R R P P R P R P R R P Bảng 1-7: Tần suất dòng chảy năm ở một số trạm. Trạm Sông F Qo Q p (m3/s) R R (km2) (m3/s) P P P Cv Cs P R P P 10 50 75 85 Kasy Namlik 374 9.62 0.66 0.74 18.06 8.81 4.99 3.20 Hinheup Namlik 5.115 238.17 0.99 1.31 551.27 189.21 65.62 15.07 Vangvieng Namxong 864 46.83 1.01 1 109.82 38.98 12.12 0.27 11 2- Dòng chảy lũ Trong khu vực nghiên cứu, dòng chảy lũ tập trung vào sông Namlik, sông Namlik mùa lũ bắt đầu từ tháng VI và kết thúc vào nửa tháng X, chiếm 80% tổng lượng nứoc năm, mùa kiệt từ cuối tháng XI đến tháng V năm sau, 3 tháng có dòng chảy lớn nhất là tháng VII,VIII,IX chiếm khoảng 65% tổng lượng nước năm. Ta thấy rằng lượng dòng chảy năm tập trung vào mùa lũ tới 80%, còn mùa kiệt thì rất ít chỉ khoảng 15% tổng lượng dòng chảy năm. 3- Dòng chảy kiệt Tại vùng núi Viêng Chăn dòng chảy kiệt nhất bắt đầu từ tháng XI đến tháng V năm sau, tháng II,III là có dòng chảy kiệt nhất, lưu lượng tập trung rất nhỏ, chỉ đạt trung bình 0,01 l/s, có nghĩa là hết sức nhỏ. Ta thấy rằng vào mùa khô trong khu vực cực kỳ khan hiếm nước. Bảng 1-8: Dòng chảy bình quân 3 tháng kiệt (I,II,III) Vị trí Sông F(km ) Q tb Cv Cs Kasy Namlik 374 4.46 0.66 Vangvieng Namxong 864 9.36 Hinheup Namlik 5.115 42 P Qp(m3/s) P 2 P R P 50 75 85 0.74 8.81 4.99 3.20 1.01 1 38.98 12.12 0.27 0.99 1.31 189.21 65.62 15.07 1.1.4.4- Đặc điểm sông ngòi, lòng dẫn 1- Hình thái lưới sông Vùng núi Viêng Chăn nằm trong lưu vực sông Namngum , vì vậy đặc điểm sông ngòi trong khu vực điều nằm trong phụ lưu của con sông lớn này. 2- Sông Namngum Namngum là một phụ lưu lớn của sông Mekhong, nó gồm có hai nhánh chính là Namngum và Nam Lik bắt nguồn từ vùng núi với cao độ trên 1000 12 m, chúng gặp nhau tại bản Thinkeo tạo nên sông chính Namngum đoạn sông có chiều dài 210 km từ Thinkeo đến Pakkhanhoung, sông chảy theo hướng Bắc-Nam, từ Pakkhanhoung đến Thangon dòng sông uốn khúc quanh có liên tiếp , chảy rất ngoằn nghèo. Các chi lưu quan trọng của sông là: Namcheng, Namsouang, Namthon, Huốihum và Namkhan. 3- Sông NamLik Sông NamLik là phụ lưu lớn của sông Namngum nó bắt nguồn từ núi cao Phukhun thuộc tỉnh Luangpabang, chảy chủ yếu theo hướng Bắc – Nam tổng chiều dài dòng chính của sông là 160 km, thượng nguồn sông gồm có phụ lưu nhỏ như: sông Tong, song xong. Lòng sông NamLik từ thượng nguồn đến cửa sông điều mang tính chất của sông vùng đồi, nguồng nước sông đóng vai trò quan trọng trong khu phát triển của 4 huyện vùng đồi tỉnh Viêng Chăn. 1.2- HIỆN TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NÚI TỈNH VIÊNG CHĂN 1.2.1- Đặc điểm xã hội a. Tình hình dân số Trong năm 2010 tổng số của 9 huyện miền núi của Viêng Chăn là : 350.700 người, mật độ bình quân là 23 ng/km2, phân bố dân cư rất không đều, P P tập chung chủ yếu ở các vùng đồi thấp. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên chỉ là 2,7%/năm . Các nguyên nhân của thực trạng này là do: địa bàn vùng núi cao, điều kiện địa hình phức tạp, sản xuất lương thực khó khăn do khan hiếm nước. Vì vậy các đồng bảo chuyển xuống vùng thấp hơn, gần nguồn nước và điều kiện sinh hoạt tốt hơn. 13 b. Về đời sống Đời sống sinh hoạt của đồng bào miền núi Vieng chan hiện nay vấn đang còn rất nhiều khó khăn, an ninh lương thực chưa được đảm bảo, sản lượng lương thực đang ở mức thấp, với bình quân lương thực đầu người chỉ khoảng 90 kg/ng/năm. Bên cạnh những thiếu thốn, khó khăn về nguồn nước cũng đang là vấn đề hết sức gây gắt, tỷ lệ dân số được cấp nước còn rất thấp chỉ đạt khoảng 30 – 35 %. Đặc biệt trong mùa khô càng khó khăn. Những khu vực có nguồn nước cung cấp cũng rất hạn chế, về cả số lượng mà chất lượng cũng chưa được đảm bảo. c. Về văn hóa - xã hội - Văn hóa: Về đời sống văn hóa của người dân trong vùng đã được nâng cao so với trước đây, nhưng vẫn còn một số phong tục tập quán lạc hậu như trong việc cưới, việc tang con mang những thủ tục năng nề, nhất là những làng, bản nằm trên núi cao. Với đặc trưng của địa hình vùng núi phức tạp, mật độ dân cư thưa thớt, đường giao thông khó khăn, tỷ lệ có điện còn thấp, sóng truyền hình chưa phủ tới, các loại sách khoa học kỹ thuật chậm đến nơi, đó cúng là một trong những hạn chế để nâng cao đời sống văn hóa của đông bảo. - Giáo dục: Về giáo dục tỷ lệ mù chữ ơ vùng núi vẫn còn cao, số lượng học sinh ở bậc trung học và trung học cơ sở thấp hơn so với vùng xuôi, giáo dục ở bậc tiểu học vẫn chưa được phổ cập, số lượng giáo viên đang công tác tại vùng cao còn rất ít, nhất là ở bậc tiểu học. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên hầu hết các trường đạt tại điểm xa làng bản , cơ sở còn nghèo nàn, đường giao thông đi lại rất khó khăn, mặt 14 khác áp lực từ việc lao động kiếm sống vẫn còn lớn, vậy trẻ em chưa có điều kiện được đi học. Đây là một chính thiệt thòi lớn cho các em. - Y tế: Ở các huyện miền núi đều có các trung tâm y tế. Tại các bản làng xa trung tâm cũng có trạm xá xã, nhưng số liệu còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của người dân, phương tiện kỹ thuật lạc hậu, thuốc men còn thiếu thốn, không đảm bảo được sức khỏe cho nhân dân. Bên cạnh những khó khăn về mặt y tế, nước sạch sinh hoạt cũng đang là một vấn đề lớn.Về mùa khô các đồng bảo thiếu nước sử dụng như: ăn uống, tắm giặt. Do vậy dẫn đến các bệnh truyền nhiễm, đường ruột, đâu mắt. 1.2.2- Hiện trạng các ngành kinh tế trong vùng 1- Hiện trạng các ngành kinh tế a. Về nông nghiệp Nói chung nền sản xuất nông nghiệp trong khu vực chủ yếu là trông chờ vào nước mưa, vậy năng suất cây trồng còn đang ở mức thấp. Sản lượng lương thực có hạt vụ mùa gieo trồng được 62.690 ha, còn vụ chiêm thì thiếu nước tưới, một số công trình dảm bảo gieo cấy chỉ khoảng 12.604 ha, do thiếu nước cộng với là trình độ canh tác còn lạc hậu chính là nguyên nhân làm cho năng suất lương thực chưa được nâng cao. Mặt khác hiện nay diện tích đất hoang con nhiều và do cơ sở hạ tầng như giao thông, bệnh xá, trường học chưa có nên dân chưa đến ở lập nghiệp. Muốn dân đến khai thác phải đầu tư vật chất ban đầu, công trình giao thông, thủy lợi tạo điều kiện tối thiểu để dân đến sinh sống và sản xuất được. Qua cơ sở trên ta thấy rằng trước hết phải tập trung giải quyết công trình tưới để phát triển lương thực. 15 b. Về trồng trọt: Trong khu vực hiện nay vẫn còn khó khăn, chủ yếu vẫn đang dựa vào sản xuất nông nghiệp, tự cấp tự túc là chính, gieo cấy chỉ tập trung vào vụ mùa, còn vụ đông thì gần như không có sản xuất được do thiếu nước. Các công trình thủy lợi chỉ đáp ứng một phần, vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để sử dụng hiệu quả nguồn nước. Các cây trồng khác ngoài lúa như đậu, lạc và các loại cây ăn quả khác vẫn chưa được gieo trồng do không có hệ thống cấp nước. c. Về chăn nuôi Về chăn nuôi trong khu vực có tiềm năng phát triển rất lớn, tuy nhiên hình thức chăn nuôi hiện nay vẫn theo phương thức chăn nuôi từng hộ gia đình, quy mô nhỏ. Vật nuôi chủ yếu là: trâu, bò, lợn và các loại gia cầm, giá trị sản lượng trong chăn nuôi còn thấp do không đủ nguồn thức ăn. d. Về thủy sản Nguyên nhân để thu thập từ thủy sản chưa được phát triển là do thiếu môi trường nước, dân mới chỉ tận dụng các ao hồ nhỏ trong vườn, các hồ chứa nước nhỏ để nuôi trồng. Tuy nhiên về mùa khô các ao hồ đều cạn kiệt nguồn nước, đây cũng là một khó khăn rất lớn trong khu vực. 2- Hiện trạng lâm nghiệp Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 191.155 ha nhưng do khai thác tràn lan, không co kế hoạch nên hầu hết không còn rừng nguyên sinh do dân phá rừng làm rẫy, chặt phá rừng bừa bãi. Đây là những tệ nạn cần sớm được ngăn chặn càng sớm càng tốt. 16 3- Hiện trạng công nghiệp Trên vùng núi Viêng Chăn, công nghiệp đã có nhà máy sản xuất nước ngô đóng hộp, nhà máy sản xuất bột sắn tại huyện Mưn, nhưng hai nhà máy này chưa tận dụng hết khả năng là do thiếu nguyên liệu như ngô, củ sắn. Việc đầu tư phát triển vùng nguyên liệu cũng rất khó khăn cũng như là việc cung cấp nước tưới. 1.3- TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TỔNG HỢP NGUỒN NƯỚC VÙNG NÚI VIÊNG CHĂN Nói đến sản xuất nông nghiệp trước hết phải đề cập đến vấn đề nguồn nước. Đây chính là yếu tố quyết định đến năng suất và sản lượng cây trồng. Để nắm được một cách tổng quan về hiện trạng và khả năng phụ vụ của các hệ thống cấp nước trong khu vực thì cũng phải giới thiệu sơ bộ về nguồn nước và phương thức khai thác hiện đang đựoc sử dụng. Trong khu vực vùng núi Viêng Chăn có nguồn nước rất đa dạng và phong phú , bao gồm: nước mưa, nước mặt và nước ngầm. Tuy nhiên để phục vụ sản xuất và sinh hoạt hiện chỉ đang sử dụng được một phần nhỏ, nước mưa thì sử dụng một cách tự nhiên chưa có biện pháp giữ tận dụng một cách hiệu quả, nước ngầm thì hầu như chưa được khai thác và sử dụng, chỉ có một vài nơi khai thác the hình thức giếng để phục vụ nước sinh hoạt. Về mặt thủy lợi: do điều kiện tự nhiên về địa hình địa mạo về khí tượng thủy văn hết sức khó khăn, phức tạp vì vậy công tác thuỷ lợi miền núi còn đang rất hạn chế. Các công trình thuỷ lợi phần lớn là các đập dâng, hồ chữa hoặc cống lấy nước tự chảy, các trạm thuỷ điện loại nhỏ và trạm thuỷ luân. Hệ thống thuỷ lợi vùng núi thường nhỏ, nằm phân tán và xa khu dân cư nên công tác quản lý, bảo dưỡng gặp rất nhiều khó khăn. 17 1.3.1- Về công trình đầu mối Công trình đầu mối thuỷ lợi miền núi có nhiều dạng nhưng chỉ tập trung vào các dạng chính: 1- Hồ chứa a. Đặc tính kỹ thuật Các hồ chứa vùng núi thường nằm cao hơn so với các thung lũng ruộng, bụng hồ hẹp và trải dài theo thung lũng núi. Do vậy muốn tăng được dung tích hồ thì thường đập phải cao. Ví dụ như hồ chứa nước Nam Houm, hồ chứa này nhằm phục vụ tưới là chính, nhưng do hồ có dung tích hứu ích bé vì vậy diện tích tưới được cúng hạn chế, chỉ phục vụ cho vài trục ha đất canh tác trong phạm vi thôn bản. Công trình đầu mối , hồ chứa nước miền núi bao gồm: đâp đất, tràn xả lũ, cống lấy nước.  Đâp đất Đất đắp đập chủ yếu sử dụng vật liệu sẵn có tại địa phương do dân tự làm. Mặt đập bé và thấp, mãi thượng hạ lưu dốc, không có thiết bị tiêu nước, chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn thiết kế.  Tràn xả lũ Phần lớn là các đường tràn tự nhiên, lợi dụng các ao núi sẫn có, đa số các đường tràn đều là tràn đất, không được gia cố, hoặc có cũng rất sơ sài, chỉ bằng đá xếp hoặc đá xây chất lượng kém, không đảm bảo ổn định, chưa tương ứng với dung tích hiệu quả và dung tích phòng lũ của hồ. Trên vùng núi do độ dốc sườn núi lớn, thàm phù thực vật bị phá hoại nên về mùa mưa lũ về tập trung rất nhanh, lưu lượng và vân tốc rất lớn làm cho đường tràn phải tập trung hoạt động với công suất cao. Mặt khác tiết diện 18 đường tràn thường bé, không được gia cố, giải pháp kỹ thuật tiêu năng sau tràn chưa phù hợp dẫn đến xói hạ lưu tràn.  Cống lấy nước Cống lấy nước ở miền núi dùng các ống bê tông đúc sẵn hoặc các thân cây đục rỗng, vì thế thường bị rò rỉ mất nước, chiều dài cống thường ngắn hơn so với thân đập, thiết bị tiêu năng không có, qua thời gian khai thác khá dài , phần lớn xung quanh thân cống và hạ lưu cống đều bị xói lở có thể dẫn đến vỡ đập. Bên cạnh đó thiết bị đóng mở cống cũng rất thô sơ, chủ yếu bằng van phằng, bằng các thân cây gỗ hoặc cục bê tông nên chất lượng kín nước kém hay rò rỉ, đóng mở nặng nề, vân hành hết sức khó khăn. b. Khả năng phục vụ Nhìn chung các hồ chứa miền núi hiện này mới chỉ đang làm nhiệm vụ cấp nước cho nông nghiệp, chủ yếu phục vụ tưới cho lúa, còn các loại cây trồng khác hầu như chỉ dựa vào nước trời. Phát điện nhỏ là một trong những nhiệm vụ quan trọng việc lợi dụng tổng hợp nguồn nước miền núi, nhưng đến đây vẫn chưa được chú trọng phát triển. đây là một lãng phí rất lớn đặc biệt trong lúc đồng bảo đang rất cần điện để phát triển mọi mặt của cuộc sống hiện nay. Ngoài ra việc cung cấp nước tưới và phát điện các hồ chứa còn có nhiệm vụ là cấp nước sinh hoạt. Mặc dù lưu lượng cấp nước sinh hoạt là rất nhỏ, nhưng các hồ chứa vẫn chưa đảm nhiệm đựoc đặc biệt là trong mùa kho lại càng hết sức khó khăn. 19 c. Tính lợi dụng tổng hợp Hiện nay các hồ chứa, ao núi nhỏ ở vùng miền núi nói chung hiệu quả sử dụng còn rất thấp, tính bền vững kém, dễ bị hư hỏng. hiện mới chỉ phục vụ cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, mà chủ yếu là lúa, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Bên cạnh đó tính lợi dụng tổng hợp không cao, các hồ chứa phục vụ đa mục tiêu như: phát điện, cấp nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản…nên nguồn nước chưa được sử dụng một cách hiệu quả. Vì thế tất cả các hồ chứa nhỏ hiện tại chưa thể đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của khu vực. 2- Đập dâng a. Đặc tính kỹ thuật Ở vùng núi thường sử dụng đập dâng ngăn dòng suối, chủ yếu nhằm sử dụng dòng chảy cơ bản, nâng cao đầu nước để dẫn vào kênh. Có thể đưa ra ví dụ như đập dâng Houay Son, đập này nhằm phục vụ tưới cho các diện tích nhỏ lẻ ven thềm suối, về quy mô đập nhỏ, đơn giản, tính bền vững không cao. Ở các địa phương thường dùng loại đập rọ đá xếp, rọ tre hoặc bằng thép đan. Để ngăn nước chảy qua thân đập, thường dùng các tấm phen nứa có phủ đất phía thượng lưu. Cấu tạo đập tuy đơn giản , rẻ tiền và có thể dùng vật liệu tại chỗ, nhưng rất dễ bị phá huỷ trong mùa mưa lũ. b. Khả năng phụ vụ Đập dâng có những đặc tính kỹ thuật rất thuận lợi, nhưng thường khả năng phục vụ thường rất thấp, kém bền vững, chỉ tồn tại qua một vài năm. Mùa mưa lũ thì phải tu bổ thường xuyên, mùa khô khi cần nước thì hầu như không phát huy được hiệu quả, do trong mùa này lưu lượng cơ bản của các suối rất nhỏ. 20 c. Tính lợi dụng tổng hợp Tính lợi dụng tổng hợp của đập dâng hiện nay còn rất thấp, nguyên nhân do dễ hư hỏng, phải thường xuyên sửa chữa, khó tạo được chênh lệch đầu nước tương đối ổn định để chảy máy phát điện mini hoặc các trạm bơm nước va, bơm thuỷ luân. Vì thế việc cấp nước cho các vùng đổi cao, cấp nước sinh hoạt, cấp điện cho các hộ gia định là không thể thực hiện được. 3- Các loại công trình khác Ở một số địa phương hiện vẫn còn dùng guồng nước, lợi dụng tốc độ của dòng chảy làm quay guồng đưa nước lên cao đổ vào kênh tưới ruộng. Đây là các công trình mang tính truyển thống, đơn giản dễ làm nhưng hiệu quả phục vụ rất thấp, diện tích được tưới rất nhỏ, nhưng loại công trình này kém bền và tuổi thọ không cao. 1.3.2- Hệ thống kênh mương 1- Đặc tính kỹ thuật Kệnh ở miền núi phần lớn là kênh đất, độ dốc lớn, mặt cắt kênh nhỏ, tuyến kênh dài nên tổn thất nước trên hệ thống rất lớn. Kênh ở miền núi không những làm nhiệm vụ chuyển nước tưới mà còn đảm nhiệm cả việc chuyển nước mặt từ sườn dốc do mưa, hoặc dòng chảy từ các lưu vực dọc hai bên tuyến kênh. Trong mùa mưa hiện tượng nước lũ suối chảy cắt ngang kenh thường xuyên xảy ra. Mặt khác do kênh đi ven dưới sườn dốc nên rất dễ xay ra hiện tượng lở, sạt đất bồi lấp kênh, dòng chảy bị chặn lại, nước dâng tràn bờ gây vỡ kênh. Hiện nay các hệ thống phần lớn chưa có công trình đảm bảo an toàn như tràn bên, công trình chống bồi lấp và xói mòn trên kênh.
- Xem thêm -