Tài liệu Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở việt nam (tt)

  • Số trang: 24 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 67 |
  • Lượt tải: 0
sharebook

Tham gia: 25/12/2015

Mô tả:

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Tài sản công (TSC) là nguồn lực nội sinh của đất nước, là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và quản lý xã hội, là nguồn lực tài chính quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Những năm gần đây, hệ thống các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng TSC ở Việt Nam đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện để quản lý tất cả các loại TSC. Chế độ quản lý, sử dụng TSC đã từng bước gắn kết giữa việc bảo vệ nguồn lực và khai thác nguồn lực TSC. Việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC đã đạt được những kết quả quan trọng, song vẫn còn nhiều hạn chế cả về cơ chế, chính sách và công tác tổ chức thực hiện; nguồn lực khai thác được chưa tương xứng với quy mô của TSC và yêu cầu huy động nguồn lực của quốc gia. Tình trạng phân tán, bỏ sót, thất thoát, lãng phí nguồn lực diễn ra ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan theo các Hiệp định FTA, việc tăng cường khai thác bền vững, chủ động, có hiệu quả nguồn lực tài chính từ TSC có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tái cơ cấu NSNN, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia. Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019 của Bộ Chính trị đã xác định việc nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác các nguồn lực (trong đó có nguồn lực từ TSC) là yêu cầu cấp bách trong tình hình hiện nay để khắc phục các tồn tại, yếu kém của nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Vì vậy, việc bổ sung, làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn nhằm tìm kiếm các giải pháp tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ TSC tại Việt Nam trong thời gian tới đang được đặt ra như là một trong những giải pháp có tính đột phá, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính quốc gia. Đây là lý do NCS lựa chọn đề tài nghiên cứu cho luận án này. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu để đề xuất những giải pháp khoa học và khả thi nhằm tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ TSC. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Xây dựng khung lý thuyết về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC; khảo sát kinh nghiệm quốc tế để rút ra những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào điều kiện thực tế của Việt Nam; phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam. 1 2.3. Câu hỏi nghiên cứu: (i) Nguồn lực tài chính từ TSC là gì? Khái niệm, hình thức, công cụ, nội dung quá trình khai thác nguồn lực tài chính từ TSC? Tiêu chí đánh giá, những nhân tố ảnh hưởng tới việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC? (ii) Kinh nghiệm quốc tế có thể vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam? (iii) Thành công, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam? (iv) Khả năng, giải pháp tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2035? 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC. 3.2. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu việc khai thác nguồn lực tài chính từ 4 nhóm TSC trên phạm vi cả nước có tính chất đại diện trong giai đoạn 2009 - 2018; dự báo nguồn thu, giải pháp: Đến năm 2025, tầm nhìn 2035. 4. Phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu gồm: Nghiên cứu tổng quan tài liệu; tổng hợp, phân tổ, phân tích, so sánh; thống kê mô tả và phân tích định tính; chuyên gia. Nguồn số liệu được sử dụng là nguồn dữ liệu thứ cấp. 5. Những đóng góp mới của luận án 5.1. Đóng góp về lý luận: Xây dựng và luận giải rõ khái niệm về TSC, nguồn lực tài chính từ TSC và khai thác nguồn lực tài chính từ TSC; xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC gồm các tiêu chí định tính, tiêu chí định lượng để vừa đánh giá về kết quả khai thác vừa đánh giá về quá trình khai thác nguồn lực tài chính từ TSC. 5.2. Đóng góp về thực tiễn: - Trên cơ sở kinh nghiệm của một số quốc gia và vùng lãnh thổ về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC, luận án rút ra các bài học cho Việt Nam, làm cơ sở tham khảo để hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC. - Đánh giá, nhận diện một cách đầy đủ, khách quan, khoa học về những thành công, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam. - Xây dựng hệ thống các quan điểm, giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam. 6. Kết cấu của luận án 2 Luận án gồm: mở đầu, 4 chương, kết luận, kiến nghị, danh mục công trình khoa học của tác giả đã công bố, tài liệu tham khảo và phụ lục. Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN KHAI THÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TỪ TÀI SẢN CÔNG 1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước - Các nghiên cứu liên quan đến khai thác nguồn lực tài chính từ TSC khu vực hành chính sự nghiệp (HCSN). - Các nghiên cứu liên quan đến khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản kết cấu hạ tầng. - Các nghiên cứu liên quan đến khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước. - Các nghiên cứu về khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai. 1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1.3. Những điểm đã đạt được của các công trình nghiên cứu TSC là nguồn lực tài chính có thể khai thác được để phát triển kinh tế xã hội. Việc khai thác đem lại nguồn lực tài chính quan trọng cho đất nước nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ thất thoát và rủi ro rất lớn. Việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định, trong đó, công khai, minh bạch luôn được nhấn mạnh trong khai thác nguồn lực tài chính từ TSC. Việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC được thực hiện thông qua nhiều hình thức và công cụ khác nhau: (i) Đối với TSC khu vực HCSN có hình thức: sử dụng TSC để liên doanh, liên kết, cho thuê; bán, chuyển nhượng, thanh lý; bố trí lại bất động sản công tại các vị trí thuận lợi; (ii) Đối với tài sản kết cấu hạ tầng có hình thức: chuyển nhượng, cho thuê quyền khai thác; bán, chuyển nhượng, thanh lý; phí, lệ phí; (iii) Đối với tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước có hình thức: nộp tiền, ngoại tệ vào NSNN; bán, chuyển nhượng, thanh lý tài sản; (iv) Đối với đất đai có hình thức: giao đất, cho thuê đất; sử dụng giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn, thanh toán các nghĩa vụ tài chính của Nhà nước; thuế, phí, lệ phí; (v) Các công cụ được sử dụng để khai thác nguồn lực tài chính từ TSC gồm: định giá, chỉ định, đấu giá. 1.4. Khoảng trống của các công trình nghiên cứu - định hướng nghiên cứu của luận án Chưa có một khung lý thuyết tương đối đầy đủ về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC. Các công trình mới nghiên cứu về một số hình thức, 3 công cụ và quy trình khai thác đối với một số loại TSC cụ thể với vị trí là một khâu trong quy trình quản lý TSC. Thiếu một hệ thống tiêu chí đánh giá việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC và định danh các nhân tố ảnh hưởng tới việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC. Thực trạng TSC và khai thác nguồn lực tài chính từ một số loại TSC cụ thể ở nước ta được đánh giá hầu hết là trước Hiến pháp 2013. Đến nay, bối cảnh, thực trạng và yêu cầu quản lý TSC đã có nhiều thay đổi. Vì vậy, các phân tích, đánh giá ở những công trình trước đây đã không còn phù hợp. Những định hướng, giải pháp được đề xuất ở hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây hướng đến năm 2020. Tuy nhiên, mục tiêu quản lý, nội dung khai thác nguồn lực tài chính từ TSC từ năm 2018 đã có nhiều thay đổi. Vì vậy, cần có những dự báo, định hướng và giải pháp mới cho những năm tiếp theo. 1.5. Kết luận Chương 1 Thời gian vừa qua đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý TSC và khai thác nguồn lực tài chính từ TSC theo các khía cạnh và phạm vi khác nhau. Mặc dù, các công trình chủ yếu nghiên cứu về quản lý TSC nhưng một số kết quả nghiên cứu về quản lý tài chính, xử lý TSC đã góp phần quan trọng vào việc từng bước hình thành khung lý thuyết về việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC, phân tích, đánh giá thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ một số loại TSC cụ thể. Tuy nhiên, chưa có công trình nào hệ thống hóa đầy đủ lý luận về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC, đặc biệt là làm rõ khái niệm, nguyên tắc, nội dung quy trình khai thác và hệ thống tiêu chí đánh giá việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC. Đồng thời, cũng chưa có công trình nào đánh giá một cách tổng quát, toàn diện và cập nhật thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam thời gian vừa qua, cũng như đề xuất các giải pháp, kiến nghị tăng cường quản lý, khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn 2035. Khoảng trống của các công trình nghiên cứu được khái quát tại Chương này là cơ sở để xác định phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án và nội dung nghiên cứu tại các chương tiếp theo, đồng thời là cơ sở để minh chứng luận án của tác giả không trùng lặp với các công trình đã có. 4 Chương 2 LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ KHAI THÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TỪ TÀI SẢN CÔNG 2.1. Một số vấn đề cơ bản về tài sản công 2.1.1. Khái niệm tài sản công Tài sản công là những tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm tài nguyên thiên nhiên và tài sản do nhà nước đầu tư, xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước. 2.1.2. Đặc điểm tài sản công TSC có giá trị lớn trong tài sản của mỗi quốc gia; phong phú về chủng loại, đa dạng về nguồn gốc, mục đích sử dụng; tổ chức, cá nhân được giao quản lý, sử dụng TSC không phải là người có quyền sở hữu tài sản. 2.1.3. Phân loại tài sản công 2.1.4. Vai trò của tài sản công trong đời sống kinh tế - xã hội - Tài sản công là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất xã hội. - Tài sản công là nguồn vốn tiềm năng cho đầu tư phát triển. - Tài sản công góp phần duy trì, cải thiện, nâng cao đời sống xã hội. 2.2. Nguồn lực tài chính và nguồn lực tài chính từ tài sản công Trên cơ sở các quan niệm về nguồn lực, nguồn lực tài chính, NCS đưa ra khái niệm về nguồn lực tài chính từ TSC như sau: Nguồn lực tài chính từ tài sản công là tổng hợp các khả năng có thể khai thác được từ tài sản công nhằm tạo lập các quỹ tiền tệ để phát triển kinh tế - xã hội. 2.3. Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công 2.3.1. Khái niệm khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công Khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công là quá trình sử dụng các hình thức, công cụ nhằm thu được giá trị từ tài sản công thông qua các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sở hữu và chủ thể quản lý, sử dụng tài sản công để tạo lập các quỹ tiền tệ cho nhà nước. 2.3.2. Đặc điểm khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công 2.3.3. Vai trò của khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công trong nền kinh tế thị trường - Khai thác nguồn lực tài chính từ TSC là biện pháp bảo đảm nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước. 5 - Khai thác nguồn lực tài chính từ TSC góp phần huy động các nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội. - Khai thác nguồn lực tài chính từ TSC góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng TSC. - Khai thác nguồn lực tài chính từ TSC góp phần phát triển đồng bộ các thị trường và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. 2.3.4. Nguyên tắc khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công - Mỗi TSC đều phải giao cho một chủ thể cụ thể để thực hiện việc khai thác nguồn lực tài chính. - Việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC phải bảo đảm tính khoa học, hợp lý, hiệu quả. - Việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC phải bảo đảm tính công khai, minh bạch, theo cơ chế thị trường. - Mọi hành vi vi phạm phải được phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật. 2.3.5. Hình thức khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công Các hình thức khai thác nguồn lực tài chính từ TSC gồm: Giao quyền sử dụng TSC; cấp quyền khai thác TSC; cho thuê TSC; chuyển nhượng, cho thuê quyền khai thác TSC; sử dụng TSC để góp vốn, liên doanh, liên kết; sử dụng TSC để thanh toán các nghĩa vụ của nhà nước; bán, thanh lý TSC; thuế, phí, lệ phí liên quan đến TSC. 2.3.6. Công cụ khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công Các công cụ khai thác nguồn lực tài chính từ TSC chủ yếu gồm: Định giá, đấu giá, đấu thầu, niêm yết giá, chỉ định, giao kế hoạch và đặt hàng. 2.3.7. Nội dung quá trình khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công - Tạo lập chính sách, pháp luật cho việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC. - Tổ chức thực hiện khai thác nguồn lực tài chính từ TSC. 2.3.8. Tiêu chí đánh giá việc khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công - Nhóm tiêu chí định tính: Tiêu chí hiệu lực; tiêu chí phù hợp; tiêu chí bền vững; tiêu chí mức độ đa dạng các hình thức và công cụ khai thác; tiêu chí sự chuyển dịch mục đích, công năng sử dụng của TSC. - Nhóm tiêu chí định lượng: Tiêu chí hiệu quả; tiêu chí quy mô nguồn thu từ khai thác TSC; tiêu chí mức độ hoàn thành kế hoạch khai thác nguồn lực tài chính từ TSC; tiêu chí tăng trưởng quy mô nguồn tài chính từ TSC. 6 2.3.9. Nhân tố ảnh hưởng tới khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công 2.4. Kinh nghiệm quốc tế về khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công 2.4.1. Kinh nghiệm về khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công của một số quốc gia và vùng lãnh thổ 2.4.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Bài học kinh nghiệm trong khai thác nguồn lực tài chính từ TSC khu vực HCSN, tài sản kết cấu hạ tầng, tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước, đất đai; bài học về mô hình quản lý TSC. 2.5. Kết luận Chương 2 Với mục tiêu nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm quốc tế về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC, Chương 2 đã tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau: Hệ thống hóa các quan niệm về TSC, cách phân loại, đặc điểm, vai trò của TSC trong đời sống kinh tế - xã hội, đưa ra khái niệm về TSC ở Việt Nam để sử dụng trong luận án. Nghiên cứu lý luận về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC; trong đó, trên cơ sở quan niệm về nguồn lực, nguồn lực tài chính đã đưa ra khái niệm về nguồn lực tài chính từ TSC và khai thác nguồn lực tài chính từ TSC; hệ thống hóa đặc điểm, vai trò, nhân tố ảnh hưởng tới khai thác nguồn lực tài chính từ TSC, các hình thức và công cụ khai thác nguồn lực tài chính từ TSC. Đáng chú ý, tác giả đã xây dựng nội dung quá trình khai thác và hệ thống các tiêu chí đánh giá việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC (gồm 5 tiêu chí định tính và 4 tiêu chí định lượng). Các tiêu chí này vừa phản ánh kết quả khai thác nguồn lực tài chính từ TSC vừa phản ánh quá trình thực hiện khai thác gắn với công tác quản lý TSC của Nhà nước. Khái quát kinh nghiệm của một số quốc gia và vùng lãnh thổ về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC khu vực HCSN, tài sản kết cấu hạ tầng, tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước, đất đai và mô hình quản lý TSC. Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm vận dụng cho phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Những nội dung trên là cơ sở để phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra những mặt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam; đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam trong các chương tiếp theo. 7 Chương 3 THỰC TRẠNG KHAI THÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TỪ TÀI SẢN CÔNG Ở VIỆT NAM 3.1. Khái quát bộ máy quản lý tài sản công và trách nhiệm của các cơ quan trong khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công Cơ quan quản lý TSC ở Việt Nam được tổ chức theo mô hình ngang, gồm: Cục QLCS thuộc Bộ Tài chính; Cơ quan QLCS tại các bộ, cơ quan trung ương (thường được giao cho Cục/Vụ/Ban Kế hoạch - Tài chính); Sở Tài chính; Phòng Tài chính - Kế hoạch cấp huyện. Bên cạnh cơ quan quản lý TSC, còn có sự tham gia của nhiều cơ quan, đơn vị khác với những nhiệm vụ cụ thể như: Cơ quan tài nguyên và môi trường, cơ quan xây dựng, cơ quan tư pháp, cơ quan thuế, cơ quan KBNN, cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng TSC.... 3.2. Thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp * Quy mô TSC khu vực HCSN: Tổng giá trị TSC khu vực HCSN trong CSDL quốc gia về TSC là 1.214.630 tỷ đồng; trong đó: quyền sử dụng đất: 774.085 tỷ đồng, nhà: 307.731 tỷ đồng, ô tô: 25.501 tỷ đồng, tài sản khác: 107.313 tỷ đồng. Biểu 3.1. Cơ cấu TSC khu vực HCSN theo số lượng và nguyên giá 8 Bảng 3.1. Quy mô tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp giai đoạn 2009 - 2018 (ĐVT: tỷ đồng) Loại TS Đất Nhà Ô tô TS khác Tổng cộng 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 680. 042 158. 527 14.6 06 21.9 11 687. 883 174. 436 16.1 77 27.6 27 694. 890 194. 693 17.2 72 38.5 32 699. 450 213. 860 19.1 72 44.7 42 707. 132 234. 618 21.2 93 52.6 82 724. 549 256. 876 21.9 85 68.6 07 731. 141 272. 628 22.9 64 76.1 94 737. 779 296. 944 24.1 97 87.4 79 765. 244 303. 541 25.3 83 106. 348 774. 085 307. 731 25.5 01 107. 313 875. 086 906. 123 945. 387 977. 224 1.015 .725 1.072 .017 1.102 .927 1.146 .399 1.200 .516 1.214 .630 Bảng 3.2. Tăng trưởng quy mô tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp giai đoạn 2009 - 2018 (ĐVT: %) Loại TS 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 1. Đất 100,0 101,2 101,0 100,7 101,1 102,5 100,9 100,9 103,7 101,2 Nhà 100,0 110,0 111,6 109,8 109,7 109,5 106,1 108,9 102,2 101,4 Ô tô 100,0 110,8 106,8 111,0 111,1 103,2 104,5 105,4 104,9 100,5 TS khác 100,0 139,5 116,1 117,7 130,2 111,1 114,8 121,6 100,9 Tổng cộng 100,0 104,3 103,4 103,9 105,5 102,9 103,9 104,7 101,2 103,5 Nguồn: CSDL quốc gia về TSC 9 * Tổ chức thực hiện sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước: Tính đến tháng 12/2018, Bộ Tài chính và UBND cấp tỉnh đã phê duyệt phương án xử lý đối với 123.785 cơ sở nhà đất. Số tiền thu được do bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất giai đoạn 2007 - 2018 là 70.000 tỷ đồng, bình quân khoảng 5.833 tỷ đồng/năm. * Tổ chức thực hiện khai thác quỹ nhà, đất của đơn vị sự nghiệp công lập: Theo CSDL quốc gia về TSC, các đơn vị sự nghiệp công lập hiện đang quản lý 308.507 tài sản (chiếm 64% tổng số lượng), với tổng nguyên giá là: 948.560 tỷ đồng (chiếm 75% tổng giá trị). Số tiền thu được từ sử dụng TSC vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết là nguồn thu đáng kể của các đơn vị sự nghiệp, đặc biệt là các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, thể thao, kinh tế... * Tình hình khai thác nguồn thu từ xử lý TSC khu vực HCSN: Tổng số tài sản có giá trị lớn được xử lý theo các hình thức thu hồi, điều chuyển, bán, thanh lý giai đoạn 2009 - 2018 là: 51.263 tài sản, với tổng nguyên giá là: 132.212 tỷ đồng, tổng giá trị còn lại là: 40.545 tỷ đồng. Trong đó, thực hiện bán, thanh lý là: 25.780 tài sản, với tổng nguyên giá là: 82.160 tỷ đồng, tổng giá trị còn lại là: 32.152 tỷ đồng. Số tiền thu được từ bán, thanh lý TSC khu vực HCSN (không tính tiền bán, chuyển nhượng nhà, đất) giai đoạn 2014 - 2018 là 14.193 tỷ đồng, bình quân 1.419,3 tỷ đồng/năm nhưng không ổn định qua các năm (2009: 1.078 tỷ đồng; 2010: 1.246 tỷ đồng; 2011: 1.254 tỷ đồng; 2012: 1.321 tỷ đồng; 2013: 1.456 tỷ đồng; 2014: 1.568 tỷ đồng; 2015: 993 tỷ đồng; 2016: 2.079 tỷ đồng; 2017: 2.085 tỷ đồng; 2018: 1.113 tỷ đồng). 3.3. Thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản kết cấu hạ tầng * Tài sản hạ tầng giao thông đường bộ: Theo kê khai, tài sản hạ tầng đường bộ gồm có 39.962 tuyến đường; trong đó: Trung ương có 173 tuyến; địa phương có 39.789. Tổng số tài sản đã đăng nhập thông tin vào CSDL là 7.344 tài sản, với tổng nguyên giá 1.831 nghìn tỷ đồng, giá trị còn lại 1.767 nghìn tỷ đồng. Tổng chiều dài các tuyến đường đã đăng nhập vào CSDL là 88.725 km/tổng số 309.832 km (đạt 28,6%). Việc khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường bộ do Nhà nước đầu tư, quản lý được giao cho các Cục Đường bộ khu vực, Sở GTVT, UBND cấp huyện quản lý. Nguồn thu từ khai thác tài sản thực hiện thông qua việc thu phí bảo trì đường bộ là chủ yếu. Ngoài ra, năm 2013, Nhà nước thực hiện thí điểm 10 việc bán đấu giá quyền thu phí cho doanh nghiệp, với số tiền thu được là: 2.400 tỷ đồng/5 năm, bình quân 480 tỷ đồng/năm. * Tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia: Mạng lưới đường sắt quốc gia Việt Nam có tổng chiều dài 3.143km, bao gồm 3 loại khổ đường: khổ đường 1.000 mm (85%), khổ đường 1.435 mm (6%), khổ đường lồng 1.000 mm & 1.435 mm (9%). Nguồn thu được từ khai thác tài sản hạ tầng đường sắt hiện nay chủ yếu là tiền cho thuê cơ sở hạ tầng đường sắt và tiền bán tài sản, vật tư thu hồi thuộc kết cấu hạ tầng đường sắt. Bảng 3.4. Tổng hợp số thu từ tài sản hạ tầng đường sắt (ĐVT: tỷ đồng) TT Nội dung 2014 2015 2016 2017 2018 Cộng 1 Tiền cho thuê kết cấu hạ tầng đường sắt 10,021 10,643 17,220 20,517 15,275 73,676 2 Tiền bán tài sản, vật tư thu hồi thuộc kết cấu hạ tầng đường sắt 17,195 18,282 74,777 34,345 54,203 198,802 Tổng cộng 27,216 28,925 91,997 54,862 69,478 272,478 Nguồn: Cục QLCS, KBNN * Tài sản kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa: Cả nước có 45 tuyến đường thủy nội địa quốc gia với tổng chiều dài hơn 7.075km (miền Bắc: 17 tuyến, miền Nam: 18 tuyến, miền Trung: 10 tuyến), 12.539 cột báo hiệu, 18.458 biển báo hiệu và 3.070 phao báo hiệu. Việc khai thác tài sản hạ tầng đường thủy nội địa hiện nay đều do các cơ quan nhà nước thực hiện. Nguồn thu chủ yếu được thực hiện thông qua việc thu phí, lệ phí. * Tài sản kết cấu hạ tầng hàng không: Việt Nam hiện có 22 Cảng hàng không (CHK), sân bay (gồm 03 CHK quốc tế và 19 CHK nội địa) với tổng nguyên giá là 41.410 tỷ đồng. Nguồn thu được từ khai thác tài sản hạ tầng hàng không hiện nay được tổng hợp vào doanh thu của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước theo quy định của pháp luật. Các tài sản hạ tầng hàng không chưa thực hiện giao vốn cho doanh nghiệp chưa phát sinh nguồn thu do đang trong quá trình kiểm kê, xác định giá trị để giao cho Cục Hàng không Việt Nam thuộc Bộ GTVT quản lý. * Tài sản kết cấu hạ tầng cảng biển: Việt Nam hiện có 43 cảng biển (gồm 14 cảng biển loại I và IA, 18 cảng biển loại II và 13 cảng dầu khí ngoài khơi là cảng biển loại III). Tổng số bến cảng là 251 bến cảng với 87.549,6m dài 11 cầu cảng với tổng công suất thiết kế khoảng 500 - 550 triệu tấn/năm. Nguồn thu được từ khai thác tài sản hạ tầng hàng hải hiện nay được tổng hợp vào doanh thu của các doanh nghiệp (đối với các cảng đã thực hiện cổ phần hóa). Các doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước theo quy định của pháp luật. Tiền cho thuê cơ sở hạ tầng bến cảng, cầu cảng phát sinh năm 2016: 0,05 tỷ đồng, năm 2018: 2,526 tỷ đồng. * Tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi: Cả nước có 904 hệ thống các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, cấp nước cho các ngành sản xuất khác có quy mô từ 200 ha trở lên; 6.681 hồ chứa thủy lợi; 10.076 đập dâng; 13.347 trạm bơm; 254.815 km kênh mương; khoảng 5.500 cống tưới, tiêu lớn… Việc khai thác nguồn thu hiện nay chủ yếu là thủy lợi phí. 3.4. Thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước Giai đoạn 2011-2013: Theo báo cáo của 58 địa phương, tổng giá trị tài sản đã được xác lập quyền sở hữu của nhà nước là 2.315,41 tỷ đồng; số tiền thu được từ việc bán tài sản đã nộp vào NSNN: 1.301.58 tỷ đồng, bình quân: 433,86 tỷ đồng/năm. Theo báo cáo của 35 Bộ, ngành trung ương, tổng giá trị tài sản đã được xác lập quyền sở hữu của nhà nước là 103,68 tỷ đồng; số tiền nộp NSNN từ việc bán tài sản: 62,24 tỷ đồng, bình quân: 20,75 tỷ đồng/năm. Giai đoạn 2014 - 2018 xem Bảng 3.6. Bảng 3.6. Nguồn thu từ tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước Đơn vị tính: tỷ đồng TT Nội dung thu 1 Tài sản tịch thu lĩnh vực hải quan 2 Tài sản tịch thu lĩnh vực thuế 3 4 2014 2015 2016 2017 2018 96,485 106,483 92,509 47,754 30,202 - - 0,023 1,227 7,208 Tài sản tịch thu theo quyết định của Tòa án, cơ quan thi hành án 161,163 192,267 237,838 130,264 161,960 Tài sản tịch thu khác 284,664 289,260 279,835 364,101 424,002 542,312 588,010 610,205 543,346 623,372 Tổng cộng Nguồn: Cục QLCS, KBNN 3.5. Thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai Tính đến ngày 31/12/2015, tổng diện tích các loại đất của cả nước là 33.129 nghìn ha; trong đó, nhóm đất nông nghiệp là 26.792 nghìn ha (chiếm 80,87%), nhóm đất phi nông nghiệp là 4.049 nghìn ha (chiếm 12,22%), đất chưa sử dụng là 2.288 nghìn ha (chiếm 6,91%). 12 Bảng 3.8. Kết quả thu ngân sách nhà nước từ đất đai giai đoạn 2009 - 2018 Đơn vị tính: tỷ đồng T T Chỉ tiêu 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 Thuế sử dụng đất nông nghiệp Thuế nhà, đất/Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Thuế chuyển quyền sử dụng đất 67 56 72 69 69 61 58 62 63 64 1.20 3 1.36 1 1.5 91 1.1 93 1.4 47 1.4 63 1.4 79 1.4 92 1.5 16 1.5 56 260 35 9 5 5 7 - - - - 4 Lệ phí trước bạ (*) 9.67 0 12.6 11 8.2 45 15. 435 16. 320 16. 560 16. 884 Tiền thuê đất 2.62 6 2.88 9 7.9 37 13. 690 23. 352 26. 668 32. 098 6 Tiền sử dụng đất 37.6 95 49.3 68 44. 202 68. 069 99.6 17 123. 165 146. 616 7 Bán nhà thuộc sở hữu nhà nước 1.89 3 2.19 6 4.8 08 51. 82 4 2.4 01 13. 59 5 6.4 67 45. 35 7 1.0 37 16. 090 5 11. 81 6 6.1 40 45. 16 7 1.7 37 1.9 54 1.1 26 1.0 15 998 965 TỔNG CỘNG 53.4 14 67.7 67 68. 950 66. 127 67. 977 71. 714 99.8 57 141. 858 168. 970 198. 183 1 2 3 Bảng 3.9. Cơ cấu thu từ đất đai trong tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2009-2018 T T 1 2 3 Chỉ tiêu Tổng thu NSNN (tỷ đồng) Tổng thu về đất (tỷ đồng) Tỷ trọng 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 454. 786 604. 570 704. 267 752. 429 851.3 00 898. 741 996.8 70 1.244. 503 1.329 .129 1.422 .700 53.4 14 11,7 4% 67.7 67 11,2 1% 68. 950 9,8 0% 66. 127 8,7 9% 67.97 7 7,99 % 71. 714 7,9 8% 99.85 7 10,02 % 141.8 58 11.40 % 168. 970 12.7 1% 198.1 83 13,93 % Nguồn: Tổng cục Thuế, Tổng cục Thống kê, Báo cáo quyết toán NSNN 13 3.6. Đánh giá thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam 3.6.1. Những kết quả đạt được - Đã từng bước tạo lập hệ thống chính sách, pháp luật và cơ chế thực thi chính sách, pháp luật về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC. Khai thác nguồn lực tài chính từ TSC được đặt trong tổng thể công tác quản lý TSC và xây dựng thể chế kinh tế thị trường. - Khai thác nguồn lực tài chính từ TSC hướng tới việc bảo đảm tính bền vững, lâu dài. - Các hình thức, công cụ khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ngày càng đa dạng, phù hợp với thông lệ quốc tế. - Mục đích, công năng sử dụng TSC được chuyển dịch theo hướng tích cực. - Kết quả và hiệu quả khai thác nguồn lực tài chính từ TSC được nâng lên một bước quan trọng. 3.6.2. Những hạn chế 3.6.2.1. Hệ thống chính sách, pháp luật về khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công còn phân tán, chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ Luật Quản lý, sử dụng TSC năm 2017 đã giải quyết một phần tình trạng phân tán, chồng chéo trong hệ thống pháp luật về TSC. Tuy nhiên, tình trạng phân tán vẫn chưa được khắc phục một cách triệt để do Luật Quản lý, sử dụng TSC không thay thế, bãi bỏ các quy định về khai thác nguồn lực tài chính ở các văn bản hiện hành. Điều này dẫn đến có những nội dung chồng chéo giữa các luật. Một số loại tài sản hoặc lĩnh vực còn thiếu các quy định điều chỉnh làm cơ sở để tổ chức thực hiện việc khai thác nguồn lực tài chính. 3.6.2.2. Tổ chức khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công manh mún, thiếu chuyên nghiệp Đối với tất cả các loại TSC hiện nay, việc giao, cho thuê, bán, thanh lý tài sản hầu hết do cơ quan, đơn vị có tài sản hoặc cơ quan được nhà nước giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức thực hiện. Do việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC bao gồm nhiều công đoạn với những yêu cầu về chuyên môn khác nhau, trong khi các đơn vị trực tiếp sử dụng TSC không có đủ nhân lực với chuyên môn phù hợp nên tính chuyên nghiệp trong khai thác nguồn lực tài chính từ TSC thấp. 14 3.6.2.3. Công tác tổ chức khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công còn nhiều vi phạm, gây thất thoát, lãng phí Những vi phạm chủ yếu bao gồm: Các công ty quản lý, kinh doanh nhà của địa phương cho thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước với giá rẻ, sau đó các đơn vị được thuê lại cho đơn vị khác thuê lại với giá cao hơn rất nhiều; sử dụng công cụ khi cho thuê, bán, chuyển nhượng, thanh lý không đúng quy định; xác định giá TSC để bán, chuyển nhượng, thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án BT thấp hơn giá thị trường... Các vi phạm này gây thất thoát, lãng phí nguồn lực tài chính từ TSC. 3.6.2.4. Chưa khai thác hết tiềm năng tài chính từ tài sản công phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Quỹ nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước do các cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng có số lượng và giá trị rất lớn (chiếm 86,87% về số lượng, 91,82% về nguyên giá) nhưng việc sử dụng còn phân tán, lãng phí, hiệu suất thấp và chưa được khai thác một cách có hiệu quả. Quỹ đất chưa sử dụng còn khá lớn (2.288 nghìn ha) và việc đưa vào sử dụng trong thời gian qua chưa đạt được chỉ tiêu được Quốc hội duyệt (bình quân đạt 91,66%). Diện tích đất đã được Nhà nước giao, cho thuê, cho phép chuyển mục đích nhưng chưa thực hiện vẫn còn nhiều (109.164 ha). 3.6.2.5. Tính bền vững trong khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công chưa cao, hạn chế khả năng khai thác ổn định lâu dài Đối với nguồn thu từ đất, tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN từ đất đai (năm 2010: 73%, năm 2015: 68%, năm 2018: 74%). Đây là khoản thu một lần và Nhà nước phải chi trả một khoản tiền lớn để thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trước khi giao cho nhà đầu tư. Khoản thu từ tiền thuê đất, thuế sử dụng đất (những khoản thu có tính chất bền vững, lâu dài) mặc dù đã có sự tăng trưởng nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu NSNN từ đất đai (năm 2010: 6,35%, năm 2015: 15,25%, năm 2018: 17,01%). 3.6.2.6. Một số hình thức khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công thiếu các điều kiện bảo đảm để phát huy hiệu quả Hình thức BT đã được áp dụng tại Việt Nam từ năm 1998 nhưng đến tháng 7/2019 vẫn chưa có quy định nào về việc xác định giá trị quỹ đất làm cơ sở để xác định nguyên tắc ngang giá khi giao hợp đồng. Công tác định giá TSC để thanh toán cho nhà đầu tư còn nhiều bất cập. Quy định về 15 việc thanh toán cho nhà đầu tư còn chưa hợp lý và chưa ràng buộc trách nhiệm của nhà đầu tư đối với tiến độ thực hiện dự án BT. Quỹ phát triển đất không có nguồn để duy trì, phát triển hoạt động ứng vốn. 3.6.2.7. Việc sử dụng công cụ khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công còn mang tính hành chính Đối với các trường hợp bán, thanh lý TSC khu vực HCSN (trừ nhà, đất), tài sản được xác lập quyền sở thuộc về nhà nước, giá bán tài sản đều do Thủ trưởng đơn vị quyết định. Các thành viên chủ chốt của Hội đồng xác định giá không có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực này, dẫn đến cảm tính, áp đặt ý chí chủ quan trong việc định giá. Việc giao đất, cho thuê đất phần lớn vẫn theo hình thức chỉ định, chưa thực hiện triệt để theo cơ chế đấu giá. Việc công khai thông tin về đấu giá còn nhiều hạn chế. Phương thức đấu giá vẫn chủ yếu là đấu giá bằng lời nói hoặc bỏ phiếu kín. 3.6.3. Nguyên nhân của những hạn chế 3.6.3.1. Nguyên nhân khách quan Thứ nhất, trình độ của nền kinh tế nước ta còn thấp, việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường chậm. Qua hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Tuy nhiên, thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển. Thứ hai, một số hình thức khai thác và điều kiện bảo đảm việc khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công mới được ban hành, chưa phát huy kết quả trong thực tế. 3.6.3.2. Nguyên nhân chủ quan Thứ nhất, mô hình quản lý tài sản công còn phân tán, chưa rõ trách nhiệm, chủ thể quản lý chưa rõ ràng. Nhiều cơ quan, đơn vị cùng thực hiện những nhiệm vụ như nhau dẫn đến tốn kém về nhân lực, thời gian, kinh phí, tính chuyên nghiệp trong quản lý tài sản thấp, khả năng điều hòa tài sản giữa nơi thừa, nơi thiếu của cơ quan quản lý nhà nước khó thực hiện. Thứ hai, chưa tổng hợp được đầy đủ tài sản công, làm cơ sở xây dựng kế hoạch, tổ chức khai thác và đánh giá hiệu quả khai thác nguồn lực tài chính từ TSC. Tổng giá trị TSC theo dõi trong CSDL mới bằng khoảng 98% GDP và bằng khoảng 20% so với quy mô TSC theo thông lệ quốc tế. Thứ ba, thiếu một kế hoạch tổng thể về quản lý, khai thác nguồn lực tài chính từ TSC của cả nước và từng bộ, ngành, địa phương. 16 Thứ tư, cơ chế đấu giá TSC còn nhiều bất cập. Luật Đất đai có nhiều quy định làm cản trở việc đưa đất vào đấu giá; hình thức đấu giá chậm đổi mới; việc thực thi trách nhiệm của người có tài sản đấu giá chưa nghiêm. Thứ năm, nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ quản lý TSC còn mỏng, năng lực thực hiện nhiệm vụ còn hạn chế, đặc biệt là tại cấp huyện, cấp xã và cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng TSC. Thứ sáu, thiếu chế tài đủ mạnh, xử lý một cách triệt để, kiên quyết đối với các trường hợp sử dụng lãng phí, để thất thoát TSC hoặc không thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước. Thứ bảy, công tác đánh giá, kiểm tra, thanh tra, giám sát việc quản lý, sử dụng TSC chưa được thường xuyên, liên tục, đầy đủ, kịp thời. 3.6. Kết luận Chương 3 Với mục tiêu phân tích, đánh giá thực trạng khai thác nguồn lực tài chính từ TSC thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án, Chương 3 đã tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản gồm: Khái quát bộ máy quản lý TSC và trách nhiệm của các cơ quan trong khai thác TSC; khái quát các quy định của pháp luật Việt Nam về khai thác nguồn lực tài chính từ TSC và tình hình TSC và khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam thời gian vừa qua, tập trung vào giai đoạn 2009-2018; phân tích, đánh giá những mặt đã đạt được, những hạn chế trong khai thác nguồn lực tài chính từ TSC; làm rõ nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan của những hạn chế trong khai thác nguồn lực tài chính từ TSC, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Đây là cơ sở để xây dựng các hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ TSC ở Việt Nam đến năm 2025 ở chương tiếp theo. Chương 4 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHAI THÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TỪ TÀI SẢN CÔNG Ở VIỆT NAM 4.1. Dự báo, quan điểm khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam 4.1.1. Dự báo khả năng khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2035 4.1.1.1. Dự báo khả năng khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai thông qua giao đất, cho thuê đất 17 Bảng 4.2. Dự tính số thu cho NSNN từ khai thác đất ở T T Thời kỳ Diện tích đất ở tăng thêm (m2) DT thu tiền sử dụng đất (= 40% DT tăng thêm) (m2) 1 2020 56.000.000 18.400.000 2 2021 - 2025 230.000.000 92.000.000 Cộng 286.000.000 110.400.000 Giá đất ở trung bình (đồng/m2) Thu tiền sử dụng đất ước tính (tỷ đồng) 138.000 7.500.000 690.000 7.500.000 828.000 Nguồn: Bộ TN&MT, tính toán của tác giả Bảng 4.3. Dự tính số thu NSNN từ đất SXKD phi nông nghiệp T T Thời kỳ 1 2019-2020 2 Diện tích đất SXKD phi nông nghiệp tăng thêm (m2) 462.000.000 DT thu tiền thuê đất (được tính bằng 45% tổng DT tăng thêm) (m2) Giá đất đất SXKD phi nông nghiệp trung bình (đồng/m2) Tỷ lệ đơn giá thuê đất bình quân 4.500.000 1,0% 207.900.000 2021-2025 2.310.000.000 1.039.500.000 Tổng cộng: 2.772.000.000 1.247.400.000 Tiền thuê đất ước tính (tỷ đồng) 9.356 46.778 4.500.000 1,0% 56.134 Nguồn: Bộ TN&MT, tính toán của tác giả 4.1.1.2. Dự báo khả năng khai thác nguồn lực tài chính từ một số loại tài sản công khác Nguồn thu từ sắp xếp lại, xử lý nhà, đất và bán, chuyển nhượng, thanh lý các tài sản khác (ngoài nhà, đất) khu vực HCSN: Bình quân 7.800 tỷ đồng/năm. Nguồn thu từ bán, chuyển nhượng, thanh lý tài sản được xác lập quyền sở hữu thuộc về nhà nước: Bình quân 600 tỷ đồng/năm. Nguồn thu từ chuyển nhượng quyền thu phí, cho thuê quyền khai thác và chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng: Bình quân 2.000 tỷ đồng/năm. 4.1.2. Quan điểm về khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công - Nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lực tài chính từ TSC là yêu cầu cấp bách trong tình hình hiện nay để khắc phục những hạn chế, yếu kém của nền kinh tế, đồng thời thúc đẩy phát triển KT-XH của đất nước. 18 - Việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC phải được đặt trong tổng thể công tác quản lý TSC và trong mối tương quan với việc duy trì, phát triển TSC để bảo đảm vai trò cơ sở vật chất của nền kinh tế, bảo đảm lợi ích trước mắt cũng như lâu dài. - Khai thác nguồn lực tài chính từ TSC phải kiên trì nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả và phát triển bền vững. - Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, đánh giá, giám sát, kiểm tra đối với việc khai thác nguồn lực tài chính từ TSC, không để xảy ra thất thoát, lãng phí, cạn kiệt nguồn lực TSC. 4.2. Giải pháp tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công ở Việt Nam 4.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công - Hoàn thành việc ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công. - Nghiên cứu định hướng sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý, sử dụng TSC theo hướng xây dựng thành Bộ luật, trình Quốc hội thông qua năm 2026. - Cụ thể hóa chế độ quản lý, khai thác nguồn lực tài chính đối với từng loại tài sản kết cấu hạ tầng. - Sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 để nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, trình Quốc hội năm 2021. 4.2.2. Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công * Hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng TSC - Tổ chức lập Kế hoạch quản lý, sử dụng TSC. Kế hoạch quản lý, sử dụng TSC được lập trong thời hạn 5 năm cùng với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch tài chính 5 năm. Kế hoạch quản lý, sử dụng TSC được lập ở cấp quốc gia và cấp địa phương. - Hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo hướng: Quy hoạch sử dụng đất phải thể hiện được những nội dung cụ thể như mô tả được thực trạng các nguồn lực đất đai trong cả nước một cách chính xác; thể hiện được dự báo sự biến động về diện tích đất đai và biến động về nhu cầu sử dụng đất đai trên cả nước; quy hoạch phải bảo đảm tầm nhìn ít nhất là 30 năm. 19 * Hoàn thiện các hình thức khai thác nguồn lực tài chính từ TSC - Thu hẹp các trường hợp người sử dụng đất được phép chuyển mục đích sử dụng đất. Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng vào mục đích nào thì chỉ được sử dụng vào mục đích đó. Khi không còn nhu cầu sử dụng vào mục đích đã được xác định thì phải trả lại đất cho Nhà nước. Trường hợp việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất là bắt buộc theo yêu cầu từ phía Nhà nước thì người đang sử dụng đất được Nhà nước hỗ trợ di dời, tạo lập địa điểm SXKD mới nếu có nhu cầu hoặc được Nhà nước bồi thường các thiệt hại do việc thu hồi đất đem lại. Các cơ sở nhà, đất cũ sẽ được đấu giá để giao đất hoặc cho thuê đất theo mục đích sử dụng mới trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Bãi bỏ hình thức sử dụng TSC để thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án BT. Các dự án đang thực hiện dở dang được rà soát để thanh toán theo các quy định của pháp luật có liên quan. - Thu hẹp hình thức cho thuê đất trả tiền một lần khi sử dụng đất vào mục đích SXKD. Hình thức này chỉ duy trì với các cơ sở xã hội hóa hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận để bảo đảm sự cam kết lâu dài của các nhà đầu tư vào lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích. * Hoàn thiện các công cụ khai thác nguồn lực tài chính từ TSC - Hoàn thiện các quy định và nâng cao năng lực định giá TSC. Bỏ khung giá đất. Quy định chi tiết hơn các loại giá tại Bảng giá đất. Thí điểm xây dựng bản đồ giá đất và định giá đất, xây dựng vùng giá trị đất phục vụ công tác định giá đất. Hoàn thiện các phương pháp xác định giá đất. Xây dựng và vận hành CSDL về giá, làm cơ sở cho việc lựa chọn mẫu khi xác định giá tài sản, đối chiếu kết quả định giá. Nâng cao năng lực của đội ngũ thẩm định viên về giá, phân hạng các doanh nghiệp thẩm định giá. - Nâng cao hiệu quả đấu giá TSC. Bổ sung quy định cho phép áp dụng đấu giá quyền sử dụng đất đối với đất chưa thực hiện giải phóng mặt bằng. Bãi bỏ quy định không phải đấu giá đối với các trường hợp được miễn tiền thuê đất cho một số năm. Thực hiện nghiêm quy định về việc niêm yết và thông báo công khai việc đấu giá tài sản. * Xây dựng, vận hành Hệ thống giao dịch điện tử về TSC Hệ thống giao dịch điện tử về TSC là hệ thống công nghệ thông tin do 20
- Xem thêm -