Tài liệu Khách thể của tội phạm với tư cách là một yếu tố cấu thành tội phạm trong luật hình sự việt nam luận văn ths. luật

  • Số trang: 96 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 97 |
  • Lượt tải: 1
tailieuonline

Đã đăng 39801 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT CHU THỊ LAM GIANG KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT YẾU TỐ CẤU THÀNH TỘI PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2012 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT CHU THỊ LAM GIANG KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT YẾU TỐ CẤU THÀNH TỘI PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Chuyên ngành : Luật hình sự Mã số : 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Tiến Việt HÀ NỘI - 2012 2 MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ 1.1. MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM 9 Khái niệm, các dấu hiệu và phân loại khách thể của tội phạm 9 1.1.1. Khái niệm khách thể của tội phạm 9 1.1.2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm 13 1.1.3. Phân loại khách thể của tội phạm 16 1.2. 19 Các đặc điểm và ý nghĩa pháp lý hình sự của khách thể của tội phạm 1.2.1. Các đặc điểm của khách thể của tội phạm 19 1.2.2. Ý nghĩa pháp lý hình sự của khách thể của tội phạm 21 1.3. 23 Khách thể của tội phạm theo pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới 1.3.1. Theo pháp luật hình sự Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 23 1.3.2. Theo pháp luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 25 1.3.3. Theo pháp luật hình sự Liên bang Nga 26 1.3.4. Theo pháp luật hình sự Vương quốc Thụy Điển 28 Chương 2: YẾU TỐ KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM THEO PHÁP 30 LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 2.1. Sự thể hiện yếu tố khách thể của tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam 3 30 2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1985 30 2.1.2. Giai đoạn từ năm 1985 đến nay 34 2.2. Thực tiễn áp dụng yếu tố khách thể của tội phạm trong giải quyết các vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay 46 2.2.1. Tình hình giải quyết các vụ án hình sự theo yếu tố khách thể của tội phạm 46 2.2.2. Những hạn chế, vướng mắc liên quan đến việc vận dụng yếu tố khách thể của tội phạm trong giải quyết vụ án hình sự 49 2.2.3. Nguyên nhân hạn chế, vướng mắc trong việc áp dụng yếu tố khách thể của tội phạm 62 Chương 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 66 VIỆT NAM VỀ YẾU TỐ KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH NÀY 3.1. Hoàn thi ện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về yếu tố khách thể của tội phạm 66 3.1.1. Sự cần thiết và yêu cầu hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về yếu tố khách thể của tội phạm 66 3.1.2. Giải pháp hoàn thi ện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về yếu tố khách thể của tội phạm 70 3.2. Các gi ải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về yếu tố khách thể của tội phạm 76 3.2.1. Hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy đ ịnh của pháp luật hình sự Việt Nam về yếu tố khách thể của tội phạm 76 3.2.2. Các gi ải pháp khác nh ằm nâng cao chất lượng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về yếu tố khách thể của tội phạm 79 KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 4 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLHS : Bộ luật hình sự CTTP : Cấu thành tội phạm 5 DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng Tên bảng Trang 2.1 Các khách thể được bảo vệ tương ứng với loại tội phạm trong BLHS năm 1985 35 2.2 Các khách thể được bảo vệ tương ứng với loại tội phạm trong BLHS năm 1999 41 2.3 Bảng tổng hợp số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ năm 2000 đến 2011 của Tòa án nhân dân các cấp 47 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Số hiệu biểu đồ Tên biểu đồ Trang 2.1 Tỷ lệ vụ án theo loại khách thể bị xâm hại từ năm 2000 đến năm 2011 47 2.2 Số vụ xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự con người đã xét xử sơ thẩm từ năm 2000 đến năm 2011 của Toà án nhân dân các cấp 48 2.3 Số vụ án hình sự các tội phạm v ề ma túy đã xét xử sơ thẩm năm 2000 đến năm 2011 của Toà án nhân dân các cấp 49 6 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống, tạo ra môi trường xã hội ổn định phục vụ công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân, giữ vững kỉ cương pháp luật, sự nghiêm minh của pháp chế xã hội chủ nghĩa… là nhiệm vụ và mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Những mục tiêu trên được cụ thể hóa thông qua Nghị quyết 09/NQ-CP về Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm và Chỉ thị số 37/2004/CT-TTg "Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 09/NQ-CP về Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm của Chính phủ từ nay đến năm 2010" ngày 08/11/2004. Ngày 06/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1217/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2012-2015. Theo đó, mục tiêu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý nhà nước với công tác phòng, chống tội phạm; giữ vững kỷ cương pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ, tôn trọng pháp luật của các cấp, các ngành và trong cộng đồng dân cư, trong các cơ quan, đơn vị doanh nghiệp, nhà trường, gia đình và toàn xã hội; chủ động phòng ngừa, tích cực tấn công trấn áp, truy quét các loại tội phạm, tập trung ở các tuyến, địa bàn, lĩnh vực trọng điểm, phức tạp; kiềm chế và làm giảm sự gia tăng của tội phạm, nhất là tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, tội phạm mới, tạo môi trường lành mạnh, phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1236/QĐ-TTg ngày 10/9/2012 về việc "Phê duyệt Kế hoạch tổng kết thi hành Bộ luật hình sự năm 1999". Theo đó, việc tổng kết này nhằm đánh giá một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ thực tiễn 11 năm thi hành Bộ luật hình sự (BLHS) 7 năm 1999, từ đó đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung BLHS, góp phần đáp ứng yêu cầu mới của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm ổn định lâu dài, thúc đẩy phát triển của đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, không chỉ gia tăng về số vụ, số người phạm tội mà tính chất và mức độ của tội phạm cũng nhiều thay đổi, đặc biệt là nhiều tội phạm xâm phạm đến những quan hệ xã hội được BLHS xác lập và bảo vệ trong nhiều trường hợp mang tính đa dạng, phức tạp và khó xác định dẫn đến việc định tội danh và quyết định hình phạt còn gặp khó khăn, vướng mắc, chưa đúng pháp luật, dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan, sai người vô tội. Để phân biệt những quan hệ xã hội được BLHS xác lập và bảo vệ, bị tội phạm xâm hại; sự thể hiện những quan hệ xã hội ấy trong BLHS như thế nào và những nguyên nhân của việc áp dụng chưa đúng trong thực tiễn định tội danh đối với yếu tố khách thể của tội phạm ra sao, cần những giải pháp góp phần hoàn thiện chúng… thì việc nghiên cứu đề tài liên quan đến yếu tố khách thể của tội phạm có ý nghĩa lý luận thực tiễn và quan trọng. Bởi lẽ, khách thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành của tội phạm. Khách thể của tội phạm bao giờ cũng là một hoặc nhiều quan hệ xã hội được Nhà nước xác định bảo vệ bằng pháp luật hình sự. Dựa vào khách thể của tội phạm, chúng ta xác định được hành vi nguy hiểm cho xã hội do con người thực hiện có phải là tội phạm hay không ? Khách thể của tội phạm cũng là một trong những cơ sở không thể thiếu để xác định tính nguy hiểm của tội phạm đó, góp phần vào quá trình cải cách tư pháp thắng lợi và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Mặc dù còn tồn tại những thiếu sót về mặt lập pháp cũng như khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn vận dụng, nhưng về phương diện lý luận, có thể nói rằng yếu tố khách thể của tội phạm vẫn chưa được quan tâm, nghiên cứu một cách đúng mức, đầy đủ để tìm ra giải pháp khắc phục toàn diện 8 những vấn đề đó. Cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện ở cấp độ một cuốn sách chuyên khảo, một luận văn thạc sĩ hay một luận án tiến sĩ về đề tài này. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam hiện nay, khách thể của tội phạm mới chỉ được nghiên cứu chung trong cấu thành tội phạm (CTTP) với tư cách là một yếu tố của CTTP. * Dưới góc độ sách chuyên khảo, có thể kể đến các công trình khoa học tiêu biểu sau: 1) "Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)", của GS.TSKH Lê Văn Cảm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; 2) "Cấu thành tội phạm: Lý luận và thực tiễn", Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2004; và 3) "Tội phạm và cấu thành tội phạm", Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2006, 2008, của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa. * Dưới góc độ giáo trình, sách tham khảo, nội dung này được đề cập như là một chương trong các giáo trình của các cơ sở đào tạo luật ở nước ta hiện nay như: 1) "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)", của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, do GS. TSKH. Lê Cảm chủ biên; 2) "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)", của Đại học Cần Thơ xuất bản năm 2003, do TS. Phạm Văn Beo chủ biên; 3) "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Tập I)", của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, do GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên; 4) "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)", của Khoa Luật, Đại học Huế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005, do GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên; v.v... Tuy nhiên, do không phải là nghiên cứu chuyên sâu về khách thể của tội phạm trong các giáo trình, sách tham khảo này thường chỉ khái quát một cách tóm lược lý luận về khách thể của tội phạm và chủ yếu tập trung phân tích nội dung yếu tố này qua các quy định của BLHS. * Dưới góc độ thực tiễn, khách thể của tội phạm cũng được nghiên cứu với tư cách là một trong các căn cứ định tội danh, nội dung được phản ánh 9 trong một số công trình như: 1) "Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 500 bài thực hành", của GS.TSKH. Lê Cảm và TS. Trịnh Quốc Toản, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010; hoặc: "Giáo trình Lý luận chung về định tội danh", của GS.TS. Võ Khánh Vinh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2011. Tuy nhiên, các sách này chỉ đánh giá vai trò của khách thể của tội phạm trong hoạt động định tội danh và thông qua những bài tập tình huống cụ thể để học viên rèn luyện kỹ năng định tội danh. * Dưới góc độ các bài báo khoa học, khách thể của tội phạm còn được đề cập đến trong một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật như: 1) "Những vấn đề lý luận về bốn yếu tố cấu thành tội phạm (trên cơ sở những nội dung của Bộ luật hình sự năm 1999)", của GS.TSKH. Lê Cảm, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7, 8/2005; 2) "Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu", của TS. Nguyễn Ngọc Chí, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8/1997; 3) "Bàn về mối quan hệ giữa cấu thành tội phạm và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự" của TS. Trịnh Tiến Việt, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên san Kinh tế - Luật, số 1/2005; v.v... * Dưới góc độ luận án, luận văn thạc sĩ luật học, cho đến nay, mới có một số luận văn thạc sĩ đi sâu vào yếu tố mặt chủ quan của tội phạm (Nguyễn Thị Nhuần, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010), mặt khách quan của tội phạm (Nguyễn Mai Phương, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011) hoặc chủ thể của tội phạm (Lê Đăng Doanh, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2005). Các luận văn này chỉ dừng lại ở cấp độ một phần như là các bài viết về khách thể của tội phạm hoặc đề cập đến với tư cách là nội dung liên quan đến luận văn . Có thể nói rằng cho đến nay chưa có luận văn thạc sĩ nào đề cập đến đúng tên gọi yếu tố này - khách thể của tội phạm. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: "Khách thể của tội phạm với tư cách là một yếu tố cấu thành tội phạm trong luật hình sự Việt Nam" để làm luận văn thạc sĩ của mình . 10 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến yếu tố khách thể của tội phạm, trên cơ sở đó tìm ra giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về khách thể của tội phạm và nâng cao hiệu quả áp dụng chúng. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Để đạt được cách mục đích trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ sau đây: 1) Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về khách thể của tội phạm như: xây dựng khái niệm khoa học về khách thể của tội phạm, xác định các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm, phân loại các khách thể của tội phạm, tìm ra các đặc điểm cơ bản của khách thể của tội phạm, phân tích ý nghĩa pháp lý hình sự của yếu tố này; nghiên cứu tham chiếu quy định về khách thể của tội phạm trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới. 2) Phân tích quá trình hình thành, phát triển và nội dung quy định về yếu tố khách thể của tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay. 3) Phân tích tình hình đánh giá yếu tố khách thể của tội phạm trong giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam theo BLHS năm 1999; đánh giá tình hình và chỉ ra những hạn chế, vướng mắc trong đánh giá yếu tố khách thể và nguyên nhân của chúng. 4) Từ kết quả nghiên cứu trên, đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định về khách thể của tội phạm trong pháp luật hình sự nước ta, hướng dẫn áp dụng những quy định này trong thực tiễn cũng như kiến nghị một số giải pháp khác nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của chúng. 4. Phạm vi nghiên cứu đề tài Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào những vấn đề sau: 11 4.1. Về nội dung Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về khách thể của phạm; phân tích quá trình phát triển và nội dung quy định liên quan đến khách thể của tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam cũng như đánh giá tình hình thực tiễn áp dụng yếu tố này trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự ở nước ta, làm rõ những nguyên nhân của tình hình đó. Trên cơ sở những nghiên cứu này, đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định về khách thể của tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định này. 4.2. Về thời gian và không gian Đối với các quy định pháp luật Việt Nam về khách thể của tội phạm, luận văn giới hạn nghiên cứu trong khoảng từ năm 1945 đến nay. Đối với thực tiễn áp dụng những quy định này, luận văn tổng hợp và đánh giá số liệu xét xử trên toàn quốc trong thời gian từ khi BLHS năm 1999 có hiệu lực thi hành (năm 2000) đến nay. 5. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu đề tài 5.1. Cơ sở lý luận Để đạt được những mục đích đã đặt ra trên cơ sở lý luận là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, về tội phạm và hình phạt; những thành tựu của các ngành khoa học như: Triết học, Luật hình sự, Tội phạm học... 5.2. Các phương pháp nghiên cứu Trong luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tài liệu, phương pháp tổng hợp, đồng thời ứng dụng những thành tựu của khoa học luật hình sự, tố tụng hình 12 sự, tội phạm học, xã hội học pháp luật; v.v... trong các công trình của các nhà khoa học-luật gia ở trong và ngoài nước. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng trung thực các số liệu thống kê của các cơ quan áp dụng pháp luật, các sách tham khảo, tạp chí chuyên ngành để làm rõ những tri thức khoa học liên quan đến đề tài. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về khách thể của tội phạm như: xây dựng khái niệm khoa học về khách thể của tội phạm, xác định các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm, phân loại các khách thể của tội phạm, tìm ra các đặc điểm cơ bản của khách thể của tội phạm, phân tích ý nghĩa pháp lý hình sự của yếu tố này; nghiên cứu,so sánh với quy định về khách thể của tội phạm trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới. Ngoài ra, trên cơ sở phân tích tình hình vận dụng yếu tố khách thể của tội phạm trong giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam theo BLHS năm 1999; đánh giá tình hình và chỉ ra những hạn chế, vướng mắc trong áp dụng yếu tố khách thể và nguyên nhân của chúng, luận văn còn đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự liên quan đến yếu tố khách thể của tội phạm. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Luận văn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo và có thể sử dụng để nghiên cứu, học tập. Những đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS Việt Nam liên quan đến yếu tố khách thể của tội phạm, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền, lợi í ch của Nhà nước và quyền , lợi í ch hợp pháp của cá nhân, tổ chức. 13 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về khách thể của tội phạm Chương 2: Yếu tố khách thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng. Chương 3: Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về yếu tố khách thể của tội phạm và những số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này. 14 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM 1.1. KHÁI NIỆM, CÁC DẤU HIỆU VÀ PHÂN LOẠI KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM 1.1.1. Khái niệm khách thể của tội phạm Trong khoa học pháp lý ở nước ta, khách thể của tội phạm thường được đặt lên hàng đầu trong bốn yếu tố CTTP. Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) định nghĩa khách thể của tội phạm và ý nghĩ a của nó trong mô tả về "Yếu tố cấu thành tội phạm" như sau: Những yếu tố pháp lý đặc trưng của những tội phạm cụ thể được quy định trong Luật hình sự. Tổng hợp các yếu tố ấy là cấu thành tội phạm. Mặc dù mỗi tội phạm có thể khác nhau về tính chất và mức độ thể hiện, nhưng trong tất cả các tội phạm có thể rút ra được bốn yếu tố cấu thành chung nhất mà bất kỳ một tội phạm nào cũng phải có, đó là: khách thể của tội phạm; mặt khách quan của tội phạm; mặt chủ quan của tội phạm; chủ thể của tội phạm. Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại. Nếu quan hệ xã hội không bị xâm hại thì không có hành vi nguy hiểm cho xã hội và tất yếu không có tội phạm. Do đó, khi đề cập đến tội phạm thì trước tiên cần phải xác định quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ bị xâm hại... [60, tr. 581]. Tuy nhiên, quan điểm lý luận về các yếu tố CTTP và khách thể của tội phạm như trên thường chỉ xuất hiện ở các nước có nền pháp luật thuộc kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa. Theo tác giả Nelu Dorinel Popa (Tiến sĩ luật, sĩ quan cảnh sát thuộc Bộ Hành chính và Nội vụ Rumani): 15 Vào giữa thế kỷ XX, học thuyết xã hội chủ nghĩa và những lý thuyết của chủ nghĩa duy vật được đề cao trong luật hình sự Xô viết đã ảnh hưởng đến khoa học hình sự Rumani. Do xuất phát từ quan điểm duy vật về tội phạm, yếu tố khách thể bị xâm hại đã chiếm một vai trò quyết định. Do ảnh hưởng đó khoa học hình sự Rumani đã cấu trúc tội phạm theo các yếu tố: một khách thể tương ứng với quan hệ xã hội bị tác động bởi tội phạm, một mặt khách quan đề cập đến sự kiện thực tế, một chủ thể được xác định là cá nhân thực hiện hành vi và một mặt chủ quan đề cập đến việc thực hiện hành vi một cách có lỗi [94, tr. 121]. Như vậy, trong lý luận pháp luật xã hội chủ nghĩa, khách thể của tội phạm là một thành tố bắt buộc, có vai trò quyết định trong việc cấu tạo nên tội phạm. Khách thể của tội phạm là một khái niệm trừu tượng vì nó được xác định là những quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại. Ở các nước theo hệ thống Thông luật (Common law), yếu tố trừu tượng đó không được đề cập trong các thành tố của tội phạm (elements of crime). Theo luật pháp của Hoa Kỳ, "một yếu tố tội phạm là một trong tập hợp các yếu tố phải được chứng minh để kết tội một bị cáo về một tội phạm" [99]. Các yếu tố đó bao gồm: trạng thái tâm thần (Mens rea), xử sự (Actus reus), sự phù hợp (Concurrence), quan hệ nhân quả (Causation). Thuật ngữ Mens rea đề cập đến những vấn đề như mục đích, ý định phạm tội, hình thức lỗi. Actus reus là yếu tố hành vi ứng xử mà theo pháp luật Hoa Kỳ đó phải là hành vi hành động hoặc không hành động trái pháp luật. Concurrence chỉ đến sự phù hợp giữa trạng thái tâm thần với hành vi xử sự, tức là người có hành vi phạm tội phải có ý định, mong muốn phạm tội ấy. Causation là yêu cầu về quan hệ nhân quả giữa hành vi với thiệt hại xảy ra [99]. Ở Anh, để cấu thành một tội phạm thậm chí chỉ yêu cầu hai yếu tố trạng thái tâm thần và hành vi phạm tội - Mens rea và Actus reus. 16 Việc xác định một tội phạm cụ thể theo quy định của Thông luật (Common law) đặt ra yêu cầu về hai yếu tố: trạng thái tâm thần và hành vi phạm tội. Công tố viên phải chứng minh cả hai yếu tố trên để thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn thừa nhận sự tồn tại của chúng. Nếu điều này không chứng minh được thì theo pháp luật Anh, người bị buộc tội sẽ được tha bổng vì mọi người được coi là vô tội cho đến khi bị chứng minh có tội [90, tr. 14]. Như vậy, ở các nước thuộc kiểu pháp luật Anh - Mỹ, yếu tố khách thể của tội phạm không được đề cập trong CTTP. CTTP trong luật hình sự các nước này chỉ nhấn mạnh tới yếu tố hành vi khách quan và yếu tố lỗi trong mặt chủ quan. Điều này khác biệt với kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa - nơi mà khách thể của tội phạm là một thành tố bắt buộc, có vai trò quyết định trong việc cấu tạo nên tội phạm. Lý luận về các yếu tố CTTP, trong đó có khách thể của tội phạm là những khái niệm của khoa học luật hình sự Việt Nam hiện đại. Chúng mới được đưa tới Việt Nam khoảng những năm 60-70 của thế kỷ trước bởi các nhà khoa học Liên Xô [11, tr. 341]. Do tiếp thu nên quan điểm của các nhà khoa học Việt Nam về khách thể của tội phạm về cơ bản là thống nhất về nội dung và bản chất pháp lý. PGS.TS. Kiều Đình Thụ viết: "Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ bị tội phạm xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại" [47, tr. 140]. Còn GS. TSKH. Lê Cảm cho rằng: "Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc có thể gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định" [8, tr. 24]. Đơn giản hơn, khi đề cập đến khách thể của tội phạm với tư cách một căn cứ định tội danh, GS.TS. Võ Khánh Vinh cho rằng: "Khách thể là thành phần 17 không thể thiếu trong bất kỳ một tội phạm nào. Đó là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại của hành vi phạm tội" [85, tr. 95]; v.v… Như vậy, cơ bản các quan điểm nói trên đều thống nhất ở các điểm: 1) Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội; 2) Quan hệ xã hội đó được luật hình sự bảo vệ (nhằm tránh khỏi sự xâm hại của tội phạm) và 3) Quan hệ xã hội đó bị tội phạm xâm hại( có thể gây thiệt hại hoặc có thể đe doạ gây thiệt hại ). Tác giả thống nhất với các điểm cơ bản trong quan niệm về khách thể của tội phạm nói trên vì những căn cứ sau: Thứ nhất, khách thể của tội phạm chắc chắn phải là các quan hệ xã hội. Sở dĩ khẳng định như vậy là vì khách thể là "đối tượng chịu chi phối, tác động của đối tượng gây ra hành động" [88, tr. 786]. Khách thể của tội phạm phải là đối tượng chịu chi phối, tác động của tội phạm. Trong khi đó bản chất tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội nên đối tượng mà tội phạm chi phối, tác động, gây nguy hiểm chính là các quan hệ xã hội. Thứ hai, khách thể của tội phạm phải là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Các quan hệ xã hội là đối tượng bảo vệ của pháp luật nói chung chứ không riêng luật hình sự. Những hành vi xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ được gọi chung là vi phạm pháp luật: "Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ do các chủ thể có năng lực hành vi thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý gây hậu quả thiệt hại cho xã hội" [80, tr. 145]; Các loại vi phạm pháp luật được phân biệt với nhau chính bởi nhóm quan hệ xã hội mà chúng xâm hại. Bởi vậy một hành vi nhất định phải xâm hại tới các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì mới trở thành vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm), nếu hành vi ấy xâm hại các quan hệ xã hội được các ngành luật khác bảo vệ thì nó sẽ là vi phạm pháp luật trong lĩnh vực pháp luật tương ứng. 18 Thứ ba, khách thể của tội phạm phải là các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại. Nếu quan hệ xã hội không bị xâm hại thì không có hành vi nguy hiểm cho xã hội và tất yếu không có tội phạm. Tuy thống nhất với các quan điểm trên về khái niệm khách thể của tội phạm nhưng chúng tôi cho rằng khái niệm này còn cần phải thể hiện vai trò, vị trí của khách thể trong mối quan hệ với CTTP vì nếu không có mối quan hệ này thì việc xác định khách thể của tội phạm là vô nghĩa. Tóm lại, từ các lý do trên , dưới góc độ khoa học tác giả xin đưa ra khái niệm khách thể của tội phạm như sau: Khách thể của tội phạm - yếu tố cấu thành bắt buộc của mọi tội phạm là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại. 1.1.2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm Theo GS. TSKH Lê Văn Cảm, "dấu hiệu của CTTP là đặc điểm chung về mặt lập pháp cụ thể của các thuộc tính điển hình và chủ yếu hơn cả, đặc trưng cho tội phạm đó" [11, tr. 345]. Trong các dấu hiệu của CTTP, có dấu hiệu bắt buộc là đặc trưng cho tất cả các CTTP, có dấu hiệu tùy nghi, có thể có ở CTTP này mà không có ở CTTP khác. Theo đó, yếu tố khách thể trong CTTP có ba dấu hiệu: khách thể - dấu hiệu bắt buộc; đối tượng của tội phạm và người bị hại (nạn nhân) của tội phạm - các dấu hiệu tùy nghi. a. Dấu hiệu khách thể trong khách thể của tội phạm: Như đã xác định ở trên, khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm, bị tội phạm xâm hại. Khách thể của tội phạm có ba loại: khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp. Nội dung này sẽ được xem xét cụ thể hơn ở phần sau. b. Dấu hiệu đối tượng của tội phạm: Quan hệ xã hội là một phạm trù trừu tượng, rộng lớn, không hiện hữu, cụ thể. Người ta chỉ có thể nhìn nhận 19 những quan hệ đó thông qua các bộ phận của nó như: Các chủ thể của quan hệ xã hội; hoạt động của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội hay trạng thái của các chủ thể trong quan hệ xã hội; các vật, hiện tượng thuộc thế giới khách quan có khả năng thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của chủ thể tham gia quan hệ xã hội. Con người không thể "nhìn" thấy sự tác động của tội phạm lên quan hệ xã hội mà chỉ có thể đánh giá sự tác động ấy trên các bộ phận của quan hệ xã hội. Theo đó, "đối tượng của tội phạm là những bộ phận của khách thể của tội phạm mà khi tác động tới bộ phận này, tội phạm đã gây nên thiệt hại hoặc đe dọa gây nên thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ" [47, tr. 145]. CTTP của các loại tội phạm cụ thể khác nhau. Đối tượng tác động của tội phạm có vị trí, vai trò cụ thể không giống nhau: - Đối tượng của tội phạm có thể căn cứ định tội danh đối với những CTTP mà luật hình sự quy định đối tượng tác động của tội phạm là một dấu hiệu bắt buộc. Ví dụ đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả: nếu hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh thì cấu thành tội được quy định ở Điều 157 của BLHS (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); nếu hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi thì cấu thành tội ở Điều 158 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật...); nếu hàng giả là hàng hóa thông thường khác thì hành vi cấu thành tội ở Điều 156 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả). - Đối tượng tác động của tội phạm có thể là căn cứ để phân biệt hành vi bị coi là tội phạm với hành vi không bị coi là tội phạm. Ví dụ: Hành vi buôn bán những mặt hàng nhà nước cấm kinh doanh mới cấu thành tội quy định tại Điều 166 BLHS năm 1999: Tội buôn bán hàng cấm. Đối tượng tác động của tội phạm ở đây là "hàng cấm", là dấu hiệu bắt buộc của tội buôn bán hàng cấm. 20
- Xem thêm -