Tài liệu Khả năng thâm nhập của ngành cà phê việt nam vào thị trường mỹ

  • Số trang: 27 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 57 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34345 tài liệu

Mô tả:

MỤCLỤC Lời mởđầu .................................................................... 1 Nội dung ....................................................................... 2 1. Một số nét cơ bản về cà phê Việt Nam...................... 2 1.1. Nhữn nét chung về cà phê ...................................... 2 1.2. Nguồn cung cấp cà phê trên thế giới và xu hướng tiêu thụ........................................................................... 3 2. Vị trí, vai trò hoạt động sản xuất và xuất khẩu của ngành cà phê Việt Nam ................................................. 5 2.1. Về vị trí cà phê Việt Nam........................................ 5 2.2. Vai trò của ngành cà phê trong tổng kim ngạch xuất khẩu ....................................................................... 5 3. Đánh giá về khả năng xuất khẩu của cà phê Việt Nam6 4. Một số giải pháp cơ bản về khả năng thâm nhập thị trường cà phê Việt Nam sang thị trường Mỹ................. 7 Kết luận ...................................................................... 11 Tài liệu tham khảo..................................................... 13 LỜIMỞĐẦU Ở nước ta, cà phê là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng ngày càng được khẳng định vị trí của mình trên thị trường cà phê thế giới. Từ một nước xuất khẩu cà phê nhỏ, năm 2000 Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu cà phê. Hàng năm ngành cà phêđưa lại cho đất nước một khối lượng kim ngạch đáng kể và giải quyết công ăn việc làm, ổn định đời sống cho hàng trăm ngàn hộ gia đình ở các khu vực miền núi và Tây Nguyên. Những thành tựu đóđã khẳng định vị trí, vai trò của ngành cà phê trong nền kinh tế quốc dân, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoáđất nước. Bất kỳ một ngành hàng xuất khẩu nào cũng tự tìm cho mình những thị trường có khả năng tiêu thụ cao. Và ngành cà phêđã tự tìm cho một thị trường đầy tiềm năng đó là thị trường Mỹ. Kể từ ngày 3/2/1994 Mỹ bỏ lệnh cấm vận Việt Nam và ngày 6/8/1995, Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội đã chính thức khai trương, Hiệp định thương mại Việt - Mỹđãđược ký kết ngày 13/7/200 vàđược thông qua vào ngày 11/12/2001, đánh dấu một bước phát triển mới trong quan hệ hai nước nói chung và quan hệ thương mại nói riêng. Không chỉ ngành cà phê mà rất nhiều ngành khác cũng đã coi thị trường Mỹ là một thị trường không thể không thâm nhập. Nhờ vậy kim ngạch buôn bán giữa Việt - Mỹđã có những bước tiến đáng kể, tuy vẫn còn rất nhỏ bé so với tiềm năng và nhu cầu của hai bên. Đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam, thị trường Mỹ với dân số khoảng 270 triệu người, kim ngạch nhập khẩu hàng năm khoản 1100 tỷ USD, GDP/người khoảng 27000 USD với nhu cầu đa dạng, là một thị trường hấp dẫn. Riêng với mặt hàng cà phê Mỹ phải nhập với số lượng lớn, kim ngạch năm khoảng 5 tỷ USD là từ hai mươi nước vì vậy khả năng chiếm lĩnh thị phần của cà phê Việt Nam là không nhỏ. Đề tài: Khả năng thâm nhập của ngành cà phê Việt Nam vào thị trường Mỹ NỘIDUNG 1. Một số nét cơ bản về cà phê Việt Nam 1.1. Những nét chung về cà phê Cà phê là loại đồ uống được ưa thích ở hầu hết các nước trên thế giới, nó là sản phẩm nhiệt đới nhưng lại tiêu thụ nhiều ở các nước ôn đới nhưng lại tiêu thụ nhiều ở các nước ôn đới. Ngày nay cà phêđược sử dụng rộng rãi vì trong hạt cà phê nhân sống thông thường có chứa 1- 2,5% chất cofein có tác dụng kích thích thần kinh, tăng cường hoạt động của tế bào não. Ngoài ra trong hạt cà phê còn có chứa các chất dinh dưỡng cho cơ thể như: đường, protein, các sinh tố B (B1, B2, B6, B12). Hiện nay trên thế giới có rất nhiều giống, chủng loại cà phê, nhưng phổ biến sản xuất có những chủng loại sau: - Cà phê chè (Arabica): Loại cà phê chè Arabica có nguồn gốc từ cao nguyên Jimma Etiopia, đây là loại cà phê có phẩm chất thơm ngon, năng suất khá, có giá trị kinh tế cao được chú trọng phát triển sớm nhất và chiếm 70% lượng cà phê thế giới. Cà phê chè có rất nkhiều chủng loại, người ta chia thành các chủng loại său: + Cà phê Arabica dịu dàng Côlômbia, cácnước sản xuất nhiều loại này là Côlômbia, Keynia, Tanzania. + Cà phê Arabica Brazil, các nước sản xuất gồm Brazil, Etiopia. + Cà phê Arabica dịu khác, các nước sản xuất gồm Bôlivia, Costrica, Cuba, ElSanvado, Indonesia, Việt Nam. - Cà phê vối (Canephora): Loại cà phê này có nguồn gốc từ hạ lưu sông CôngGô, thích hợp với khí hậu nhiệt đới. Đây là chủng loại dễ trồng, chịu hạn tốt nhưng phẩm chất không cao. Chủng loại được trồng nhiều nhất là cà phê vối Robusta với sản lượng chiếm tỷ lệ trên 25% trên thế giới. - Cà phê mít (Exllsa): Đây là loại cà phê sinh trưởng khoẻ, ít sâu bệnh, chịu hạn hán nhưng phẩm chất kém, ít hương thơm và có vị chua, diện tích trồng rất thấp. Ở Việt Nam diện tích cà phê vối được trồng phổ biến, rộng rãi nhất chiếm 90%, tiếp đó là cà phê chè chiếm 9%, còn lại là cà phê mít. 1.2. Nguồn cung cấp cà phê trên thế giới và xu hướng tiêu thụ. a) Nguồn cung cấp cà phê trên thế giới. Cây cà phê có nguồn gốc Châu Phi, vào thế kỷ XVII, cà phêđưa sang trồng ở Indonesia, sáng thế kỷ XVIII nóđược đưa sang trồng ở Tây bán cầu, vàđược trồng đầu tiên ở Matinique và Swriname vùng đảo Cabire. Kể từđó nóđược trồng ở khắp vành đai nhiệt đới, cận nhiệt đới và Châu Mỹ - Latin. Sau này dù cà phêđược nhân rộng ở Châu Á Châi Phi nhưng Mỹ Latin vẫn chiếm 2/3 sản lượng sản xuất và xuất khẩu trên thế giới. Hiện nay trên thế giới có khoảng 70 nước sản xuất cà phê. Mặc dù cà phê chủ yếu được trồng ở vành đai nhiệt đới vàá nhiệt đới nhưng phần lớn lại được tiêu thụở các nước công nghiệp phát triển. Việc phân loại các nước sản xuất cà phêđược tiến hành theo 2 cách. Căn cứ vào loại cà phê xuất khẩu người ta chia các nước sản xuất cà phê thành nhóm sản xuất cà phê Arabica và nhóm sản xuất cà phê Robusta. Tất nhiên cũng có nước thuộc nhóm sản xuất cà phê arabia lại sản xuất cà phê Robusta và ngược lại. Người ta cũng có thể chia các nước sản xuất cà phê theo khu vực và vùng lãnh thổ như arabica ở vùng Bắc và Trung Mỹ, khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Mặt khác, theo Commodity Expert dựđoán sản lượng vụ cà phê 2002/2003 toàn thế giới đạt 124,3 triệu bao tăng 11,9 so với vụ 2001/2002. Sự tăng trưởng này quyết định bởi sự tăng trưởng sản lượng của Braxin. Trong khi sản lượng giảm ở nước thứ nhì thế giới là Việt Nam, cùng với việc giảm sản lượng ởẤn Độ và một số nước Trung Mỹ… thì sản lượng Braxin tăng từ 33 triệu bao vụ 2001/2002 lên 47,5 triệu bao vụ 2002/2003. Với sản lượng từ 45-50 triệu bao cà phê (2,7 - 3 triệu tấn) Braxin là một nhân tố quan trọng đẩy giá cà phê xuống thấp. Đây là một điểm phải tính toán đến khi hoạch định mục tiêu xuất khẩu cà phê. Vụ 2001/2002 sản lượng cà phê của Braxin theo F.O Litch là 34,4 triệu bao trong đó 10,55 triệu bao Robusta, còn lại là Arabica chiếm 23,75 triệu bao. Vụ 2002/2003 sản lượng cà phê Braxin dự kiến sẽ tăng lên tới 45,2 triệu bao trong đó cà phê Robusta tăng 10,8 triệu bao còn Arabica là 34,4 triệu bao. Như vậy có nghĩa là cà phê Braxin tăng nhiều về Arabica còn nhẹ về Robusta. b) Xu hướng tiêu thụ cà phê trên thế giới Tổng sản lượng cà phê niên vụ 1999/2000 đạt 114,2 triệu bao, tăng 10 triệu bao so với dựán ban đầu, trong đó Việt Nam đạt 11,5 triệu bao. Sản lượng niên vụ 2000/2001 đạt 114,7 triệu bao. Như vậy, sản lượng cà phê sản xuất giảm không đáng kể. Tiêu thụ cà phê trên thế giới trong niên lịch 1999 khoản 102,2 triệu bao, trong đó có 24,9 triệu bao tiêu thụ tại các nước xuất khẩu và 77,3 triệu bao tại các nước nhập khẩu. Các ước tính sơ bộ cho thấy năm 2000, tiêu thụ cà phêở các nước nhập khẩu đã giảm xuống từ 79,1 triệu bao xuống 77,3 triệu bao. Riêng Mỹ, tiêu thụ giảm 1,4 triệu bao và Liên minh Châu Âu giảm 1,4 triệu bao. Còn ở Nhật Bản, con số này tăng từ 6,3 triệu bao năm 1999 lên 6,5 triệu bao năm 2000. Lượng tồn kho đầu năm 2000 khoảng 38,5 triệu bao, trong đó các nước xuất khẩu 29,9 triệu bao, các nước nhập khẩu 6 triệu bao và các cảng tự do 4,6 triệu bao. Như vậy, tình hình trên cho thấy xu hướng cung vượt xa cầu "làm cho thị trường cà phê thế giới suy sụp, khiến cho các nhà sản xuất không kiểm soát được nữa, còn các nhà nhập khẩu luôn đóng vai trò chủđộng trong việc thực thi những chính sách mua hàng tạm thời và tận hưởng các quyền mà họ mới có". Nhu cầu và xu hướng tiêu thụ cà phêở Mỹ Theo kết quả khảo sát gần đây cho thấy 79% số thanh niên Mỹ uống cà phê. Số người uống cà phê hàng ngày ở Mỹ là 54% hay 110 triệu người, số người uống cà phê không thường xuyên là 51 triệu người, tăng 1 triệu và 3 triệu người tương ứng so với năm 1999. Theo số liệu khảo sát thìở khu vực uống cà phê không thường xuên được tăng thêm 13 triệu người trong vòng bốn năm qua. Tiêu thụ cà phêđặc biệt đang tăng dần với tỷ lệ cao. Tiêu thụ loại cà phêđặc biệt trong đối tượng uống cà phê hàng ngày tăng khoảng 9% năm 2000 so với gần 3% năm 1995. Trong khi đó tiêu thụ cà phêđặc biệt của những người uống càphê không thường xuyên tăng 53% trong năm 2000 so với 35% năm 1997. Giá trị bán lẻ cà phêở Mỹđạt 13 tỷ USD trong năm 1993 nay tăng lên đến 18,5 tỷ USD vì khu vực uống cà phê không thường xuyên đang mở rộng và thị trường cà phêđặc biệt ngày càng cóưu thế. Tiêu thụ cà phê theo đầu người ở Mỹ dự kiến vẫn ở mức 3,1 cốc/ngày nhưng khác ở chỗ trong lượng mỗi cốc cà phê tăng lên 9 ounce trong năm 2000 (1 ounce = 28,35 gam). Thực tế, trong sốđồ uống ngọt, đồ uống có vị cà phêđang được giới trẻ quan tâm. Đó chính là cái đích và mục tiêu cần khai thác để mở rộng thị trường tiêu thụ cà phê không chỉở Mỹ màở toàn thế giới. 2. Vị trí, vai trò hoạt động sản xuất và xuất khẩu của ngành cà phê Việt Nam 2.1. Về vị trí cà phê Việt Nam - Cà phê là một trong những cây công nghiệp mũi nhọn, hết sức quan trọng ở nước ta, có thểđánh giáđúng vị trí của nóđể có cơ chế vàđịnh hướng phát triển trong 2 kế hoạch 5 năm (1996-2000 và 2001-2005). - Nước ta có nhiều vùng sinh thái rất thích hợp cho phát triển cây cà phê gồm các tỉnh: Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, các tỉnh miền Trung và miền núi phía Bắc. Quĩđất qui hoạch cho phát triển cây cà phê còn lớn và không bị tranh chấp bởi các cây trồng khác. Đất trồng cà phê chủ yếu là các vùng miền núi, dân tộc - Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản hàng hoá xuất khẩu chủ yếu, đưa lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước. Năm1995, kim ngạch xuất khẩu cà phê có thểđạt 400 đến 450triệu USD, tương đương với xuất khẩu gạo. Hiện nay, sản xuất và xuất khẩu cà phê nước ta đứng thứ 1 Châu Á và làđứng thứ 2 trong số 70 nước xuất khẩu cà phê trên thế giới, đã có thị trường xuất khẩu ổn định với hơn 60 nước và khu vực . 2.2. Vai trò của ngành cà phê trong tổng kim ngạch xuất khẩu. - Kể từ sau 1975, đất nước ta hoàn toàn thống nhất, việc phát triển cà phêđã trở thành một chủ trương lớn của Nhà nước vàđược nhân dân các vung khác nhau đều đồng tình hưởng ứng. Từđóđến nay ngành cà phê Việt Nam ngày càng đi lên thể hiện rõ là một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, tạo công ăn việc làm cho hàng chục vạn lao động, tạo ra lượng hàng hóa xuất khẩu ngày càng lớn, đem lai kim ngạch xuất khẩu ngày càng nhiều, góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu của cả nước. - So với đầu năm 1990, cả nước có 100 ngàn ha cà phê hầu hết mới trồng, sản lượng không đầy 100 ngàn tấn. Đến nay diện tích cà phê cả nước đã là 500 ngàn ha, sản lượng đạt xấp xỉ 800 ngàn tấn, tức là tăng đến 10 lần. Vị thế của ngành cà phêđầu thập kỷ 90 chưa có gì nổi trội, chỉđứng thứ 20 trong tổng số 70 nước sản xuất cà phê trên thế giới. Nhưng từđóđến nay sản lượng tăng nhanh hàng năm và nhanh chóng vượt qua Cốt ĐiVoa, Uganda, Indonesia đểđứng vị trí thứ 3 thế giới. Đến năm 2000 Việt Nam vượt qua Côlômbia đứng thứ nhì thế giới về xuất khẩu cà phê, chỉ sau Brazil vàđứng đầu thế giới về cà phê Robusta. Có thể nói khó có một ngành nông nghiệp nào trong cả nướcvà trong cả nước có một tốc độ tăng trưởng cao đến thế. - Là một mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng cây cà phêđược coi là một cây chủ lực trong cơ cấu cây trồng ở nhiều tỉnh trung du, miền núi và cao nguyên. Ngành cà phê còn tham gia có hiệu quả cao vào các chương trình kinh tế - xã hội lớn của đất nướcnhư chương trình định canh, định cư cho đồng bào các dân tộc thiểu số, chương trình xoáđói, giảm nghèo, tạo việc làm cho người lao động và chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc. - Cà phê sản xuất ra phần lớn làđể xuất khẩu. Thị trường cà phê Việt Nam phân bổ trên 60 quốc gia và vùng lãnh thổở khắp các châu lục khác nhau. Hàng năm Việt Nam có những thị trường lớn tiêu thụ trên 200.000 bao và các thị trường lớn này chiếm 89 % tổng số cà phêđã sản xuất. Nhìn trên biểu đồ ta thấy rằng cà phê là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu có tính chất quan trọng, kim ngạch nó mang lại chỉđứng sau thủy sản và gạo. hàng năm xuất khẩu cà phê mang lại cho đất nước gần nửa tỷ USD, đây là một thành quả không nhỏ. Đó là sự phần đầu của toàn ngành cũng như từng đơn vị trong ngành đểđạt được thành quảđó. 3. Đánh giá về khả năng xuất khẩu của cà phê Việt Nam Hiện nay, cà phê của Việt Nam đãđược xuất khẩu sang 63 nước và thị trường trên thế giới. Cơ cấu khách hàng của ta cũng đã có những thay đổi quan trọng. Nếu như trước đây 60% lượng hàng được xuất sang Singapore (để chế biến và tái xuất khẩu ), số còn lại được xuất theo Nghịđịnh thư sang Liên Xô cũ và các nước Đông Âu thì ngày nay cà phê Việt Nam được xuất trực tiếp đi khắp các châu lục. Những năm gần đây Mỹđã trở thành khách hàng lớn nhất của ngành cà phê Việt Nam, tiếp đó là các nước trong EU, Nhật Bản, các nước Trung cận đông và Bắc Phi. Năm 1995, khi mới thành lập Tổng công ty cà phê Việt Nam xuất khẩu với số lượng là 39.966 tấn, kim ngạch 99 triệu USD, giá bình quân 2.477 USD/tấn; đến năm 1998 xuất khẩu đạt số lượng 76.443, kim ngạch 121 triệu USD, giá bình quân 1.583 USD/ tấn thì năm 2000 số lượng xuất khẩu đạt tới 171.333 tấn, kim ngạch chỉđạt 106 triệu USD giá bình quân còn 619,1 USD/ tấn và trong 6 tháng đầu năm 2001 số lượng xuất khẩu 170.826 tấn, kim ngạch 74,2 triệu USD, giá bình quân xuống còn 4.34,4 triệu USD/tấn. 4. Một số giải pháp cơ bản về khả năng thâm nhập thị trường cà phê Việt Nam sang thị trường Mỹ. * Những giải pháp từ phía Nhà nước. - Thành lập quỹ hỗ trợ xuất khẩu cho các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu đang bị thua lỗ nguyên nhân do giá cà phê xuông thấp. Đồng thời quy định giá sàn trả cho nông dân khi giá cà phê trên thị trường thế giới giảm, giá bán thấp hơn giá thành sản xuất ra. Dĩ nhiên các nhà xuất khẩu lại bị thua thiệt và thông qua quỹ hỗ trợ xuất khẩu, Nhà nước sẽ bù lỗ cho các nhà xuất khẩu. - Nhà nước có cơ chế tín dụng như cho vay không lãi (hoặc bù lãi suất), trừ phần phụ thu xuất khẩu cho một số doanh nghiệp của Tổng công ty có nguồn nhân lực thu gom, gom trữ cà phê ngay từđầu vụ với số lượng khoảng 10% để phối hợp với ACPC nhằm đẩy giá cà phê quốc tế tăng lên, và chủđộng xuất khẩu và sản xuất. - Tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên sâu về cà phê, hỗ tợ ngành cũng như Tổng công ty đào tạo đội ngũ có năng lực về chuyên môn cây cà phê cũng nhưđội ngũ phân tích thị trường thế giới để giúp ngành có những bước đi đúng đắn. - Chính phủ hỗ trợ phát triển thị trường bàng cách mở rộng quan hệ thương mại ngoại giao trên mọi lĩnh vực, ký kết các hiệp định trả nợ với các nước có nhu cầu với số lượng hàng năm lên tới 100.000 tấn - 150.000 tấn. - Nhà nước cần tạo điều kiện để xúc tiến việc tổ chức trung tâm giao dịch cà phê Việt Nam là nơi tập trung mọi giao dịch về cà phê. - Đểđảm bảo thực thi chiến lược mang tính quốc tế về sản xuất và tiêu thụ cà phê, Nhà nước cần thành lập Hội đồng cà phê quốc gia chịu trách nhiệm toàn bộ từ sản xuất đến tiêu thụ, quản lý qũy bảo hiểm sản xuất và xuất khẩu cà phê cũng như kế hoạch dự trữ cà phê quốc gia. Hình thức này đãđược áp dụng ở một số sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn thấy có hiệu quả. - Cần tổ chức các nhà xuất khẩu lại với nhau trên từng khu vực để phối hợp với nhau trong việc chào và bán hàng, tránh tình trạng tranh mua tranh bán và tăng khả năng cạnh tranh của cà phê Việt Nam với cà phê các nước. - Đối với thi thị trường Mỹ thì Chính phủ giúp đỡ ngành trong việc tham gia thị trường cà phê New York * Giải pháp từ phía Bộ chủ quản và các bộ có liên quan. - Bộ chủ quản trực tiếp là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần phải có hướng chỉđạo đầu tư giữ không để hao hụt diện tích Robusta hiện đang kinh doanh có hiệu quả, mở rộng vùng cà phê Arabica ở những nơi cóđiều kiện thật sự thích hợp. - Bộ Thương mại cần chỉđạo các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê phải triệt để tuân thủ tiêu chuẩn chất lượng ban hành và có biện pháp xử lý phù hợp đối với những đơn vị thực hiện không đúng qui định làm tổn hại uy tín cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới. - Bộ Kế hoạch vàĐầu tư cần xây dựng một chiến lược đầu tư phù hợp theo cơ cấu ngành nói chung cũng như các cây nông nghiệp nói riêng.. - Bộ Tài chính cần cấp đủ 30% định mức vốn lưu động trong các đơn vị thuộc ngành, cấp ngân sách để xây dựng, nâng cấp các công trình thủy lợi, kiên cố hoákênh nương đảm bảo đủ nguồn nước tưới cho diện tích cà phê hiện có vàđang xây dựng, nâng cấp trục đường giao thông đặc biệt là những dựán ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. * Giải pháp từ phía ngành cà phê . Đẩy mạnh xuất khẩu cà phê hiện nay ở nước ta thì cần phải thực hiện trên hai hướng chủ yếu: Một là: Phát triển về bề rộng diện tích là giữ nguyên diện tích cà phê Robusta hiện có và tăng diện tích cà phê Arabica, thâm canh tăng năng suất, tăng tổng sản lượng để có khối lượng cà phê xuất khẩu lớn. Việc mở rông diện tích cà phê Arabica là việc có thể tăng giá trị xuất khẩu của ngành cà phê Việt Nam, vì giá cà phê Arabica trên thị trường thế giới bao giờ cũng cao gấp đôi giá cà phê Robusta. Hai là: Tập trung phát triển về bề sâu nhưđa dạng hóa mặt hàng cà phê, đa phương hóa thị trường cà phê. Nhất là cần xem thị trường Mỹ là một thị trường tiềm năng. Trước tình hình thị trường cà phê thế giới đầy biến động, giá cà phê liên tục giảm xuông mức kỷ lục thì việc giá tăng một cách đột biến là không thể vì vậy những biện pháp chủ yếu để: - Cải tiến công tác xúc tiến thương mại theo hướng: + Tìm thị trường xuất khẩu trực tiếp đến người rang xay + Tổ chức sở giao dịch cà phêđể cà phê Việt Nam trực tiếp tham gia vao giao dịch chứng khoán tại Việt Nam . + Cửđại diện tham gia vào thị trường kỳ hạn Luân Đôn. - Ngành cà phê cần xây dựng và củng cố hệ thống thông tin trong toàn ngành trước mắt là Tổng công ty cà phê Việt Nam là cơ quan có quyền lực, trụ cột trong các
- Xem thêm -