Tài liệu Kết từ tiếng việt trong vài sách dạy tiếng việt cho người nước ngoài và vấn đề giảng dạy kết từ tiếng việt cho người nước ngoài

  • Số trang: 137 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 1379 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA NGÔN NGỮ HỌC NGUYỄN THỊ THANH NGỌC Đề tài KẾT TỪ TIẾNG VIỆT TRONG MỘT SỐ SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ VẤN ĐỀ GIẢNG DẠY KẾT TỪ TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Ngọc Cân HÀ NỘI 2004 1 MỤC LỤC Trang 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Đối tượng và pham vi nghiên cứu 5 2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 5 2.2. Phạm vi nghiên cứu 6 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6 3.1. Mục đích 6 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 7 4. Phương pháp nghiên cứu và tư liệu 8 4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu 8 4.2. Tƣ liệu 9 5. Bố cục của luận văn 10 CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT TỪ TIẾNG VIỆT 11 1.1. Quan niệm của các nhà Việt ngữ học về kết từ tiếng Việt 11 1.2. Tình hình nghiên cứu về kết từ tiếng Việt 15 1.2.1. Những nghiên cứu về mặt hình thức 15 1.2.2. Những nghiên cứu về mặt nội dung 20 1.2.3. Những nghiên cứu về mặt ngữ dụng 21 1.3. Kết từ tiếng Việt: đặc điểm và kiểu loại 23 1.3.1. Khái niệm về kết từ 23 1.3.2. Phân biệt kết từ với các loại hƣ từ khác 24 1.3.3. Đặc điểm của kết từ tiếng Việt 27 1.3.4. Phân loại 33 1.3.5. Vai trò của kết từ trong việc dạy tiếng Việt 45 CHƢƠNG 2: KẾT TỪ TRONG CÁC SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT 46 2 NHƢ MỘT NGOẠI NGỮ 2.1. Lựa chọn tư liệu thống kê 46 2.1.1. Tiêu chí về ngôn ngữ mẹ đẻ của ngƣời học 46 2.1.2. Tiêu chí về trình độ của sách 47 2.2. Tình hình giảng dạy kết từ ở phần ngữ pháp và bài tập, bài 49 luyện 2.2.1. Số lƣợng kết từ đƣợc đƣa vào giảng dạy trong phần ngữ pháp 49 và phần bài tập, bài luyện 2.2.2. Cách giải thích ý nghĩa/ chức năng và hƣớng dẫn sử dụng các 51 kết từ trong phần ngữ pháp 2.3. Tình hình sử dụng kết trong các văn bản hội thoại và bài đọc 55 của sách dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ hiện hành 2.3.1. Cứ liệu thống kê 55 2.3.2. Các nhận xét và mô tả 58 CHƢƠNG 3: MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ PHƢƠNG PHÁP BIÊN SOẠN 92 VÀ GIẢNG DẠY KẾT TỪ TIẾNG VIỆT CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI 3.1. Một số vấn đề về lý thuyết dạy tiếng Việt cho người nước ngoài 92 3.1.1. Dạy tiếng Việt phù hợp với mục đích của ngƣời học 92 3.1.2. Dạy phù hợp với đối tƣợng học 93 3.1.3. Dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài phải căn cứ vào trình 95 độ của ngƣời học 3.2. Vấn đề biên soạn phần kết từ trong sách tiếng Việt cho người 99 nước ngoài 3.2.1. Số lƣợng các kết từ trong các sách dạy tiếng Việt cho ngƣời 99 nƣớc ngoài 3.2.2. Đề xuất về số lƣợng và sự phân chia kết từ trong sách dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài 3 104 3.3. Phương pháp dạy kết từ tiếng Việt 105 3.3.1. Nội dung và các phƣơng pháp giảng dạy 105 3.3.2. Lỗi kết từ và phƣơng pháp chữa lỗi 110 3.3.3. Các dạng bài tập và bài luyện về kết từ 113 KẾT LUẬN 116 PHỤ LỤC 118 4 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Tôi may mắn đƣợc tiếp xúc với những ngƣời nƣớc ngoài học tiếng Việt, có nhiều ngƣời nêu lên thắc mắc liên quan đến những hiện tƣợng ngữ pháp của tiếng Việt. Những câu hỏi của họ không phải lúc nào cũng trả lời đƣợc dễ dàng. Với tƣ cách là ngƣời bản ngữ, đồng thời đƣợc học tập và nghiên cứu về tiếng Việt, tôi ngày một mong muốn có điều kiện giải đáp đƣợc những câu hỏi đó. Đấy là một trong những động lực cũng nhƣ nguồn an ủi lớn cho tôi khi thực hiện đề tài nghiên cứu này. Những câu hỏi đó luôn hiện lên trong tâm trí tôi, ám ảnh tôi trong suốt thời gian qua. Nó thôi thúc tôi tìm kiếm câu trả lời để ít nhiều giải đáp đƣợc phần nào. Ban đầu từ những thắc mắc của những ngƣời không chuyên về nghiên cứu ngôn ngữ: Tại sao gọi là kết từ hay quan hệ từ? Tại sao gọi là liên từ? Tại sao gọi là giới từ? Đến những câu hỏi của những ngƣời nghiên cứu về tiếng Việt: Có bao nhiêu kết từ trong một văn bản bình thƣờng? Có những kết từ nào đƣợc sử dụng nhiều, kết từ nào đƣợc sử dụng ít hơn? Các kết từ này có thể thay thế đƣợc cho nhau không?... Những câu hỏi kiểu này sẽ đƣợc giải đáp dƣới lí thuyết của một phân ngành ngữ pháp học, ngữ pháp học thực hành nhằm đáp ứng những nhu cầu Giáo dục ngôn ngữ của xã hội. Ngày nay, giáo dục ngôn ngữ đƣợc thể hiện qua qua trình dạy và học tập trung vào 3 đối tƣợng: 1. Học và dạy ngoại ngữ, 2. Học và dạy bản ngữ, 3. Dạy và học trong điều kiện song ngữ. Bàn về mối quan hệ giữa ngôn ngữ học và việc dạy tiếng có nhiều ý kiến khác nhau. Nhiều tác giả cho rằng ngôn ngữ học không có mối quan hệ gì đối với việc dạy và học ngoại ngữ. Đây là hai mảng vấn đề tƣơng đối tách biệt. Không cần ngôn ngữ học cũng có thể học ngoại ngữ và dạy ngoại ngữ đƣợc. Tất nhiên không thể quá đề cao vai trò của ngôn ngữ học trong việc dạy tiếng nhƣng không thể phủ nhận vai trò của ngôn ngữ học trong lĩnh vực này. Đây là mối quan hệ giữa: nghiên cứu và giáo dục ngôn ngữ. Ngôn ngữ 5 là đối tƣợng nghiên cứu trong ngôn ngữ học đồng thời là đối tƣợng giáo dục trong dạy học. “Thái độ tiêu cực” là nhận xét của G.Szepa đối với những chƣơng trình dạy tiếng phủ nhận vai trò của ngôn ngữ học 1. Một trong những lĩnh vực ứng dụng với phạm vi rộng và quan trọng của ngôn ngữ học là dạy và học tiếng không thể bỏ qua những kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học hiện đại. Ngày nay, khi xu hƣớng “Toàn cầu hoá” đang lan rộng trên toàn thế giới, để chung sống hoà bình với các quốc gia khác, một đất nƣớc muốn phát triển thì không thể “đóng cửa” về mặt văn hoá. Giáo dục ngôn ngữ, phổ biến ngôn ngữ quốc gia của mình trên thế giới là trách nhiệm và nghĩa vụ của các nhà ngôn ngữ nói riêng và của mỗi quốc gia nói chung. Vai trò to lớn của ngôn ngữ có thể chi phối đến văn hoá, kinh tế, chính trị của nƣớc ấy trên trƣờng quốc tế. Khái niệm ngôn ngữ quốc tế (Esperanto) đã ra đời với hy vọng làm cho sự giao tiếp quốc tế ngày càng mở rộng và hiệu quả hơn. Ngôn ngữ của một số nƣớc đƣợc sử dụng khá phổ biến trên nhiều quốc gia. Có nhiều quốc gia sử dụng tiếng Anh làm tiếng mẹ đẻ. Trong đó có hơn 400 triệu ngƣời nói tiếng Anh nhƣ tiếng mẹ đẻ, có gần 80 triệu ngƣời nói tiếng Pháp nhƣ tiếng mẹ đẻ, và đặc biệt là có trên 1,3 tỉ ngƣời nói tiếng Trung Quốc nhƣ tiếng mẹ đẻ. Đấy là chƣa kể đến con số những ngƣời sử dụng những ngôn ngữ này nhƣ một ngôn ngữ thứ hai với số lƣợng nhiều hơn so với ngƣời nói ngôn ngữ thứ nhất. Một câu hỏi đƣợc đặt ra là những ngôn ngữ có số lƣợng ngƣời sử dụng ít hơn ở các quốc gia khác trong đó có Việt Nam thì tình hình thế nào? Ở nƣớc ta, cùng với chính sách mở cửa, dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài đƣợc nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu. Từ năm 1956, cùng với sự phát triển của trƣờng Đại học Tổng hợp, một bộ môn dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài ra đời và phát triển. Cho đến những năm 80 của 1 “Ngôn ngữ học” (Khuynh hƣớng-Lĩnh vực-Khái niệm. Tập II) Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, NXBKHXH HN 1986. 6 thế kỉ 20, đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm giúp việc dạy và học tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài có hiệu quả hơn đƣợc quan tâm chú ý. Đặc biệt là vào những năm 90 có sự phát triển vƣợt bậc về cả số lƣợng và chất lƣợng những công trình nghiên cứu tiếng Việt có tính chất nhƣ một ngoại ngữ. (Hàng trăm bài nghiên cứu về tiếng Việt và dạy tiếng Việt đƣợc tập hợp trong các kỷ yếu các năm 1995, 1997,…). Qua đó, các nhà ngôn ngữ học đã quan tâm đề cập và giải quyết nhiều vấn đề khác nhau của tiếng Việt, góp phần tích cực vào việc giới thiệu và phổ biến tiếng Việt với các nƣớc trên thế giới. Trƣớc hết để thực hiện đƣợc chức năng to lớn mà lịch sử đề ra cho mình, các nhà ngôn ngữ học đã có nhiều công trình nghiên cứu từ rất sớm về các bình diện, các yếu tố của ngôn ngữ. Các tác giả đã chú ý đề cập đến các bộ phận của ngôn ngữ trong các công trình dạy tiếng Việt. Điều đó chứng tỏ việc dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài đã đƣợc coi là một bộ phận trong nghiên cứu tiếng Việt và đã áp dụng những kết quả nghiên cứu tiếng Việt vào việc dạy tiếng. Các công trình dạy tiếng không chỉ đề cập đến thực từ, cấu trúc câu mà còn chú ý đến hƣ từ trong đó có kết từ. Tuy nhiên những công trình nghiên cứu theo quan niệm cũ cho chúng ta một bức tranh đơn giản về kết từ. Kết từ không đƣợc đánh giá cao. Khi nghiên cứu về kết từ ngƣời ta chú ý nhiều đến những hiện tƣợng, những khả năng biểu thị ý nghĩa ngữ pháp của kết từ trong câu. Điều này sẽ đƣợc làm rõ và chứng minh ở phần lịch sử vấn đề. Đến ngôn ngữ học hiện đại, khi các nhà ngôn ngữ học có cái nhìn mới về lĩnh vực ngữ dụng của ngôn ngữ. Nghĩa ngữ dụng đƣợc chú ý thì kết từ đƣợc giải thích theo một hƣớng mới. Kết từ lúc này không chỉ diễn tả ý nghĩa ngữ pháp mà còn thể hiện đƣợc mục đích của những ngƣời tham gia giao tiếp. Việc mở rộng ra các bình diện của phạm vi nghiên cứu cũng nhƣ việc gắn các yếu tố ngôn ngữ với hoàn cảnh giao tiếp đã có vai trò to lớn trong lĩnh vực dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. 7 Dạy tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ cũng nhƣ dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài là quá trình dạy ngƣời nƣớc ngoài sử dụng tiếng Việt nhƣ thế nào trong quá trình giao tiếp. Ngƣời học ngoại ngữ phải biết tạo ra đƣợc những câu nói bằng chất liệu ngoại ngữ có thể diễn đạt đƣợc tƣ duy của mình đồng thời cũng phải hiểu đƣợc rõ ràng ý mà ngƣời bản xứ nói. Sử dụng đƣợc một ngôn ngữ không chỉ hiểu đƣợc một câu nói của ngƣời bản xứ hay nói đƣợc một câu bằng ngôn ngữ đó mà còn phải hiểu cả ý tứ, thái độ tình cảm mà ngƣời nói gửi gắm qua câu nói đó cũng nhƣ diễn đạt đƣợc ý tứ của mình. Nói một cách khác, ngƣời học ngoại ngữ và sử dụng ngoại ngữ để diễn đạt ý mình phải bằng “trái tim” cảm thụ. Vì thế, dạy tiếng Việt bên cạnh dạy ý nghĩa của các thực từ còn phải dạy cả ý nghĩa của các hƣ từ hay kết từ. Vậy dạy kết từ trong việc dạy tiếng Việt nhƣ thế nào? Đây cũng là một trong những vấn đề mà luận văn quan tâm hay lí do chọn đề tài cho công trình nghiên cứu này. Đối tƣợng của việc dạy tiếng Việt rất phong phú cho nên chúng ta có những phƣơng pháp và phạm vi dạy tiếng khác nhau. Căn cứ vào đối tƣợng của mình việc dạy tiếng Việt có thể chia thành 2 mảng lớn: Đó là dạy tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ và dạy tiếng Việt nhƣ tiếng mẹ đẻ. Sự khác biệt giữa hai đối tƣợng này qui định việc dạy tiếng Việt cho họ là khác nhau. Theo chúng tôi việc dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài là việc dạy cho họ một ngôn ngữ khác trong khi họ đã có một tiếng mẹ đẻ nên chúng ta phải chú ý đến sự khác biệt về ngôn ngữ. Hay là sự khác biệt giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác (ngôn ngữ mẹ đẻ của ngƣời học). Trong những đặc trƣng này phải kể đến vai trò của kết từ trong tiếng Việt so với các kết từ của các ngôn ngữ khác. Đặc biệt hơn trong so sánh với các ngôn ngữ tổng hợp tính và các ngôn ngữ biến hình. Trong tƣơng quan với các ngôn ngữ thuộc loại hình khác, ngôn ngữ đơn lập đã sử dụng hƣ từ trong đó có kết từ nhƣ là phƣơng tiện chủ yếu, quan trọng, để biểu hiện mối quan hệ giữa các từ và tạo nên các chức năng ngữ pháp khác nhau. Nói cách khác, vị trí, chức năng, vai 8 trò của kết từ là rất quan trọng trong ngữ pháp tiếng Việt cũng nhƣ trong việc dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. Tuy nhiên, để có những thành công trong việc nghiên cứu hoàn chỉnh về kết từ trong việc dạy tiếng chúng ta cần phải có những công trình khoa học lớn của tập thể các nhà khoa học. Trong điều kiện hạn chế của luận văn chúng tôi xin tập trung giải quyết một phần nhỏ trong vấn đề rất rộng đó. Đó là chúng tôi mong muốn nhìn nhóm hƣ từ này dƣới một góc độ, góc độ dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. Vậy kì vọng của chúng tôi là có thể giải quyết vấn đề này trong phạm vi tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ để có thể nhìn thấy đƣợc mặt giống, mặt khác (qua so sánh sơ bộ với ngôn ngữ khác), mặt thuận lợi, mặt khó khăn của liên từ và giới từ - gọi chung là kết từ - tiếng Việt trong quá trình dạy tiếng. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 2.1. Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống từ loại tiếng Việt, trên đại thể có thể chia thành hai mảng lớn đó là: hƣ từ và thực từ. Mặc dù hƣ từ chiếm số lƣợng không lớn bằng thực từ nhƣng các hƣ từ có vai trò rất lớn trong việc diễn đạt mối quan hệ giữa các từ, ngữ trong câu cũng nhƣ mối quan hệ giữa các khái niệm trong tƣ duy của ngƣời tham gia giao tiếp. Đối tƣợng nghiên cứu trong luận văn là hƣ từ mà chủ yếu là những kết từ (một bộ phận của hƣ từ tiếng Việt) và với hai tiểu loại chính là: giới từ và liên từ. Trong luận văn này, chúng tôi tập trung vào kết từ và là những kết từ trong sách tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài hiện hành. Trong hoạt động ngôn ngữ, từ ngữ nói chung, các kết từ nói riêng có mặt ở nhiều loại văn bản khác nhau. Bên cạnh dạng nói, chúng ta còn thấy ngôn ngữ tồn tại ở dạng viết. Về nguồn gốc thì dạng nói cổ xƣa hơn và sử dụng phổ biến hơn dạng viết. Tuy nhiên trong việc lƣu trữ thông tin thì dạng viết có ƣu thế hơn. Trong các dạng văn bản khác nhau, dạng văn bản trực tiếp nhất, ảnh hƣởng nhiều nhất đến ngƣời nƣớc ngoài khi học tiếng Việt là các sách tiếng Việt 9 cho ngƣời nƣớc ngoài. Chúng tôi lựa chọn các quyển sách tiếng Việt có tính chất hoặc dụng ý của tác giả là dạy tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ làm đối tƣợng nghiên cứu để tiếp cận gần hơn đến ngƣời học. Giải quyết vấn đề trên một cơ sở thực tế hơn là mục đích của chúng tôi. Qua khảo sát, phân tích kết từ theo hƣớng tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ, chúng tôi hy vọng hƣớng đến gần ngƣời học, ngƣời dạy hơn. Chúng tôi hy vọng tìm ra phƣơng pháp tốt hơn cho việc học và việc dạy tiếng Việt. Bằng những dẫn chứng chi tiết, có tính sát thực và trực tiếp nhất đối với ngƣời nƣớc ngoài, luận văn sẽ góp phần giải quyết những vấn đề phức tạp trong kết từ tiếng Việt ở một đối tƣợng nghiên cứu cụ thể. 2.2. Phạm vi nghiên cứu. Luận văn thực hiện xác định kết từ trong sách tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài ở các phần sau: - Phần hội thoại và Phần bài đọc. - Phần ngữ pháp. - Phần bài tập, bài luyện. Luận văn không khảo sát kết từ trong những phần giải thích, hƣớng dẫn của tác giả để hƣớng ngƣời học đến hội thoại hoặc bài đọc. Ngoài ra luận văn cũng không đề cập đến kết từ trong những phần yêu cầu của tác giả trong phần bài tập, bài luyện. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. 3.1. Mục đích: Khảo sát hiện trạng sử dụng kết từ trong các sách tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài hiện hành. Qua việc khảo sát này chúng ta có điều kiện chỉ ra đƣợc những mặt đƣợc, những mặt hạn chế trong điều kiện hiện nay. Thực tế của chƣơng trình dạy tiếng Việt sẽ giúp cho chúng ta đƣa ra những kiến giải cụ thể để giải quyết vấn đề. So sánh kết từ trong các loại văn bản khác nhau của tiếng Việt hiện đại và trong sách tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. Qua việc so sánh này, chúng 10 ta có thể chỉ ra đƣợc thực tế sử dụng với việc dạy tiếng Việt. Điều đó có thể nhận thấy sự cập nhật cũng nhƣ hiệu quả từ thực tế của chƣơng trình dạy tiếng. Thông qua so sánh, chúng ta cũng có thể nhìn nhận lại những công trình nghiên cứu về tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài một cách khách quan hơn, trên những cứ liệu thuyết phục. Sau khi trình bày những số liệu thuyết phục, luận văn đƣa ra những đề nghị, kiến giải cần thiết cho việc biên soạn giáo trình và giảng dạy kết từ cho ngƣời nƣớc ngoài học tiếng Việt. Đây là mục đích cuối cùng và cũng là mục đích lớn nhất của luận văn. Để hoàn thiện hơn nữa chƣơng trình, giáo trình, còn đòi hỏi phải có nhiều đóng góp hơn nữa. Tuy nhiên với hạn chế về chuyên môn cũng nhƣ sự hạn hẹp của luận văn, chúng tôi chỉ hy vọng đƣa ra đƣợc những ý kiến nhỏ nhằm đóng góp cho sự hoàn thiện của chƣơng trình, giáo trình dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn thực hiện xác định khái niệm, tiêu chí nhận diện kết từ trong tiếng Việt. Trong số những công trình nghiên cứu về kết từ tiếng Việt, chúng tôi hy vọng tìm đƣợc những quan điểm mà có thể khai thác để phục vụ việc dạy tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ. Qua đó chúng tôi cũng cố gắng đƣa ra khái niệm kết từ tiếng Việt, theo thiển ý của chúng tôi, có ƣu thế hơn đối với việc dạy tiếng Việt không phải cho ngƣời bản xứ. Qua việc nghiên cứu về các kết từ, luận văn tiến hành phân loại các kết từ trong tiếng Việt. Việc phân loại này giúp cho ngƣời dạy cũng nhƣ ngƣời học hiểu rõ hơn, có tầm nhìn tổng quát hơn về đối tƣợng nghiên cứu. Các kết từ tiếng Việt đƣợc cụ thể hoá, xây dựng theo hệ thống, có mối quan hệ giữa các thành tố của một hệ thống. Khảo sát tình hình sử dụng kết từ trong sách dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. Sơ bộ khảo sát các kết từ trong các loại văn bản khác nhau (Khảo sát kết từ trong một số truyện ngắn hiện đại và một số tác phẩm báo chí chính luận trên báo “Nhân dân” và “Lao động” năm 2001); so sánh với 11 thực tế sử dụng kết từ trong sách dạy tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ đã xuất bản. 4. Phương pháp nghiên cứu và tư liệu: 4.1. Phương pháp nghiên cứu: Sau khi đã thống nhất lựa chọn sách tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài ở các trình độ khác nhau, dành cho các đối tƣợng khác nhau, chúng tôi tiến hành sử dụng các thủ pháp chủ yếu là: - Thống kê: Đây là thủ pháp đầu tiên, chủ yếu đƣợc tiến hành đối với các kết từ trong các văn bản. Các hiện tƣợng kết từ xuất hiện đều đƣợc thống kê bằng các phiếu tƣ liệu. Thông qua các phiếu tƣ liệu, chúng tôi có thể đƣa ra đƣợc con số thống kê về kết từ của mỗi văn bản. - Tổng hợp: Thủ pháp này đƣợc chủ yếu thực hiện sau khi chúng tôi đã thống kê đƣợc các dạng kết từ khác nhau. Các kết từ liên quan đến nhau đƣợc tập hợp vào cùng nhóm. Tổng hợp chúng lại để đƣa ra một bức tranh chung về kết từ với một trật tự nhất định. - Phân tích: Trái với thủ pháp tổng hợp, thủ pháp phân tích chủ yếu đƣợc tiến hành trong các nhóm kết từ. Tìm những điểm khác biệt của từng tiểu loại kết từ để phân biệt nó với những tiểu loại gần gũi với nó hoặc khác xa nó. - So sánh: Thủ pháp so sánh chủ yếu đƣợc thực hiện trong nội bộ các kết từ, và giữa sách tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài với các văn bản khác nhau. - Quan sát sƣ phạm: Đƣợc thực hiện qua thực tế công việc của chúng tôi. Thủ pháp này chủ yếu đƣợc sử dụng để giải quyết những vấn đề còn tồn tại mà trong quá trình dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài chúng tôi thấy chƣa đƣợc giải quyết. Có thể sử dụng phối hợp các thủ pháp trên, tuỳ theo từng trƣờng hợp cụ thể, cũng tuỳ đối tƣợng khảo sát cụ thể mà áp dụng thủ pháp nào là chính. 4.2. Tư liệu: 12 Chúng tôi thống kê và mô tả kết từ trong các sách tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài hiện hành. Cụ thể là: + Giáo trình cơ sở tiếng Việt thực hành (I), Trƣờng Đại học Tổng hợp, Hà Nội 1980. + Giáo trình cơ sở tiếng Việt thực hành (II), Trƣờng Đại học Tổng hợp, Hà Nội 1980. + Tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. Bùi Phụng, NXB ĐH&GDCN, 1992. + Thực hành tiếng Việt dùng cho ngƣời nƣớc ngoài. Nguyễn Việt Hƣơng, NXB GD, 1995. + Tiếng Việt, Phan Văn Giƣỡng - Nguyễn Anh Quế, NXB GD, 1996. + Tiếng Việt cơ sở (I), Đại học Bắc Kinh, 1996. + Tiếng Việt cơ sở (II), Đại học Bắc Kinh, 1996. + Tiếng Việt cơ sở (III), Đại học Bắc Kinh, 1996. + Tiếng Việt cơ sở. Vũ Văn Thi, NXB KHXH, 1996. + Tiếng Việt nâng cao. Nguyễn Thiện Nam, NXB GD, 1998. + Tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài, Nguyễn Anh Quế, NXB VHTT Hà Nội, 2000. + Tiếng Việt cơ sở cho ngƣời Nhật. Trần Thị Chung Toàn, NXB ĐHQG, 2000. + Thực hành tiếng Việt B (Sách dùng cho ngƣời nƣớc ngoài), Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), NXB Thế Giới, 2001. + Thực hành tiếng Việt C (Sách dùng cho ngƣời nƣớc ngoài). Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), NXB Thế Giới, 2001. - Một số tuyển tập truyện ngắn, các tác phẩm báo chí bằng tiếng Việt. - Các sách và chuyên luận bằng tiếng Việt do các tác giả Việt Nam viết hoặc tác giả nƣớc ngoài viết nhƣng đã đƣợc dịch sang tiếng Việt. 5. Bố cục của luận văn: 13 Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận văn có 3 chƣơng: Chương 1: Khái quát chung về kết từ tiếng Việt Chúng tôi trình bày quan niệm của các nhà Việt ngữ học về kết từ. Từ đó, tìm hiểu tình hình nghiên cứu kết từ tiếng Việt. Trên cơ sở những nghiên cứu trƣớc đây, để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu của luận văn, chúng tôi đƣa ra kết luận về kết từ với những đặc điểm, kiểu loại. Và phần vai trò của kết từ trong việc dạy tiếng Việt. Chương 2: Kết từ trong các sách dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ Ở chƣơng này, chúng tôi tiến hành thống kê kết từ trong các sách dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài trong các phần ngữ pháp và bài tập, bài luyện. Sau đó so sánh những kết từ đƣợc giải thích trong phần ngữ pháp với tình hình sử dụng kết từ trong các bài đọc và hội thoại của sách. Chương 3: Một số ý kiến về phương pháp biên soạn và giảng dạy kết từ tiếng Việt cho người nước ngoài. Từ những kết quả nghiên cứu ở chƣơng 2, luận văn hƣớng tới một số ứng dụng đối với việc dạy kết từ cho ngƣời nƣớc ngoài. Nhằm đƣa ra những phƣơng pháp, giải pháp cho việc biên soạn chƣơng trình, giáo trình dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT TỪ TIẾNG VIỆT 1.1. Quan niệm của các nhà Việt ngữ học về kết từ tiếng Việt. Để giải quyết đƣợc những thắc mắc của ngƣời nƣớc ngoài khi học tiếng Việt, luận văn phải quay trở lại những nghiên cứu trƣớc đây nhằm tìm hiểu rõ hơn lịch sử của vấn đề. Thời kì đầu của con ngƣời, con vật, dù không biết “nói”, “viết” nhƣng cũng biết sử dụng kí hiệu thay cho ngôn ngữ trong quá 14 trình giao tiếp. Bằng chứng là để báo hiệu nơi có thức ăn cũng nhƣ có thú dữ, con vật có thể hú gọi nhau. Chúng ta cũng không thể phủ nhận những nghiên cứu của Mác - Angghen về ngôn ngữ và tƣ duy. “Ngôn ngữ cũng cổ xƣa nhƣ ý thức vậy, ngôn ngữ là ý thức thực tại, thực tiễn... và cũng nhƣ ý thức, ngôn ngữ chỉ sinh ra là do nhu cầu, do cần thiết phải giao dịch với ngƣời khác”2. Và cùng với sự phát triển của tƣ duy, ngôn ngữ ngày càng phát triển và hoàn thiện sao cho có thể thực hiện đƣợc vai trò to lớn của mình là công cụ của tƣ duy. Con ngƣời có cuộc sống khi con ngƣời có thể nhận biết đƣợc mình trong môi trƣờng của cuộc sống. “Tôi tƣ duy nghĩa là tôi tồn tại” giúp cho chúng ta lý giải mối quan hệ của tƣ duy với thực tế khách quan. Ngôn ngữ - tƣ duy - thực tế khách quan có mối quan hệ khăng khít với nhau, mối quan hệ đó đƣợc các nhà Việt ngữ học cụ thể hoá nhƣ 3 đỉnh của một tam giác. Chúng có quan hệ tƣơng liên với nhau, bổ sung cho nhau và hỗ trợ nhau. Trong đó, tƣ duy đóng vai trò là cầu nối, chất xúc tác giữa ngôn ngữ và thực tế khách quan. Thực tế khách quan sinh động đƣợc phản ánh vào tƣ duy. Trên cơ sở của lao động, tƣ duy, ngôn ngữ đã ra đời. Vì thế, ngôn ngữ cũng mang trong mình màu sắc của cuộc sống. Và cuộc sống khác nhau thì ngôn ngữ cũng khác nhau. Điều này cũng là một lí do để giải thích tại sao các dân tộc khác nhau thì có ngôn ngữ khác nhau trong khi họ có chung một ngôn ngữ tiềm ẩn trong não bộ. Với vai trò là phƣơng tiện phản ánh thế giới khách quan, hệ thống từ vựng của mỗi ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng đều có hai mảng lớn: Thực từ và hƣ từ. Thực từ là những từ phản ánh vô số những sự vật, hiện tƣợng tồn tại trong thực tế khách quan nên vô hạn về mặt số lƣợng. Còn hƣ từ là những từ hữu hạn về số lƣợng phản ánh mối quan hệ, sự tƣơng liên giữa các thành tố trong tƣ duy cũng nhƣ ngôn ngữ trong câu. Vì thế, thực từ là những từ tự nghĩa có vai trò làm thành phần câu. Hƣ từ là những từ trợ nghĩa 2 Trang 8, “Mác, Angghen, Lê Nin bàn về ngôn ngữ”, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1962. 15 không thể làm thành phần câu. Thực từ đóng vai trò là các yếu tố còn hƣ từ có tƣ cách liên kết các yếu tố này thành một hệ thống hoàn chỉnh. Không ai có thể phủ nhận vai trò của thực từ và hƣ từ (trong đó có kết từ) trong hệ thống của một ngôn ngữ. Tuy nhiên dƣới hình thức này hay hình thức khác các tác giả có thể trình bày dƣới các dạng khác nhau. Nhƣng tựu trung lại vẫn đi đến một con đƣờng phân chia hệ thống từ vựng theo những từ phản ánh khái niệm trong thế giới quanh ta (thực từ) và những từ có khả năng biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm (hƣ từ trong đó có kết từ). Ở phần này, chúng tôi điểm lại những quan điểm của các học giả về kết từ tiếng Việt. Cuốn “Việt Nam văn phạm” (1940) của Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỷ đã nghiên cứu và phân chia hệ thống từ vựng tiếng Việt thành 13 từ loại. Qua đó chúng ta thấy đƣợc một hệ thống với những từ vựng đƣợc phân chia theo nhóm từ loại có đặc điểm chung về ngữ pháp. Trong cuốn sách này mặc dù chƣa có khái niệm về hƣ từ cũng nhƣ kết từ nhƣng các từ vựng có vai trò là thực từ và các từ vựng đảm nhiệm là hƣ từ đã đƣợc phân biệt và tách riêng thành những nhóm nhỏ khác nhau. “Giới tự” và “liên tự” mà bây giờ chúng ta gọi chung là kết từ đã đƣợc gọi tên và là 2 nhóm tƣơng đƣơng với các từ loại khác nhƣ danh tự, tính tự, mạo tự, đại danh tự.... Phan Khôi, là ngƣời đầu tiên đã chú ý đến việc sử dụng thuật ngữ hƣ từ. Ông chia từ vựng tiếng Việt thành 2 loại: thực từ và hƣ từ. Và nhận thấy vai trò to lớn của hƣ từ trong tiếng Việt khác nhiều so với tiếng Pháp. Ông đã dẫn ra một số trƣờng hợp chứng tỏ rằng “Văn pháp làm hệt theo lối tiếng Pháp, nhiều khi đến bất đồng” 3 Giai đoạn sau (từ những năm 60 đến năm 80 của thế kỉ 20), cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học, từ pháp học cũng có bƣớc phát triển đáng kể. Nguyễn Kim Thản trong cuốn: “Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt. Tập I” (1963) đã chia từ loại tiếng Việt thành 3 loại: Thực từ, hƣ từ và bán thực từ, bán hƣ từ. Theo ông “hƣ từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, cho nên ta 3 Trang 172, “Việt ngữ nghiên cứu”, Phan Khôi, 1955. 16 có thể chia chúng theo tác dụng ngữ pháp”. Và căn cứ vào “tác dụng phụ vào những từ khác” và “quan hệ ngữ pháp giữa từ này với từ khác” mà ta có thể chia hƣ từ thành 2 nhóm: Phụ trợ từ và quan hệ từ. Trong đó, quan hệ từ bao gồm: “giới từ”, “liên từ”. Nguyễn Tài Cẩn và Xtan kê vích (1975) đã phân chia chi tiết hơn. Ông gọi nhóm từ chúng ta đề cập trong luận văn là các từ hình thành cú pháp thuộc các từ không thuộc nhóm danh từ, nhóm động từ, nhóm tính từ. Cùng với thuật ngữ “liên từ”, “giới từ”, ông còn đề xuất một số từ nằm trong những trƣờng hợp biên gọi là “liên - giới từ”. Cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (1983) của Uỷ ban khoa học xã hội đã đánh dấu một bƣớc ngoặt mới trong lịch sử nghiên cứu từ loại tiếng Việt, các tác giả cũng chia vốn từ vựng thành 2 loại lớn: Thực từ và hƣ từ. Nhƣng trong đó, kết từ có một phần dùng để biểu thị quan hệ liên hợp đƣợc gọi tên là kết từ liên hợp, có một phần dùng để biểu thị quan hệ hạn định đƣợc gọi tên là kết từ chính phụ. Đinh Văn Đức trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (1986) chia từ loại tiếng Việt thành 3 nhóm lớn: Thực từ, hƣ từ và tình thái từ. Tác giả gộp liên từ và giới từ thành quan hệ từ bởi “khó đạt đƣợc giải pháp thoả đáng theo hƣớng liên từ hoặc giới từ”. Và các quan hệ từ có vai trò chung là hƣ từ cú pháp. “Ngữ pháp tiếng Việt” (1992) của Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung đã chia từ loại tiếng Việt thành 2 nhóm lớn trong đó kết từ thuộc nhóm 2 và đƣợc phân chia ra thành 2 loại: kết từ hạn định và kết từ phụ thuộc thay cho thuật ngữ giới từ và liên từ. Hồ Lê trong “Cú pháp tiếng Việt” (1992) phân chia từ vựng tiếng Việt thành 9 loại trong đó kết từ hay từ công cụ bao gồm cả những từ mà chúng ta gọi là liên từ và giới từ trong luận văn. Qua những trình bày trên, chúng tôi xin đƣa ra một số đặc điểm của thực từ và hƣ từ (trong đó có kết từ): 17 Về mặt ý nghĩa: Thực từ mang nghĩa từ vựng còn hƣ từ mang ý nghĩa ngữ pháp. Thực từ có thể “vẽ”, “miêu tả” cho chúng ta thấy một bức tranh sinh động về cuộc sống hiện thực. Còn hƣ từ (trong đó có kết từ) có tác dụng nhƣ chất “xúc tác”, nối kết các sự vật, đặt chúng vào một hay nhiều quan hệ nhất định. Về mặt làm chức năng trong câu: Thực từ có thể đóng vai trò làm thành phần câu nhƣng hƣ từ (trong đó có kết từ) về cơ bản không thể làm thành phần câu. Thực từ có thể làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ ... trong câu. Trong khi đó kết từ chỉ có thể diễn tả đƣợc mối quan hệ giữa các thành phần câu, mối quan hệ giữa các vế trong câu. Về mặt ngữ dụng: Hai đặc điểm trên qui định khả năng biểu đạt nghĩa ngữ dụng của thực từ là khá cụ thể và không phức tạp. Ví dụ: từ “cái bàn” trong tiếng Việt hoặc “table” trong tiếng Anh chỉ cho ngƣời đọc, ngƣời nghe thấy hình ảnh của vật thƣờng bằng gỗ có 4 chân, hình vuông hoặc tròn và đƣợc dùng để học tập, làm việc.... trong sinh hoạt hàng ngày theo qui ƣớc của xã hội. Còn nghĩa ngữ dụng của hƣ từ thì vô cùng phong phú. Đặc biệt với tiếng Việt, khi phƣơng tiện biểu thị ngữ pháp là từ thì vai trò của hƣ từ đặc biệt quan trọng trong việc biểu đạt dụng ý của những ngƣời tham gia giao tiếp. Chúng ta thử phân tích vai trò của thực từ và hƣ từ trong câu sau: “Đừng tƣởng đất này đã hết ma. Ma còn đang đẻ sinh đôi sinh ba nữa cơ đấy!”(1). Nếu bỏ những hƣ từ in nghiêng ở câu (1) đi ta có câu: “Đừng tƣởng đất này hết ma. Ma đẻ sinh đôi sinh ba” (2). Ở trƣờng hợp câu (2), về mặt ngữ pháp không sai. Tuy nhiên, xét về, mặt ý nghĩa ngƣời đọc không nhận thấy đƣợc: - Trạng thái tồn tại của ma: đã - Tiến trình của hoạt động đẻ sinh đôi sinh ba của ma: còn, đang, nữa - Sự thách thức trong lời cảnh báo: cơ, đấy 1.2. Tình hình nghiên cứu về kết từ tiếng Việt. 1.2.1. Những nghiên cứu về mặt hình thức. 18 Lịch sử nghiên cứu Việt ngữ học ở giai đoạn đầu, kết từ chủ yếu đƣợc nghiên cứu về mặt hình thức. Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào vị trí của kết từ trong câu. Có nghĩa là những kết từ đƣợc xem xét với vai trò nhƣ một bộ phận biểu thị ý nghĩa ngữ pháp. Căn cứ vào vị trí của các hƣ từ trong câu ta xác định nó là thuộc từ loại hƣ từ nào. Trong “Việt Nam văn phạm” (1940) của Trần Trọng Kim tác giả đã khảo sát và tìm ra đƣợc sự chuyển loại của nhiều từ trên cơ sở chức năng của chúng trong câu. Tác giả chia “tiếng” thành 13 “loài” và đã gọi tên những đơn vị mà luận văn đề cập đến là: Giới tự và Liên tự. Trong cuốn sách đầu tiên đánh dấu việc nghiên cứu một cách có hệ thống này, tác giả đã nghiên cứu kết từ dƣới tiêu chí hình thức. Trần Trọng Kim cho rằng “Giới tự là tiếng dùng để liên lạc một tiếng với tiếng túc từ của nó”. Chúng bao gồm: - Theo tiêu chí “cái gốc của nó mà phân biệt” giới tự tiếng Việt có: + Tiếng bản nhiên giới tự: bằng, bởi, của, nhân, từ, tự, với,... + Tiếng tĩnh tự dùng làm giới tự: gần, xa, giữa, ngang, ngay,... + Tiếng động tự dùng làm giới tự: cho, để, đến, đối, lại, khỏi, ở, lên, xuống, ra, vào, qua, tại, tới, sang, theo, về, từ,... + Tiếng quán ngữ giới tự: còn, về, đối với... - Dựa vào tiêu chí “quan hệ của nó lập ra”, giới tự tiếng Việt đƣợc chia thành: + Giới tự chỉ nơi chốn: ở + Giới tự chỉ sự đổi nơi chốn: ra, vào, về, khỏi, theo, lên, xuống... + Giới tự chỉ chỗ khởi đầu: từ, tự. + Giới tự chỉ chỗ tới: đến, tới, lại. + Giới tự chỉ bên này vƣợt tới bên kia: qua, sang. + Giới tự chỉ kì hạn: nội, trong. + Giới tự chỉ mục đích: để, cho. + Giới tự chỉ sự hệ thuộc: của. 19 Còn “Liên tự là một tiếng dùng để liên hợp mấy tiếng cùng loại, hoặc mấy mệnh đề hoặc mấy câu với nhau”. Chúng bao gồm: - Tiếng tập hợp liên tự: + Sự cộng lại, góp thêm: và, với, cùng, cùng với. + Sự luân lƣu: hoặc, hay, hay là... + Sự kết liễu: thế vậy, nên, cho nên, nên chi, vậy nên, thành thử, bởi rứa, bởi thế, bởi vậy, vì thế, vì vậy.... + Sự tỏ ý nói thêm lẽ khác và chỉ sự tăng tiến trong câu biện luận: vả, vả lại, vả chăng, huống, huống chi, huống hồ, phƣơng chi... + Sự trái lại hay sự hạn chế: nhƣng, nhƣng mà, song, song le, tuy nhiên, thế mà, chứ... + Sự chuyển tiếp: còn nhƣ, đến nhƣ, chí nhƣ... + Mục đích: * Mục đích để đạt tới: hoạ, hoạ chăng... * Mục đích để tránh khỏi: kẻo, kẻo lại, kẻo mà... + Báo trƣớc một mệnh đề khác mà ngƣời ta mới hiểu ra đƣợc: hèn nào, hèn chi, thảo nào... - Tiếng phụ thuộc liên tự dùng để liên hợp mệnh đề phụ với những mệnh đề chính. Bao gồm: + Duyên cớ: vì, bởi, bởi vì, vì chƣng.... + Mục đích: để, để cho... + Sự kết liễu: cho, cho đến, đến khi, đến nỗi, đến nƣớc... + Thời gian: khi, lúc, đang khi, đang lúc, trong khi, trong lúc, bao giờ... + Sự nhƣợng bộ: dù, dẫu, dầu, tuy, tuy rằng. + Sự so sánh: ví nhƣ, cầm nhƣ, cầm bằng, cũng nhƣ, dƣờng nhƣ, thế nào... thế ấy.... + Sự giả thiết: giá phỏng, giả sử, giá nhƣ, giá thể, phỏng nhƣ.... + Điều kiện: hễ, nếu, ví, ví bằng, ví chăng, ví dù, ví thử.... 20
- Xem thêm -