Tài liệu Kể truyện người em trong truyện cổ tích các dân tộc việt nam

  • Số trang: 259 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 352 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI -------------------------------- NGUYỄN THỊ NGỌC LAN KIỂU TRUYỆN NGƯỜI EM TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN HÀ NỘI - 2013 ii BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI -------------------------------- NGUYỄN THỊ NGỌC LAN KIỂU TRUYỆN NGƯỜI EM TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM Chuyên ngành: Văn học dân gian Mã số: 62.22.01.25 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ HÀ NỘI - 2013 iii LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận án NGUYỄN THỊ NGỌC LAN iv MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................... iii MỤC LỤC .................................................................................................................iv 1. Lý do chọn đề tài ..........................................................................................1 2. Lịch sử vấn đề ...............................................................................................3 3. Mục đích nghiên cứu..................................................................................13 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................13 5. Phương pháp nghiên cứu ..........................................................................14 6. Đóng góp của luận án.................................................................................15 7. Cấu trúc của luận án ..................................................................................16 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIỂU TRUYỆN NGƯỜI EM ............................17 1.1. Diện mạo kiểu truyện người em .................................................................17 1.1.1. Nhận diện kiểu truyện người em ..................................................................17 1.1.2. Cơ sở địa - văn hóa của kiểu truyện người em .............................................20 1.2. Đặc điểm nhân vật trong kiểu truyện người em.......................................26 1.2.1. Nhân vật chính .............................................................................................27 1.2.2. Nhân vật đối thủ ...........................................................................................31 1.2.3. Nhân vật trợ giúp .........................................................................................34 1.3. Đặc điểm cấu tạo cốt truyện trong kiểu truyện người em .......................42 1.3.1. Cấu tạo cốt truyện đơn giản .........................................................................43 1.3.2. Cấu tạo cốt truyện phức tạp .........................................................................46 CHƯƠNG 2 DIỄN HÓA MÔ TÍP TRONG KIỂU TRUYỆN NGƯỜI EM........51 2.1. Mô típ “chiếm đoạt gia tài” .......................................................................51 2.1.1. Cấu trúc của mô típ trong kiểu truyện .........................................................51 2.1.2. Sự diễn hóa của mô típ “chiếm đoạt gia tài” ...............................................53 2.2. Mô típ “lựa chọn hôn nhân” .....................................................................58 2.2.1. Cấu trúc của mô típ trong kiểu truyện .........................................................58 2.2.2. Sự diễn hóa của mô típ “lựa chọn hôn nhân” ..............................................59 2.3. Mô típ “cướp vợ/chồng” ............................................................................68 v 2.3.1. Cấu trúc của mô típ trong kiểu truyện .........................................................68 2.3.2. Sự diễn hóa của mô típ “cướp vợ/chồng” ....................................................70 2.4. Mô típ “thử thách” .....................................................................................74 2.4.1. Cấu trúc của mô típ trong kiểu truyện .........................................................74 2.4.2. Sự diễn hóa của mô típ “thử thách” .............................................................76 2.5. Mô típ “bắt chước không thành công” ....................................................79 2.5.1. Cấu trúc của mô típ trong kiểu truyện .........................................................79 2.5.2. Sự diễn hóa của mô típ “bắt chước không thành công”...............................80 2.6. Mô típ “tặng thưởng” ................................................................................85 2.6.1. Cấu trúc của mô típ trong kiểu truyện .........................................................85 2.6.2. Sự diễn hóa của mô típ “tặng thưởng” .........................................................86 2.7. Mô típ “trừng phạt” ...................................................................................90 2.7.1. Cấu trúc của mô típ trong kiểu truyện .........................................................90 2.7.2. Sự diễn hóa của mô típ “trừng phạt”............................................................91 CHƯƠNG 3 KIỂU TRUYỆN NGƯỜI EM CỦA VIỆT NAM TRONG TƯƠNG QUAN VỚI TRUYỆN CÙNG KIỂU Ở CHÂU Á VÀ CHÂU ÂU .....................98 3.1. Kiểu truyện người em của Việt Nam trong tương quan với truyện cùng kiểu ở một số quốc gia châu Á..............................................................................100 3.1.1. Lược khảo kiểu truyện người em ở một số quốc gia châu Á .....................101 3.1.2. Các phương diện tương quan .....................................................................105 3.2. Kiểu truyện người em của Việt Nam trong tương quan với truyện cùng kiểu ở một số quốc gia châu Âu ...........................................................................122 3.2.1. Lược khảo kiểu truyện người em ở một số quốc gia châu Âu ...................122 3.2.2. Các phương diện tương quan .....................................................................124 KẾT LUẬN ............................................................................................................148 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ .........................151 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................152 PHỤ LỤC ...............................................................................................................164 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và thế giới, kiểu truyện người em là một trong những kiểu truyện quen thuộc và tiêu biểu. Sự tập hợp những truyện kể có cùng chủ đề và mô típ đã góp phần định dạng một kiểu truyện độc đáo, tạo nên màu sắc riêng biệt trong bức tranh toàn cảnh sống động, chân thực của truyện cổ tích. Trí tưởng tượng không có giới hạn của nhân dân đã làm nên những câu chuyện hấp dẫn với sự đan xen giữa cái xác thực và cái hoang đường kỳ ảo, lãng mạn bay bổng mà vẫn giàu triết lý nhân sinh. 1.1. Nằm trong nguồn mạch chung của thể loại, kiểu truyện người em là sản phẩm sáng tạo tất yếu, thể hiện một kiểu nhận thức xã hội của con người trong thời đại cổ tích. Đứng trước những biến động lớn lao đang diễn ra trong thực tại, con người từ chỗ ngỡ ngàng đã dần bộc lộ nhu cầu được khám phá, nhận thức. Tuy nhiên, tại thời điểm đó con người chưa đủ khả năng khái quát và phân tích những vấn đề xã hội còn rất mới mẻ và phức tạp nên tất cả được quy về “sân khấu gia đình” để giải thích. Vì lẽ đó, truyện cổ tích thường xoay quanh đề tài sinh hoạt gia đình, phản ánh những xung đột gia đình. Được tái hiện trong kiểu truyện người em, đời sống hiện thực được mô tả với bao bất công, ngang trái. Tập trung quyền lực trong gia đình, những người anh (chị) là nhân vật bề trên với bản chất xấu xa, còn người em là nhân vật thấp hèn nhưng hội tụ đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp. Mang đặc điểm khái quát hóa, sự đối lập giữa các thành viên trong gia đình thực chất là đối lập giữa các tầng lớp trong xã hội phân hóa giai cấp. Sự đối lập ấy còn được thấy qua chung cục cuộc đời nhân vật: những người anh (chị) bao giờ cũng bị trừng phạt thích đáng còn người em được hưởng hạnh phúc, giàu sang. Kết thúc đó làm cho người nghe thấy thỏa mãn trước sự thắng thế tuyệt đối của cái thiện trước cái ác, hoàn toàn phù hợp với triết lý đạo đức dân gian. Những biểu hiện độc đáo ở nhiều phương diện đã khẳng định giá trị và vị trí của kiểu truyện người em bên cạnh các kiểu truyện khác trong kho tàng cổ tích Việt Nam đồng thời cho thấy, đây thực sự là đối tượng khoa học cần phải được khám phá một cách cụ thể và nghiêm túc. 1.2. Nhận ra sức hấp dẫn của kiểu truyện người em trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã có những kiến giải mang tính chất gợi mở về một số khía cạnh nổi bật của kiểu truyện. Tuy nhiên còn nhiều vấn đề cốt lõi như cốt truyện, nhân vật, mô típ… cần phải được đào sâu và mở rộng hơn nữa, nhằm đi đến 2 những phát hiện khoa học về cấu trúc tổng thể cũng như cấu trúc bộ phận của một kiểu truyện tiêu biểu. Mặt khác, tìm hiểu những dấu hiệu cụ thể minh chứng cho tính độc đáo của kiểu truyện người em của các dân tộc Việt Nam đồng thời với việc mở rộng nội dung nghiên cứu theo hướng so sánh với truyện cùng kiểu của một số quốc gia khác trên thế giới cũng là cần thiết và phù hợp với xu hướng nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian trong thời gian gần đây. Sự gần gũi về chủ đề, nhân vật, kết cấu, mô típ… trong truyện cổ tích về người em của các quốc gia được lý giải bằng nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể bằng con đường giao lưu văn hóa hoặc cũng có thể bằng sự nội sinh do chính những điều kiện xã hội lịch sử tương đồng… Không chỉ tương đồng mà chính sự khác biệt cũng là một dấu hiệu thẩm mỹ liên quan đến đặc điểm sinh sống, đến văn hóa, lịch sử, tôn giáo tín ngưỡng của các quốc gia hay các vùng lãnh thổ. Phát hiện mối liên hệ trên nhiều phương diện trong kiểu truyện người em của Việt Nam và một số quốc gia khác, giúp ta có một “cái nhìn tham chiếu” đầy đủ, sáng tỏ về giá trị nội dung và hình thức của kiểu truyện. Có thể thấy đây là một hướng nghiên cứu mới mẻ và đúng đắn về kiểu truyện người em, cũng là lý do thôi thúc chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài. 1.3. Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy, chúng tôi nhận thấy truyện cổ tích là một trong những thể loại được đưa vào giảng dạy với số lượng tương đối lớn trong các cấp học. Đặc biệt trong chương trình đào tạo đại học, thuộc khối kiến thức chuyên ngành, môn văn học dân gian nói chung và thể loại cổ tích nói riêng luôn được chú trọng. Tiếp cận một kiểu truyện độc đáo trong kho tàng cổ tích đồ sộ của dân tộc đồng thời đặt kiểu truyện này trong sự đối sánh với những truyện cùng kiểu ở một số quốc gia trên thế giới không đơn thuần là những “thao tác” khoa học thuần túy mà chính là một cách tự nâng cao năng lực nghiên cứu, cảm thụ văn học và trau dồi kiến thức phục vụ cho công tác giảng dạy môn văn học dân gian của bản thân tác giả luận án trong trường đại học. Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn tìm hiểu đề tài: Kiểu truyện người em trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam với mong muốn tìm đến những chứng cứ xác thực minh chứng cho sự đặc sắc của kiểu truyện. Đồng thời đi từ một vấn đề cụ thể của truyện cổ tích, khám phá và tìm hiểu sâu sắc hơn những vấn đề khác của thể loại cũng là một việc làm ý nghĩa và cần thiết đối với chúng tôi trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy văn học dân gian. 3 2. Lịch sử vấn đề 2.1. Sơ lược tình hình nghiên cứu kiểu truyện người em ở nước ngoài Nghiên cứu các vấn đề của thể loại cổ tích nói chung, nhiều nhà khoa học thuộc các trường phái nghiên cứu khác nhau đã phát hiện ra sự tồn tại của những cốt truyện giống nhau không chỉ trong phạm vi một quốc gia hay khu vực mà trên khắp thế giới. Đây là cơ sở quan trọng cho việc tiếp cận truyện cổ tích từ góc độ típ và mô típ - một xu hướng nghiên cứu tương đối phổ biến từ cuối thế kỷ XIX đến nay. Có thể kể đến Antti Aarne - một đại biểu của trường phái Phần Lan, với công trình Verzeichnis der Märchentypen - Danh mục các thể loại cổ tích, đăng trên FF năm 1910 [2;tr.86]. Khảo sát một khối lượng lớn truyện cổ tích châu Âu, ông nhận ra những cốt truyện giống nhau được lặp đi lặp lại và gọi đó là típ. Ông tiến hành lập một danh mục các típ, mỗi típ được đặt tên, đánh số và được trình bày sơ lược trong vài dòng ngắn gọn. Cách làm đó đã gợi ý các nhà sưu tầm và nghiên cứu truyện cổ tích ở nhiều nước thêm vào các tuyển tập một bảng đánh số các típ theo hệ thống Aarne. Kế thừa và phát triển lý thuyết từ A.Aarne, Stith Thompson công bố cuốn The type of the Folktale - A Classification and Bibliography, được gọi tắt là Từ điển A-T (1928). Công trình này được mở rộng từ bảng chú dẫn của A.Aarne, trở thành công cụ hữu ích cho công tác nghiên cứu truyện kể dân gian. Tiếp đó xuất phát từ mối quan tâm tới mô típ - một cấp độ chi tiết cấu thành típ, S.Thompson biên soạn công trình Motif - index of folk - literature, A Classification of Narrative Element in Folk Tale, Ballads, Myths, Fables, Medieval, Romances, Exempla, Local Legends gồm 6 tập (xuất bản từ 1932 - 1936, tái bản năm 1955 -1958). Dựa trên nguồn tư liệu đa dạng về các thể loại như truyện cổ tích, ballad, thần thoại, truyện ngụ ngôn… S.Thompson đã lập nên một bảng phân loại các mô típ trong 23 chương từ A đến Z như sau: chương A - các mô típ thần thoại về tạo hóa, vũ trụ, thần linh… ; chương B các mô típ về các con vật thần thoại; chương C - các mô típ liên quan đến điều cấm kị hay bắt buộc; chương D - các mô típ ma thuật; chương E - các mô típ liên quan đến cái chết, linh hồn, đầu thai; chương F - các mô típ về những điều kỳ diệu; chương G các mô típ về lực lượng đáng sợ như yêu tinh, phù thủy; chương H - các mô típ liên quan đến thử thách; chương J - các mô típ liên quan đến sự khôn ngoan và ngốc nghếch; chương K - các mô típ liên quan đến sự lừa dối, đánh lừa…; chương L - các mô típ về sự đảo ngược của vận mệnh; chương M - các mô típ liên quan đến vệc phán xử, mặc cả, hứa hẹn…; chương N - các mô típ về sự may rủi và số phận; chương P - 4 các mô típ về hệ thống xã hội, luật pháp…; chương Q - các mô típ về thưởng và phạt; chương R - các mô típ bị bắt và bỏ trốn; chương S: các mô típ về sự độc ác; chương T - các mô típ liên quan đến giới tính; chương U - các mô típ có khuynh hướng thuyết giáo (trong truyện ngụ ngôn); chương V - các mô típ liên quan đến tôn giáo; chương W - các mô típ miêu tả tính cách nhân vật; chương X - các mô típ hài hước; chương Z - hỗn hợp các mô típ. Trong khung phân loại của S. Thompson xuất hiện khá nhiều típ truyện về người em, chẳng hạn típ 400 - The man on a quest for his lost wife, típ 552A - The girl who married with animal, típ 554 - The greatful animals, típ 570 The Rabbit-herd, típ 707 - The birds of truth, típ 550 - Search for the golden birds, típ 551 - The sons on a quest for a wonderful remedy for their father, típ 545 - The cats castle, típ 780 - The singing bone,… Nghiên cứu truyện cổ tích về người em, đáng chú ý nhất là công trình nổi tiếng Nhân vật truyện cổ tích hoang đường xuất xứ của hình tượng (1958) của E.M. Mêlêtinxki. Bàn về Nguồn gốc của truyện cổ tích về người em và vai trò của nó trong việc hình thành truyện anh hùng ca thần thoại [63;tr.90-207], E.M.Mêlêtinxki đã phân tích cơ sở làm nảy sinh truyện cổ tích về người em và khẳng định: “Việc lý tưởng hoá người em trong truyện cổ tích thần thoại là một hiện tượng xã hội. Đó là một sự biểu hiện riêng biệt... khuynh hướng dân chủ nhằm đối lập lại tình trạng bất công đã xuất hiện trong thời kỳ tan rã của chế độ thị tộc”. Trước đó, theo tổng kết của E.M.Mêlêtinxki, vấn đề lý tưởng hóa người em không được đặt ra trong nghiên cứu của một số trường phái văn học. Trường phái thần thoại chỉ coi “người con trai út hay người con gái út trong truyện cổ tích như những buổi bình minh ban mai che khuất các vì sao đêm là các anh hay các chị của mình. Họ không có ý muốn giải thích việc lý tưởng hóa người em” hay trường phái vay mượn cũng “tỏ ra thờ ơ với vấn đề này”. Còn với một đại diện của trường phái Phần Lan là V.Anđerson, ông cũng chỉ ra sự hạn chế trong luận điểm của V.Anđerson và quả quyết: “Anđerson còn lâu mới nhìn thấy ý nghĩa xã hội trong chủ đề người em”. E.M.Mêlêtinxki cho rằng trường phái nhân chủng học là trường phái đầu tiên đề cập đến vấn đề lý tưởng hóa người em. Ông đặc biệt chú ý tới các tài liệu nhân chủng học nói về phong tục minôrat như Eltôn với Nguồn gốc lịch sử nước Anh, Macskallôt với The childhood of fiction, Phreder với Truyện dân gian trong lời di huấn của Vetkhôn… Trên cơ sở đó, nhà nghiên cứu nhận định: Nhân vật người em trở thành trung tâm của việc hình thành và phát triển của đề tài truyện cổ tích thần kì ở các dân tộc đã 5 trải qua quá trình tan rã của chế độ thị tộc phụ hệ, quá trình tan rã của công xã gia đình và sở hữu công xã. Trong quá trình tan rã ấy, người anh thường hành động như những kẻ chiếm đoạt sở hữu công xã, còn người em trở thành khốn khổ. Ông lý giải hiện tượng này bằng những lập luận thuyết phục: “Với việc tăng cường vai trò gia đình trong sản xuất xã hội chế độ mẫu hệ bắt đầu có chiều hướng tan rã, người đàn ông trở thành chủ gia đình. Người đàn ông đã được coi là kẻ thừa kế ngay trước lúc chuyển hoàn toàn việc tính họ hàng theo bên cha”. Việc tách ra khỏi gia đình lớn để ở riêng của các cá nhân, kéo theo việc phân chia gia tài với mục đích đảm bảo quyền lợi của bản thân đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát sinh chế độ minôrat (đứng về phía người em) và chế độ maiôrat (đứng về phía người anh) trong việc phân chia tài sản. Đầu tiên “bên cạnh các người con trai của các em gái, người con trai út dần dần cũng được coi là người thừa kế di sản. Việc tranh chấp di sản của người con trai út với các con cái của người em gái cha đã báo trước sự chiến thắng của chế độ tư hữu gia đình đối với chế độ sở hữu họ hàng”. Về sau cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của hình thái gia đình phụ hệ, người anh cả được đưa lên vị trí hàng đầu, chỉ sau người cha. Khi tách ra ở riêng, phần tài sản mà họ được chia trở thành tài sản tư hữu thực sự. Sự thống nhất kinh tế của gia đình lớn đã bị phá vỡ. Khi phân chia khối tài sản chung, những người con lớn thường lợi dụng nguyên tắc gia trưởng để chiếm phần hơn, đặc biệt là sau khi cha mẹ mất đi. Có thể nói phong tục maiôrat đã thể hiện sự bất bình đẳng trong việc khẳng định quyền thừa kế tài sản của các thành viên trong cùng một gia đình đồng thời biến người em thành con người khốn khổ chịu nhiều bất hạnh thua thiệt nhất. Lúc này sự phân biệt trưởng thứ đã khá rõ ràng. Anh trở thành chủ - kẻ thống trị còn em là kẻ đi ở, làm thuê. Đi vào truyện cổ tích, người em giống như người mồ côi, người con riêng… trở thành nhân bật bất hạnh. Và “những hạng người bị thất thế, bị thiệt thòi kể trên xuất hiện ngày càng đông với sự phát triển của chế độ tư hữu, với sự phân hóa giai cấp ngày càng sâu sắc trong xã hội. Những hạng người ấy, là nguồn gốc của những nhân vật truyện cổ tích…”. Phân tích của E.M.Mêlêtinxki mang tính lý luận sâu sắc, cho chúng tôi hình dung tương đối đầy đủ về nguồn gốc hình thành kiểu truyện người em cũng như hình tượng nhân vật trung tâm - người em út. Thuyết minh cho những vấn đề thi pháp truyện cổ tích thần kì, trong tập giáo trình Sáng tác thơ ca dân gian Nga, tập 1 (xuất bản tại Liên Xô năm 1978, giới thiệu ở Việt Nam năm 1983) A.M.Nôvicôva bàn về xung đột xã hội trong truyện cổ tích thần kì, cũng chú ý đến nguyên nhân làm nảy sinh kiểu truyện người em. Theo đó: 6 “Thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thủy được đánh dấu bởi sự xuất hiện chế độ sở hữu tư nhân nó là nguyên nhân của sự khẳng định quyền con trưởng và phá vỡ sự bình đẳng về vật chất và tinh thần. Quá trình tan rã của thị tộc được phản ánh trong truyện cổ tích dưới dạng sự tan rã của gia đình. Truyện cổ tích kể về sự thù địch giữa anh em với nhau về quyền thừa kế…” đồng thời nhà nghiên cứu cũng nhận thấy kiểu truyện người em “có trong truyện cổ tích các dân tộc trên toàn thế giới… chốt chặt vào chủ đề người em út là một chuỗi những mô típ ổn định: việc chia gia tài không công bằng, thắng lợi của người em trong cuộc đua tranh, sự nham hiểm và ganh ghét của người anh” [66;tr.291]. Tác giả xác định truyện cổ tích về người em ở Nga được phân thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất gồm những biến thể của chủ đề chia gia tài không công bằng. Nhóm thứ hai, người em thường phải đối diện với sự phản trắc của người anh. Tác giả còn liên hệ: “có tính chất song trùng, gần gũi với các truyện cổ tích về người con trai út là các truyện cổ tích về người con gái út… Cơ sở xung đột của các truyện cổ tích thuộc nhóm này là lòng ganh ghét của các người chị. Mô típ chính của các truyện về người con gái út là mô típ kết hôn với con thú thần kì” [66,tr.293]. Bước đầu khảo sát tư liệu về kiểu truyện người em, chúng tôi cũng thấy rõ những dấu hiệu này trong truyện cổ tích Việt Nam. 2.2. Tình hình nghiên cứu kiểu truyện người em ở Việt Nam Mang trong mình những đặc điểm tương đồng và khác biệt về cả nội dung và hình thức so với các kiểu truyện, kiểu truyện người em với nhân vật trung tâm là người em út cũng từng bước thu hút được sự chú ý của các nhà folklore. 2.2.1. Nhìn lại lịch sử nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy một vài khía cạnh nổi bật thuộc kiểu truyện người em như nguồn gốc nảy sinh, phương thức biểu hiện, ý nghĩa phản ánh, đặc điểm hình tượng... đã được các nhà nghiên cứu đề cập rải rác trong một số giáo trình, tạp chí chuyên ngành. Năm 1973, Đinh Gia Khánh trong giáo trình Văn học dân gian tập II (in lại trong Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1998) đã nhận ra nét bản chất trong nghệ thuật của truyện cổ tích khi cho rằng: “truyện cổ tích phản ánh cuộc sống với những mâu thuẫn của nó, phản ánh những con người với những sự việc khác nhau do hoàn cảnh, do thành phần giai cấp tạo nên. Để phục vụ cho mục đích phản ánh đó, truyện cổ tích thường đưa ra những tình thế tương phản” và “cũng để biểu hiện được những mâu thuẫn và phức tạp của cuộc sống, truyện cổ tích hay sử dụng sự nhắc lại như là một phương pháp nghệ thuật. Sự nhắc lại có tác dụng khác 7 nhau” [45;tr.341]. Để minh chứng, tác giả dẫn ví dụ truyện Phượng hoàng và cây khế - một truyện cổ tích tiêu biểu trong kiểu truyện người em. Ông phân tích sự tương phản giữa hai nhân vật bằng cách chỉ ra sự đối lập về hoàn cảnh và tính cách giữa họ: người em nghèo nhưng không thiết tha đến của cải còn người anh giàu nhưng lại tham lam. Được đặt trong hoàn cảnh như nhau: cả hai cùng bắt gặp chim đến ăn khế, cùng được chim đưa ra đảo lấy vàng nhưng một đằng giả dối, tham lam, một đằng thật thà, trung hậu nên dẫn tới cách họ xử lý hoàn cảnh khác nhau. Như vậy sự nhắc lại ở đây rõ ràng có tác dụng nêu bật tâm lý của nhân vật này bằng cách đối chiếu với tâm lý của nhân vật kia. Tuy chỉ dẫn ra một trường hợp nhưng có thể thấy đây là công thức chung của kiểu truyện. Từ năm 1974 đến năm 1989, trong hơn 15 năm, diện mạo của kiểu truyện người em được phác họa có phần rõ nét hơn. Cao Huy Đỉnh trong Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam (1974) nói đến: “Một kiểu truyện cổ tích phổ biến về người em hiền lành, chăm chỉ lao động nhất định sẽ được hưởng hạnh phúc đối lập với người anh độc ác, gian tham nhất định phải đền tội…” đồng thời chỉ ra đặc tính của các nhân vật đối lập: “Thường thường, người anh (chị) cả bao giờ cũng lười biếng, độc ác, tham lam. Còn người em, nhất là em út (trai hay gái) bao giờ cũng hiền lành, thật thà, ngoan ngoãn và dũng cảm. Mọi liên hệ ruột thịt đã bị phá vỡ hoàn toàn vì những tính xấu đó của người anh (chị) cả. Nhân dân muốn xây dựng lại những tình cảm tự nhiên đó - đã mất từ khi có chế độ tư hữu - bằng cách lý tưởng hóa người em út hay cô gái út” [24;tr.62]. Trong mục Đặc điểm truyện cổ tích Việt Nam in cuối tập V - Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (1982), nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi nhận định: một trong những đối tượng mà truyện cổ tích bênh vực chính là người em và những vấn đề phức tạp nhưng lại phổ biến thuộc phạm vi gia đình như mâu thuẫn quyền lợi anh - em “còn thấy lặp đi lặp lại nhiều lần” [121;tr.461]. Khi tham gia biên soạn Từ điển văn học, tập 1 (1983) tác giả Chu Xuân Diên trong mục Cây khế cũng nói đến số phận người em út trong mối quan hệ xung đột với người anh cả, coi đây là “loại xung đột gia đình nảy sinh khi công xã thị tộc mẫu hệ tan rã, chế độ gia đình phụ hệ và gia đình riêng ra đời làm cơ sở cho sự hình thành quyền anh cả trong lĩnh vực thừa kế tài sản” [14;tr.112]. Võ Quang Nhơn với Văn học dân gian các dân tộc ít người Việt Nam (1983, in lại trong Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1998) đã dành tới hơn một trang phân tích nguồn gốc, sự hình thành của “loại truyện về các nhân vật bất hạnh”. Ông cho rằng: “Cùng với sự giải thể của gia đình lớn về mặt xã hội, xuất hiện sự tích luỹ tài sản tư hữu theo từng gia đình riêng lẻ. Cơ sở xã hội và 8 kinh tế sâu xa ấy tạo điều kiện cho sự xuất hiện một loạt truyện dân gian khá phổ biến ở các dân tộc ít người. Đó là truyện về các nhân vật như người em út, người con riêng” và phỏng đoán “có thể hạt nhân đầu tiên, đơn giản nhất của loại truyện về người mồ côi là kiểu truyện về những người anh em mồ côi… Trong những truyện này, ban đầu hai anh em ăn ở hòa thuận với nhau thương yêu đùm bọc nhau. Nhưng về sau, hoặc do nhân vật thứ ba trong gia đình nhỏ là người chị dâu xúi giục, xúc xiểm, hoặc do lòng tham của người anh mà người em bị ruồng rẫy, xua đuổi ra khỏi cuộc sống êm ấm của gia đình nhỏ… Một điều đã trở thành quy luật, là các tác giả dân gian xây dựng truyện thường tập trung những nét tốt đẹp để ca ngợi phẩm chất cao quý của người em. Đó là những con người cần cù lao động, trung hậu, thực thà, tốt bụng. Vì vậy họ được lực lượng từ thiện giúp đỡ” [45;tr.627]. Nguyễn Ngọc Thường trong bài báo Về mối quan hệ giữa motip và cốt truyện (1987) đã phát hiện ra sự khác biệt giữa hai dạng truyện chứa đựng “mô típ anh - em”. Dạng thứ nhất: “anh em tình nghĩa thủy chung, do anh lấy vợ mà nảy sinh mâu thuẫn bộ ba. Truyện kết thúc bi thảm nhưng nặng tình nặng nghĩa”. Dạng thứ hai: “tố cáo thái độ tham lam, độc ác của người anh và chị dâu đối với em: người em bị anh chiếm hết tài sản để lại, em chỉ được một vật ít giá trị (cây khế, con dao). Người em nhờ cần cù, nhân đạo cộng với thế lực thần linh trở nên giàu có, còn người anh tham lam bị trừng trị”. Tác giả lý giải thêm: “mâu thuẫn ấy là xung đột giữa thành viên trưởng với thành viên thứ trong gia đình (thị tộc). Đó là xung đột quyền lợi giữa người bóc lột với người bị bóc lột mà tác giả truyện cổ tích đứng về phía những người bất hạnh” [94]. Năm 1995, với bài viết Hướng dẫn tìm hiểu truyện “Cây khế” tác giả Đỗ Bình Trị cũng khẳng định: “Cơ sở xã hội - lịch sử của nhân vật người em út và xung đột anh em trong truyện cổ tích là sự xuất hiện và tồn tại quyền thừa kế tài sản của con trưởng (maiôrat) cùng với gia đình phụ quyền và chế độ tư hữu”. Về kết cấu của truyện, ông coi đây thuộc dạng kết cấu đồng quy: “Theo dạng kết cấu này, hai nhân vật, đối lập hoàn toàn về phẩm chất, cùng gặp một hoàn cảnh y như nhau, nhưng xử sự khác hẳn nhau về phẩm chất, cuối cùng đi đến những chung cục trái ngược nhau” [77;tr.216]. Năm 1998, trong công trình Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sỹ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á, tác giả Nguyễn Bích Hà có liên hệ đến kiểu truyện người em và đưa ra nhận xét: “Những người anh hoặc người chị luôn luôn được đặt trong cùng một thử thách với người em. Qua thử thách mà họ bộc lộ sự khác hẳn nhau về tính cách, đạo đức, tài năng… Người em luôn nhường nhịn, độ lượng còn 9 người anh tham lam, độc ác, ích kỷ… Kết thúc truyện người anh hoặc chị có chết cũng không bao giờ do chính người em trả thù. Theo nguyên tắc kết cấu của kiểu truyện này thì người em dù có bị anh chị hành hạ đến đâu chăng nữa thì cũng tha bổng cho người anh hay chị hoặc giúp họ khi có dịp” [33;tr.137]. Tuy nhiên, mở rộng tư liệu khảo sát chúng tôi thấy xuất hiện sự trả thù trực tiếp của người em đối với anh, dù tỉ lệ không nhiều. Năm 1999, trên Tạp chí Văn hoá dân gian, số 2, Chu Xuân Diên có bài viết Về cái chết của mẹ con người dì ghẻ trong truyện “Tấm Cám” (in lại trong Văn hoá dân gian mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại). Ở mục IV, khi nói về “sự bắt chước không thành công” trong truyện Tấm Cám, tác giả có liên hệ đến kiểu truyện người em: “Trong truyện cổ tích mô típ sự bắt chước không thành công được dùng phổ biến trong các chủ đề xung đột anh em, chị em. Trong loại truyện phân chia tài sản không công bằng khá phổ biến trong nhiều dân tộc ở Đông Nam Á (kể cả Nam Trung Quốc vốn thuộc khu vực văn hóa Đông Nam Á tiền sử) nhân vật người anh ghen ghét muốn trở nên giàu có như người em, đã bắt chước không thành công những điều người em đã từng làm một cách thành công”. Theo tác giả: “sở dĩ như vậy là do lòng tham của người anh, hoặc do không làm đúng theo lời chỉ bảo “thiêng liêng” (lời dặn của thần chẳng hạn) hoặc đối xử thô lỗ với kẻ giúp sức có phép thần (như con chim thần chẳng hạn)... Như vậy trong mô típ sự bắt chước không thành công của truyện cổ tích, ta thấy có sự nhấn mạnh vào yếu tố đạo đức” [15;tr.519]. Đây là một trong những gợi ý giúp chúng tôi nhìn nhận đầy đủ hơn ý nghĩa phản ánh của mô típ “bắt chước không thành công” - một mô típ rất đặc trưng trong kiểu truyện người em. Năm 2002, trong Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian (tái bản lần thứ nhất) Đỗ Bình Trị khái quát: “xung đột xã hội trong truyện cổ tích, đặc biệt trong truyện cổ tích thần kì, thường diễn ra trong phạm vi những quan hệ gia đình. Ta hiểu vì sao nhân vật bất hạnh luôn luôn là những thành viên lép vế nhất trong gia đình gia trưởng ngày xưa: người em út, người con riêng” [96;tr.13]. Đồng quan điểm, nhóm tác giả Phạm Thu Yến, Lê Trường Phát, Nguyễn Bích Hà khi biên soạn Giáo trình văn học dân gian (dành cho hệ đào tạo từ xa) cũng chỉ rõ: “Nhóm truyện người em là nhóm truyện mà mâu thuẫn và đấu tranh xã hội được ẩn dưới quan hệ giữa những người anh (hay chị) với người em út, em nuôi trong gia đình. Sự đối lập của họ hầu như không được trình bày trực diện, thường được giải thích bằng sự đối xử không công bằng giữa các thành viên trong gia đình” [107;tr.73]. Tháng 5/2008, trên tạp chí Văn học và Ngôn ngữ, tác giả Phan Xuân Viện có 10 bài viết: Trình giảng tác phẩm văn học dân gian với hiện tượng vượt khung/giao thoa. Đặt vấn đề về hiện tượng vượt khung/giao thoa giữa các thể loại, tiểu loại, tác giả phân tích sự giao thoa giữa tiểu loại “cổ tích thần kì” và “cổ tích thế tục” qua một số truyện cổ tích về người em út, tác giả đã xác định được các yếu tố thi pháp nổi bật của kiểu truyện: kết cấu, đề tài - cốt truyện, hệ thống nhân vật… đồng thời xác lập một số mô típ phổ biến như: mô típ nhân vật trợ thủ thần kì, mô típ bắt chước không thành công [104]. Sự nhìn nhận và đánh giá khách quan về kiểu truyện người em như trên, bước đầu đã chứng tỏ sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong nước đối với kiểu truyện. Tuy nhiên các ý kiến nhìn chung còn khá sơ lược, thiên về giới thuyết, khái quát mà chưa có sự phân tích kỹ lưỡng. 2.2.2. Trong khoảng chục năm trở lại đây, những vấn đề cụ thể của kiểu truyện người em như nhân vật, cốt truyện, mô típ… trở thành đối tượng nghiên cứu chính, được khai thác có hệ thống và toàn diện hơn trong một số khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ ở các cơ sở đào tạo trong nước. Năm 2002, đề tài Kiểu nhân vật người em trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam, được Nguyễn Thị Huyền Hậu khai thác trong khóa luận tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Theo tác giả, khái niệm “người em” không nằm trong thi pháp thể loại mà biểu hiện trong nội dung và quan hệ của con người cụ thể: “Là nhân vật văn học, nó mang tính loại hình, biểu tượng trước khi mang giá trị phản ánh và giá trị nghệ thuật: có anh có chị thì nhân vật được gọi là em. Hoàn cảnh, quan hệ của anh, chị với em ở mỗi gia đình là rất khác nhau và phản ánh vào trong văn chương cũng muôn màu muôn vẻ như vậy”. Từ đó tác giả xác định một số dạng quan hệ anh chị em thường gặp trong truyện cổ dân gian, như dạng “anh (chị) em xung đột gay gắt về quyền lợi, trong đó người em đại diện cho chính nghĩa, còn phía anh (chị) là kẻ ác, phi nghĩa… Đây là mô hình quan hệ cho ta hình tượng xã hội đậm nét hơn ở một giai đoạn mà đời sống đã phát triển tới trình độ khá cao về vật chất lẫn tinh thần”. Bằng việc khảo sát 45 truyện cổ tích, tác giả khóa luận đã có những phát hiện về đặc điểm nhân vật người em, sự phát triển của hình tượng nhân vật trong kết cấu tác phẩm đồng thời chỉ ra ý nghĩa của kiểu nhân vật này trong truyện cổ tích các dân tộc. Năm 2003, kiểu truyện người em được triển khai trong khóa luận tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 - Tìm hiểu kiểu truyện người em út trong truyện cổ 11 tích thần kì Việt Nam của sinh viên Nguyễn Thanh Vân. Trên cơ sở tư liệu 35 truyện, tác giả đã khảo sát một số mô típ của kiểu truyện như mô típ chia gia tài, mô típ thử thách, mô típ thưởng - phạt… và coi đó là hạt nhân tạo dựng cốt truyện của kiểu truyện người em. Tuy nhiên với dung lượng hạn hẹp của một khóa luận tốt nghiệp đại học, tác giả cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận diện mà chưa đi sâu phân tích nguồn gốc, sự diễn hóa của các mô típ cũng chưa nhìn ra vai trò của chúng đối với kết cấu của kiểu truyện. Cũng trong năm 2003, luận văn thạc sĩ Kiểu truyện “người em út” trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Lê Thị Thanh An được bảo vệ tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh. Kế thừa nền tảng lý thuyết từ hai công trình Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sỹ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á [33] và Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích Việt Nam [42], tác giả đã triển khai nội dung luận văn theo trình tự xác định “các motif chính trong kết cấu của kiểu truyện”; xác định “kết cấu của kiểu truyện người em út” thông qua “sự tồn tại của các motif riêng lẻ; hai nhân vật chính của kiểu truyện người em và sự xâu chuỗi các motif vào cốt truyện” đồng thời chỉ ra “lược đồ kết cấu của kiểu truyện người em út”. Tác giả còn so sánh kiểu truyện người em ở Việt Nam với 17 truyện cùng kiểu ở một số nước trên thế giới. Như vậy, một số vấn đề căn bản của kiểu truyện đã được đặt ra và bước đầu luận văn đã có “những lý giải về một kiểu truyện quen thuộc và phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới về một số phương diện như nguồn gốc hình thành, motif chủ yếu và các motif khác, cấu trúc bộ phận và cấu trúc của toàn kiểu truyện…”[3;tr.129]. Tuy nhiên trong luận văn, tác giả mới chỉ quan tâm tới những truyện kể có chủ đề anh - em phân chia gia tài (50 truyện của Việt Nam và 17 truyện của nước ngoài). Thiết nghĩ, để có một sự khẳng định chắc chắn và thuyết phục về kiểu truyện cần phải khảo sát một số lượng truyện “đầy đặn” và chứa đựng nhiều chủ đề hơn nữa. Ở các công trình trên, các tác giả đã đạt được những kết quả nhất định trong việc xác định kiểu nhân vật, hình thức kết cấu và một số mô típ chính của kiểu truyện. Song phạm vi tư liệu chỉ giới hạn ở những truyện kể mô tả xung đột anh trưởng - em út với một số lượng còn hạn chế (35 - 50 truyện) nên kết quả nghiên cứu chưa đủ để bao quát cho toàn bộ diện mạo của kiểu truyện. Đây là “khoảng trống” cần được “lấp đầy” vì muốn tìm hiểu cặn kẽ hơn về kiểu truyện nhất thiết phải đi từ kết quả khảo sát cụ thể. Nghiên cứu kiểu truyện người em từ góc độ so sánh, năm 2005, tác giả 12 Nguyễn Bích Hà công bố bài viết: Vận dụng lý thuyết văn học so sánh, tìm hiểu kiểu truyện người em trong truyện cổ tích Việt Nam và châu Âu trên Tạp chí Nghiên cứu văn học. Việc vận dụng lý thuyết văn học so sánh đã giúp tác giả tìm ra những nét tương đồng (chủ đề) và khác biệt (nhân vật, hoàn cảnh thử thách, xử lý hoàn cảnh, kết thúc kiểu truyện, mô hình kết cấu) trong kiểu truyện người em ở Việt Nam và châu Âu. Những phát hiện và kiến giải thuyết phục của tác giả đã gợi ý cho chúng tôi khám phá kiểu truyện từ góc độ này. Năm 2009, Bùi Trần Quỳnh Ngọc có bài So sánh kiểu truyện về người em trong kho tàng cổ tích Việt Nam và Anh - Tạp chí Văn hoá dân gian, số 1, đã xác lập khái niệm truyện cổ tích về người em: “Truyện cổ tích về người em, về nguyên tắc, phải là truyện kể về sự đối kháng giữa các anh em, kể về sự bất công của các người anh đối với người em, mưu mô tham lam hoặc phản bội của người anh đối với người em” [70;tr.54]. Đồng thời tác giả phân tích những điểm tương đồng, khác biệt về kiểu truyện người em trong truyện cổ tích hai nước trên các phương diện: đề tài, nhân vật và một số mô típ tiêu biểu như: mô típ thử thách, mô típ về sự lặp lại, mô típ thưởng phạt. Năm 2010, tiếp tục quan tâm tới truyện cổ tích về người em út, trên tạp chí Asian Ethnology Bùi Trần Quỳnh Ngọc có bài viết The Social Contract and Symbolic Structure in Three Vietnamese Tales of the “Last Born”. Dẫn chứng và phân tích ba truyện cổ tích tiêu biểu của Việt Nam (Cây khế, Hà rầm hà rạc, Nhân tham tài nhi tử điểu tham thực nhi vong) tác giả chứng minh truyện về người em út phản ánh sự thay đổi của cấu trúc xã hội truyền thống, từ chế độ người con út thừa kế sang chế độ người con trưởng thừa kế. Với sự gia tăng của chế độ phụ hệ, người con út dần dần trở thành đối tượng yếu thế nhất trong gia đình trên phương diện tài sản. Những hành động đối lập giữa họ với người anh đã tạo ra sự thưởng - phạt rất thích hợp của câu chuyện và điều này phản ánh quan niệm đạo đức. Không chỉ giới hạn trong ba truyện cổ tích của Việt Nam, tác giả còn so sánh với một số truyện kể của nước ngoài và nhận ra sự tương tự về chủ đề và cốt truyện trong truyện về người em ở nhiều nơi. Như vậy, kiểu truyện người em đã được khai thác ở hầu hết các khía cạnh quen thuộc của thể loại: lý giải nguồn gốc, xác định kết cấu, phân tích nhân vật, nhận diện mô típ… song rõ ràng là, với mục tiêu nghiên cứu khác nhau nên nhiều biểu hiện quan trọng của kiểu truyện còn chưa được quan tâm đúng mức. Từ thực tế đó, chúng tôi cho rằng kiểu truyện người em còn có thể khám phá từ nhiều góc độ hơn nữa, nhằm làm sáng tỏ những giá trị được bảo lưu từ ngàn đời của kiểu truyện trong kho 13 tàng truyện cổ dân gian quý giá của dân tộc. 3. Mục đích nghiên cứu 3.1. Nghiên cứu kiểu truyện người em trên cơ sở khảo sát và phân loại tư liệu truyện cổ tích các dân tộc, nhằm chứng minh sự “bao phủ” rộng rãi của kiểu truyện ở khắp các vùng văn hóa trong cả nước, cũng như thấy được diện mạo, đặc điểm, đặc trưng của nó bên cạnh những kiểu truyện khác trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. 3.2. Nghiên cứu kiểu truyện người em, còn để hiểu sâu sắc hơn những giá trị nhiều mặt được tích hợp trong kiểu truyện, đồng thời cũng là cơ hội hiểu sâu sắc hơn nội dung phản ánh đa dạng, phương thức tái tạo hiện thực độc đáo trong truyện cổ tích nói chung. 3.3. Nghiên cứu kiểu truyện người em, từ cái nhìn so sánh nhằm thấy được những nét riêng trong phương thức xây dựng nhân vật, cấu tạo cốt truyện... của cổ tích Việt Nam trong bức tranh chung của cổ tích thế giới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Ngay từ những thao tác đầu tiên, tiến hành khảo sát tư liệu phục vụ cho công việc nghiên cứu chúng tôi đã nhận ra sự hiện diện vô cùng phong phú của truyện cổ tích về người em. Từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, chúng tôi đã thống kê được 185 truyện đề cập tới mối quan hệ anh (chị) - em (tên truyện và nguồn tư liệu được trình bày trong Phụ lục 1 của luận án). Mối quan hệ đó biểu hiện qua hai khuynh hướng: Thứ nhất là quan hệ tốt đẹp, có trong 50/185 truyện: anh (chị) - em sống hoà thuận, tương thân tương ái, chia ngọt sẻ bùi hay đoàn kết chống lại thế lực hắc ám… Thứ hai là quan hệ đối kháng, có trong 135/185 truyện: anh (chị) tham lam, độc ác - em nhân hậu, ngay thẳng, thật thà. Trong đối sánh với người anh (chị) người em luôn chịu nhiều đau khổ, bất hạnh… Trong luận án, chúng tôi chỉ lựa chọn những truyện kể phản ánh mối quan hệ đối kháng làm đối tượng khảo sát và nghiên cứu chính. 4.2. Những truyện kể thuộc phạm vi nghiên cứu của chúng tôi, phần lớn nằm trong tiểu loại cổ tích thần kì - một tiểu loại, vốn đã được thừa nhận là tiêu biểu bậc nhất của thể loại. Khuynh hướng nổi bật của truyện cổ tích thần kì, như nhận định của các nhà nghiên cứu, không phải là trình bày “cái đang có”, “cái đã có” mà hướng tới “cái sẽ có”, “cái có thể có”. Vì thế, dưới sự tác động của yếu tố thần kì, tiến trình cốt 14 truyện chủ yếu diễn ra theo chiều hướng kết thúc có hậu và nhân vật trung tâm là những con người bất hạnh, được lý tưởng hóa. Việc xác định đúng đặc trưng tiểu loại, trong trường hợp này sẽ giúp chúng tôi có những phân tích, lý giải chính xác về kiểu truyện người em. Bên cạnh đó, chiếm một số lượng ít hơn rất nhiều (6/135 truyện), là những truyện kể thuộc tiểu loại cổ tích sinh hoạt (truyện số 44, 45, 52, 89, 92, 131 – Phụ lục 2). Chủ đề chính của chúng vẫn là phản ánh mối quan hệ đối kháng giữa anh (chị) em trong gia đình nhưng để hóa giải xung đột truyện, tác giả dân gian không còn sử dụng yếu tố thần kì như một phương tiện nghệ thuật. Vì vậy, tính chất hiện thực, đời thường ở những truyện kể thuộc tiểu loại này đậm nét hơn so với truyện kể thuộc tiểu loại cổ tích thần kì. Dựa trên kết quả khảo sát tư liệu về kiểu truyện như trên, phần lớn các nội dung nghiên cứu trong luận án được chúng tôi triển khai, dựa trên nguồn tư liệu liên quan đến tiểu loại cổ tích thần kì. 4.3. Đề tài có tên Kiểu truyện người em trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam, song thực tế cho thấy Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, việc khai thác vốn truyện kể của tất cả các dân tộc là hết sức khó khăn. Tương tự, việc tiếp cận vốn truyện cổ của tất cả các quốc gia trên thế giới cũng là điều không hề dễ dàng. Vì vậy, chúng tôi chủ yếu triển khai nội dung các chương trên cơ sở thống kê nguồn truyện cổ tích các dân tộc thiểu số đã được dịch sang tiếng phổ thông và truyện cổ tích của một số quốc gia châu Á và châu Âu đã được dịch ra tiếng Việt và tiếng Anh, bao gồm: 135 truyện của Việt Nam, 45 truyện của châu Á và 70 truyện của châu Âu. 4.4. Nghiên cứu của chúng tôi, tập trung vào các phương diện cụ thể làm nên diện mạo và đặc điểm của kiểu truyện người em trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam; từ cái nhìn tổng thể, chúng tôi đi sâu vào phương diện cấu trúc cơ bản của kiểu truyện, là các mô típ đặc trưng; cuối cùng, so sánh để tìm ra nét tương đồng và đặc thù giữa kiểu truyện người em của Việt Nam với một số quốc gia châu Á và châu Âu. 5. Phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp thống kê, phân loại: được chúng tôi sử dụng trong quá trình khảo sát, thống kê, phân loại và mô tả đặc điểm tư liệu, đi đến những số liệu tin cậy, làm cơ sở vững chắc cho công việc nghiên cứu các nội dung của luận án. 5.2. Phương pháp tiếp cận hệ thống: chúng tôi quan niệm kiểu truyện người em là một hệ thống hoàn chỉnh, vì vậy phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận từng bộ 15 phận cấu thành nên hệ thống cấu trúc của kiểu truyện, sự tương tác giữa các thành tố (nhân vật, cốt truyện, mô típ), tính toàn vẹn của kiểu truyện. 5.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp: được vận dụng trong việc phân tích nhân vật (diễn biến số phận, hành động của các nhân vật; mối quan hệ của nhân vật chính với nhân vật đối thủ, nhân vật trợ giúp…); phân tích ý nghĩa văn học, ý nghĩa dân tộc học, văn hóa học… của các mô típ; phân tích vai trò kết nối của các mô típ trong toàn bộ kết cấu kiểu truyện; phân tích sự tương đồng và khác biệt của kiểu truyện trong quá trình so sánh… Từ đó tổng hợp, rút ra nhận xét, đánh giá. 5.4. Phương pháp so sánh - loại hình: là phương pháp hiệu quả, giúp chúng tôi tiến hành so sánh đối chiếu “truyện với truyện” thuộc kiểu truyện người em của Việt Nam và của một số quốc gia châu Á và châu Âu, để phát hiện ra tính phổ biến rộng rãi, mối tác động ảnh hưởng qua lại của kiểu truyện; so sánh nhằm phát hiện và lý giải những vấn đề nguồn gốc xã hội, cội nguồn văn hóa, môi trường nảy sinh… của kiểu truyện; so sánh để thấy được nét gặp gỡ, giao thoa trong kiểu truyện người em của các dân tộc do chịu (hoặc không chịu) ảnh hưởng về văn hóa, xã hội, lịch sử… 5.5. Phương pháp liên ngành: kết hợp phương pháp nghiên cứu của các ngành dân tộc học, văn hóa học, ngữ văn học… để tìm hiểu những “dấu vết” cổ xưa, nội dung phản ánh, ý nghĩa biểu đạt… của kiểu truyện. Sử dụng các phương pháp trên trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi mong muốn đạt được những kết quả nghiên cứu khả quan, đáp ứng tốt mục tiêu nghiên cứu đã đề ra. 6. Đóng góp của luận án 6.1. Nghiên cứu một cách hệ thống về kiểu truyện người em, luận án góp thêm một tiếng nói khẳng định vị trí của kiểu truyện trong kho tàng truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam. Qua việc khảo sát, thống kê và phân tích, giải mã các ý nghĩa cơ bản của cốt truyện, nhân vật và các mô típ trong kiểu truyện người em, từ các góc độ: ngữ văn học, thi pháp học, dân tộc học, văn hóa học… luận án đã chỉ ra và khẳng định các giá trị văn học, văn hóa, lịch sử, xã hội, tôn giáo tín ngưỡng… mà truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam đã chứa đựng, biểu trưng… 6.2. Luận án đã mở rộng, liên hệ so sánh truyện cổ tích về người em của Việt Nam với truyện của một số quốc gia cùng khu vực và trên thế giới để phát hiện giá trị độc đáo riêng biệt, bản sắc cũng như những nét chung, tương đồng mang tính toàn cầu của kiểu truyện này.
- Xem thêm -