Tài liệu Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty tnhh xây dựng phú quý

  • Số trang: 95 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 45 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

Báo cáo tốt nghiệp 1 Học viện Ngân hàng LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới - WTO đánh dấu một sự chuyển biến mang tính bước ngoặt đối với nền kinh tế. Bước vào một “sân chơi mang tính quốc tế” vừa là cơ hội để Việt Nam vươn mình ra khỏi phạm vi khu vực, đưa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế, đồng thời cũng là một thách thức lớn đòi hỏi phải có sự vận động một cách toàn diện đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Vì, vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả? Để thực hiện được mục tiêu trong các doanh nghiệp cần đặt ra cho mình 1 phương hướng hoạt động sao cho hợp lý và có hiệu quả để có thể cạnh tranh trên thị trường. Cạnh tranh đơn thuần không chỉ là cạnh tranh về chất lượng mà còn cạnh tranh về giá cả. Vì vậy vấn đề hạ chi phí, hạ giá thành sản phẩm luôn được đặt lên hang đầu đối với mọi doanh nghiệp. Vấn đề này không còn là vấn đề mới mẻ nhưng nó luôn là vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm. Vì lí do này hay lí do khác các doanh nghiệp cần có các biện pháp để đạt được mục tiêu giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm nhưng vẫn đảm bảo chất lượng để tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường. Việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp có ý nghĩa lớn trong công tác quản lý chi phí và giá thành. Đứng trước những thách thức đó nhà nước ta đã có nhiều biện pháp như cải cách bộ máy hành chính, tạo điều kiện thông thoáng cho các nhà đầu tư và tạo ra hành lang pháp lý thống nhất. Đây là một trong những điều kiện cho các doanh nghiệp có điều kiện phấn đấu hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đó là một trong những điều kiện hết sức quan trọng để sản phẩm của doanh nghiệp được thị trường chấp nhận và có sức cạnh tranh trên thị trường. Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm” nhằm hiểu rõ và trang bị thêm kiến thức cơ bản về lý thuyết và thực tiễn của kế toán doanh nghiệp. Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp 2 Học viện Ngân hàng 2. Mục đích nghiên cứu + Tổng hợp những kiến thức đã học tại trường, vận dụng vào thực tiễn nhằm củng cố và tích luỹ kiến thức. + Tập hợp các chi phí phát sinh và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để tính giá thành sản phẩm . + Đánh giá tình hình chi phí và giá thành của công ty, từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm hạ giá thành sản phẩm. 3. Phạm vi nghiên cứu: - Các loại chi phí trong công ty TNHH xây dựng Phú Qúy - Các loại sản phẩm của công ty TNHH xây dựng Phú Qúy - Phương pháp hạch toán chi phí của công ty TNHH xây dựng Phú Qúy - Phương pháp tính giá thành của công ty TNHH xây dựng Phú Qúy 4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài - Sử dụng ba loại thước đo là: thước đo hiện vật, thước đo lao động và thước đo giá trị. - Các phương pháp kinh tế như: Phương pháp chứng từ, phương pháp đối ứng tài khoản, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán. 5. Kết cấu của báo cáo Ngoài phần mở đầu và phần kết luận báo cáo gồm 3 chương: Chương 1:Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH xây dựng Phú Qúy Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH xây dựng Phú Qúy. Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp 3 Học viện Ngân hàng CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất 1.1.1. Chi phí sản xuất 1.1.1.1. Khái niệm Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tính cho từng thời kì nhất định (tháng, quý, năm). 1.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất -Trong doanh nghiệp sản xuất , chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại khác nhau, chúng tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm, dưới những hình thái khác nhau. Để quản lý và hạch toán chi phí sản xuất chặt chẽ, và có hệ thống thì yêu cầu đặt ra là phải phân loại chi phí sản xuất. -Tùy theo việc xét chi phí sản xuất ở các góc độ khác nhau và mục đích quản lý chi phí mà chi phí sản xuất được phân loại theo những hình thức thích hợp. Tuy nhiên, về mặt hạch toán chi phí sản xuất thường được phân theo các tiêu thức sau: a,Phân loại theo yếu tố chi phí Căn cứ vào nội dung kinh tế của chi phí để sắp xếp những chi phí có nội dung kinh tế ban đầu giống nhau vào cùng một nhóm chi phí. Cách phân loại này không phân biệt nơi chi phí phát sinh và mục đích sử dụng của chi phí. Mục đích của cách phân loại này là nhằm biết được chi phí sản xuất của doanh nghiệp gồm những loại nào, số lượng, giá trị của từng loại chi phí là bao nhiêu. Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia làm 6 yếu tố sau: Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp 4 Học viện Ngân hàng - Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế… sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp cho sản xuất sản phẩm. - Yếu tố nhân công: Chi phí về việc sử dụng lao động trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm, dịch vụ. - Yếu tố khấu hao TSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong thời kỳ của tất cả các TSCĐ sử dụng cho sản xuất trong phạm vi phân xưởng như: nhà kho, nhà xưởng, máy móc thiết bị… - Yếu tố chi phí công cụ dụng cụ: Bao gồm những chi phí liên quan đến việc sử dụng các công cụ dụng cụ, các trang thiết bị về an toàn lao động. - Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Là những chi phí về dịch vụ mua ngoài phải trả trong kỳ phục vụ cho hoạt động sản xuất ở phân xưởng như:chi phí điện, nước, thuê ngoài sửa chữa TSCĐ… - Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Những chi phí phát sinh bằng tiền phục vụ cho hoạt động sản xuất ở phân xưởng chưa được kể đến ở các loại trên. b, Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm Cách phân loại này dựa trên công dụng của chi phí trong quá trình sản xuất sản phẩm. Mục đích của cách phân loại này là để tìm ra các nguyên nhân làm thay đổi giá thành so với định mức và đề ra các biện pháp hạ giá thành sản phẩm. Theo cách phân loại này chi phí sản xuất có các loại sau: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ (có thể bao gồm cả giá thành sản xuất của bán thành phẩm). - Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm toàn bộ tiền lương và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ, dịch vụ cùng với các khoản trích theo tỉ lệ quy định cho các quỹ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ (phần trích tính vào chi phí). Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp 5 Học viện Ngân hàng - Chi phí sản xuất chung: Gồm toàn bộ các chi phí còn lại phát sinh trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất sau khi đã loại trừ chi phí nguyên, vật liệu và chi phí nhân công trực tiếp nói trên. c, Phân loại theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành Cách phân loại này chia chi phí ra làm 2 loại: - Định phí (chi phí cố đổi): Là những chi phí mang tính chất tương đối ổn định không phụ thuộc vào số lượng sản phẩm sản xuất trong một mức sản lượng nhất định. Các chi phí này nếu tính cho một đơn vị sản phẩm thì lại thay đổi nếu số lượng sản phẩm thay đổi. - Biến phí (chi phí biến đổi): Là những chi phí thay đổi phụ thuộc vào số lượng sản phẩm sản xuất như: chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp… Nhưng các chi phí biến đổi nếu tính trên một đôn vị sản phẩm thì lại mang tính ổn định. Cách phân loại này rất thuận lợi cho việc phân tích điểm hòa vốn, lập kế hoạch và kiểm tra chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh. d, Phân loại theo cách thức kết chuyển chi phí: Theo cách thức kết chuyển chi phí, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành: - Chi phí thời kỳ: Là những chi phí phát sinh trong kỳ hạch toán, bao gồm những chi phí lưu thông trong kỳ hạch toán và chi phí quản lý hành chính. - Chi phí sản phẩm: Là khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm, hoặc được mua. 1.1.2. Giá thành sản phẩm 1.1.2.1. Khái niệm Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng hoặc một đơn vị sản phẩm, dịch vụ nhất định do doanh nghiệp sản xuất đã hoàn thành trong kỳ. Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử dụng tài sản, vật tư lao động và tiền vốn trong quá trình sản xuất, nó còn là Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp 6 Học viện Ngân hàng căn cứ quan trọng để định giá bán và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất sản phẩm. 1.1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm Để đáp ứng yêu cầu của quản lý, hạch toán giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xác định dưới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Về lý luận cũng như trên thực tế, giá thành được phân theo hai cách chủ yếu sau: a, Phân theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành Theo cách phân loại này chỉ tiêu giá thành được chia thành 3 loại: - Giá thành kế hoạch: Là loại giá được xác định trước khi bắt đầu sản xuất của kỳ kế hoạch dựa trên cơ sở giá thành kì trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp. - Giá thành định mức: Được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch nên giá thành định mức luôn biến động phù hợp với sự biến động của các định mức chi phí đạt được trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành. Giá thành định mức là thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất, giúp cho đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. - Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành thực tế là căn cứ để kiểm tra, đánh giá tình hình tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành và xác định kết quả kinh doanh. b, Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí Theo cách phân loại này, chỉ tiêu giá thành được chia làm 2 loại: Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp Học viện Ngân hàng 7 - Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng): Là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất (chi phí NVL trực tiếp, chi phí NCTT, chi phí SXC). Giá thành sản xuất là căn cứ để hạch toán thành phẩm nhập kho, giá vốn hàng bán và mức lãi gộp của doanh nghiệp trong kỳ - Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ): Những chi phí tính cho sản phẩm tiêu thụ tại thời điểm sản phẩm được tiêu thụ. Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức: Giá thành của toàn bộ SP tiêu Giá thành sản xuất = thụ của sản phẩm tiêu thụ + Chi phí quản lý doanh nghiệp + Chi phí bán hàng 1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm về bản chất là hai mặt của quá trình sản xuất. Nếu như chi phí sản xuất biểu hiện mặt hao phí của quá trình sản xuất (các yếu tố chi phí đầu vào) thì giá thành sản phẩm lại biểu hiện mặt kết quả của quá trình sản xuất đó (kết quả đầu ra). * Sự giống nhau: Chi phí sản xuất và giá thành có mối quan hệ mật thiết với nhau và giống nhau về chất vì đều là những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất và chế tạo sản phẩm. Chi phí sản xuất là cơ sở, là căn cứ để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành. * Sự khác nhau giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm - Chi phí sản xuất không gắn liền với số lượng chủng loại sản phẩm hoàn thành, còn giá thành sản phẩm lại liên quan đến khối lượng sản phẩm công việc hoàn thành. - Chi phí sản xuất chỉ tính đến những chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ, không tính đến chi phí đó có liên quan đến số sản phẩm hoàn thành hay chưa. Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp Học viện Ngân hàng 8 Giá thành sản phẩm là giới hạn số chi phí sản xuất liên quan đến khối lượng sản phẩm công việc đã hoàn thành. - Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể giống hay khác nhau khi có hay không có chi phí sản xuất dở dang. Khi chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ bằng chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì tổng chi phí sản xuất bằng tổng giá thành sản phẩm. Trong trường hợp có chi phí chờ phân bổ, chi phí phải trả thì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong kỳ là khác nhau. Nếu trong kỳ có chi phí phát sinh chi phí chờ phân bổ thì chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí đó, còn giá thành sản phẩm chỉ bao gồm phần chi phí được phân bổ cho kỳ này. Nếu trong kỳ có phát sinh chi phí phải trả, đây là các khoản chi phí chưa phát sinh nhưng được trích trước để tính vào giá thành, nên chi phí sản xuất trong kỳ không bao gồm khoản này, còn giá thành sản phẩm lại có bao gồm.Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm qua sơ đồ sau : Chi phí sản xuất phát sinh trong Chi phí SXKD dở dang đầu kỳ A kỳ B Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành C D Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ Qua sơ đồ trên ta thấy: =+- AC = AB + BD – CD Tổng giá thành sản phẩm = Đinh Thị Lan Hương Giá trị SPDD đầu kỳ + Chi phí phát sinh trong kỳ + Giá trị SPDD cuối kỳ Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp 9 Học viện Ngân hàng 1.2. Nhiệm vụ của kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm Trên cơ sở tập hợp đầy đủ và chính xác CPSX sẽ giúp cho các doanh nghiệp phản ánh đúng đắn kết quả sản xuất, từ đó có biện pháp cải tiến công tác quản lý kinh tế nói chung và quản lý chi phí sản xuất nói riêng, cho nên yêu cầu đặt ra với doanh nghiệp là phải thực hiện nhiệm vụ sau: - Phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất, phân loại giá thành sản phẩm một cách đúng đắn, phù hợp. - Căn cứ vào đặc điểm qui trình công nghệ, đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp để xác định đối tượng tính giá thành, phương pháp tính thích hợp. - Tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ kế toán phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp và đúng với chế độ hiện hành. - Vận dụng phương pháp tập hợp chi phí sản xuất, phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang và phương pháp tính giá thành cho phù hợp. - Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch chi phí sản xuất, kế hoạch giá thành sản phẩm, đề xuất những ý kiến để tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm. - Định kỳ cung cấp các báo cáo về CPSX và giá thành cho nhà quản trị. 1.3. Đối tượng kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm 1.3.1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là xác định giới hạn về mặt phạm vi mà chi phí cần được tập hợp để phục vụ cho việc kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm. - Căn cứ để xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất: + Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất: Tuỳ theo việc bố trí nhiệm vụ sản xuất cho các bộ phận, tổ, đội…để xác định. Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp 10 Học viện Ngân hàng + Căn cứ vào đặc điểm quy trình sản xuất: Tuỳ theo đặc điểm quy trình công nghệ là quy trình phức tạp hay giản đơn, phức tạp kiểu liên tục, song song hay hỗn hợp. + Căn cứ vào trình độ và yêu cầu về thông tin quản lý… Mà đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là: Loại sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, giai đoạn sản xuất, phân xưởng sản xuất… Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là cơ sở cho việc mở các tài khoản chi tiết (cấp II, cấp III) và các sổ kế toán chi tiết, phục vụ cho công tác hạch toán chi tiết chi phí sản xuất cho từng đối tượng và giúp tăng cường công tác quản lý đến từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất. 1.3.2. Đối tượng kế toán tính giá thành sản phẩm Xác định đối tượng tính giá thành là xác định đối tượng mà hao phí vật chất được doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất được kết tinh trong đó nhằm định lượng hao phí cần được bù đắp cũng như tính toán được kết quả kinh doanh. - Căn cứ xác định: + Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh. + Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ là giản đơn hay phức tạp, phức tạp kiểu liên tục, song song hay hỗn hợp. + Căn cứ vào trình độ và yêu cầu của quản lý. + Căn cứ vào việc sử dụng nửa thành phẩm. Mà đối tượng tính giá thành có thể là: Chi tiết sản phẩm, bán thành phẩm, đơn đặt hàng, hạng mục công trình… 1.4. Kế toán Chi phí sản xuất 1.4.1. Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên 1.4.1.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu...được xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ. Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp 11 Học viện Ngân hàng Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được tập hợp vào các đối tượng chịu chi phí như sau: - Đối với những vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt (phân xưởng, bộ phận sản xuất hoặc sản phẩm, loại sản phẩm, lao vụ ...) thì tập hợp trực tiếp cho đối tượng đó. - Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể tổ chức hạch toán riêng được thì áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho từng đối tượng có liên quan. Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng là: Định mức tiêu hao cho từng sản phẩm, hệ số phân bổ được quy định, theo trọng lượng sản phẩm hay số lượng sản phẩm sản xuất ra... * Tài khoản sử dụng - Để theo dõi các khoản chi phí nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ trong kỳ sản xuất, kinh doanh, kế toán sử dụng tài khoản 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. - Kết cấu TK621: TK621 + Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế phát sinh trong kỳ xx x Đinh Thị Lan Hương + Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng không hết được nhập lại kho + Kết chuyển chi chí nguyên vật liệu trực tiếp vào giá thành – TK154 xx x Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp 12 Học viện Ngân hàng Sơ đồ 1.1: kết cấu tài khoản 621 Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp Học viện Ngân hàng 13 TK621 không có số dư cuối kỳ. * Phương pháp hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được thể hiện qua sơ đồ sau: 152 621 154 (5) (4) (1) 152 (6) 111, 112, 331 (2) 632 1331 (7) (3) Sơ đồ 1.2: Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phương pháp KKTX Ghi chú: (1) Xuất kho NVL dùng cho sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ. (2) Mua NVL dùng ngay vào sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ. (3) Thuế GTGT được khấu trừ. (4) Kết chuyển chi phí NVL trực tiếp để tính giá thành sản phẩm. (5) Phế liệu thu hồi nhập kho (6) NVL sử dụng không hết nhập lại kho. (7) Phần chi phí NVL trực tiếp vượt trên mức bình thường. 1.4.1.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp Chi phí nhân công trực tiếp là các khoản phải trả cho lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ dịch vụ như tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp (phụ cấp khu vực, độc hại, làm thêm giờ, làm đêm ...). Ngoài ra, chi phí nhân công trực tiếp còn bao gồm các khoản bảo hiểm xã Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp 14 Học viện Ngân hàng hội,bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn và được tính vào chi phí kinh doanh theo một tỷ lệ nhất định trên số tiền lương phải trả của công nhân trực tiếp sản xuất. Đối với những khoản chi phí nhân công trực tiếp có liên quan đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí, kế toán tiến hành tập hợp trực tiếp theo từng đối tượng chi phí cụ thể. Đối với những khoản chi phí nhân công trực tiếp có liên quan đến nhiều đối tượng mà không hạch toán trực tiếp được thì được tập hợp chung rồi chọn tiêu thức phân bổ thích hợp cho các đối tượng chịu chi phí liên quan. Tiêu thức phân bổ chi phí nhân công trực tiếp có thể là chi phí tiền công định mức, giờ công định mức, giờ công thực tế, khối lượng sản phẩm... Trên cơ sở tiền lương được phân bổ sẽ tiến hành trích BHXH, BHYT ,BHTN và KPCĐ theo tỷ lệ quy định lần lượt là 17%, 3%, 1%, 2% trên tổng quỹ lương tính vào chi phí. * Tài khoản sử dụng - Để theo dõi tình hình phát sinh chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp. - Kết cấu TK622: TK 622 + Tập hợp chi phí nhân công thực tế pháp sinh. xxx + Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào tài khoản tính giá thành. xxx Sơ đồ 1.3: kết cấu tài khoản 622 Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp Học viện Ngân hàng 15 TK622 không có số dư cuối kỳ. * Nội dung hạch toán chi phí nhân công trực tiếp thể hiện theo sơ đồ sau: 334 (1) 338 154 622 (4) (2) 632 335 (3) (5) Sơ đồ 1.4: Kế toán chi phí nhân công trực tiếp theo phương pháp KKTX Ghi chú: (1): Lương phải trả công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ. (2): Tính BHXH, BHYT, KPCĐ cho công nhân sản xuất, thực hiện dịch vụ. (3): Trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất. (4): Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá thành. (5): Phần chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường. 1.4.1.3. Kế toán chi phí sản xuất chung Chi phí sản xuất chung là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm sau chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Đây là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất chung bao gồm các khoản sau: + Chi phí nhân viên phân xưởng. + Chi phí công cụ dụng cụ. Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp 16 Học viện Ngân hàng + Chi phí khấu hao TSCĐ. + Chi phí dịch vụ mua ngoài. + Chi phí bằng tiền khác. * Tài khoản sử dụng - Để theo dõi các khoản chi phí sản xuất chung kế toán sử dụng tài khoản 627- Chi phí sản xuất chung, mở chi tiết cho từng đối tượng, bộ phận sản xuất. - Kết cấu tài khoản 627: Nợ TK 627 + Tập hợp chi phí sản xuất chung thực tế pháp sinh trong kỳ. Có + Các khoản làm giảm chi phí sản xuất chung. + Chí phí sản xuất chung cố định không phân bổ được ghi nhận vào giá vốn hàng bán trong kỳ do mức sản xuất sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất bình thường. + Kết chuyển chi phí sản xuất chung vào tài xxx khoản tính giá thành. xxx Sơ đồ 1.5: Kết cấu tài khoản 627 TK627 không có số dư cuối kỳ. TK627 còn có các TK cấp II để theo dõi chi tiết đối tượng. + TK6271: Chi phí nhân viên phân xưởng. + TK6272: Chi phí vật liệu. + TK6273: Chi phí dụng cụ sản xuất. + TK6274: Chi phí khấu hao TSCĐ. + TK6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài. + TK6278: Chi phí bằng tiền khác. Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp 17 Học viện Ngân hàng Do chi phí sản xuất chung liên quan đến nhiều loại sản phẩm, lao vụ dịch vụ nên khi phát sinh chi phí sản xuất chung, kế toán căn cứ vào yếu tố chi phí tập hợp bên Nợ TK627 rồi tiến hành phân bổ theo tiêu thức thích hợp. Trong thực tế, một số tiêu thức thường được sử dụng là: Phân bổ chi phí sản xuất chung theo đinh mức, theo giờ công làm việc, theo số giờ máy làm việc… * Nội dung hạch toán chi phí sản xuất chung được thể hiện theo sơ đồ sau: TK627 TK334,338 TK111,112,152... (1) (8) TK152,153,142,242 (2) TK214 TK154 (3) TK111,112,331,141,... (9) (4) TK133 (5) TK632 TK111,112 (6) (10) TK111,112,335,142,242 (7) Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp 18 Học viện Ngân hàng Sơ đồ 1.6: Kế toán chi phí sản xuất chung theo phương pháp KKTX Ghi chú: (1): Chi phí về tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng. (2): Chi phí vật liệu, dụng cụ sản xuất. (3): Chi phí khấu hao TSCĐ. (4): Chi phí dịch vụ mua ngoài. (5): Thuế GTGT được khấu trừ. (6): Chi phí bằng tiền khác. (7): Chi phí đi vay phải trả. (8): Các khoản thu giảm chi (9): Kết chuyển chi phí sản xuất chung để tính giá thành. (10): Khoản chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ vào giá thành. 1.4.1.4. Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất, kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang a, Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất Sau khi tập hợp các chi phí liên quan đến sản xuất sản phẩm vào bên Nợ các TK621, TK622, TK627 cần tổng hợp các chi phí đó để tính giá thành sản phẩm. Để tập hợp chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm theo phương pháp KKTX, kế toán sử dụng tài khoản 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. Kết cấu TK154: 154 Nợ Có + Kết chuyển chi phí sản xuất thực + Các khoản giảm chi phí sản xuất trong tế phát sinh trong kỳ kỳ. +Giá thành sản xuất thực tế của sản + Chi phí sản xuất kinh doanh dở Đinh Thị Lan Hương dang. phẩm, lao vụ hoàn thành. Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp Học viện Ngân hàng 19 Sơ đồ 1.7: kết cấu tài khoản 154 * Nội dung kế toán tập hợp chi phí sản xuất được thể hiện trong sơ đồ dưới đây: TK 154 TK 621 TK 152, 156 (1) (4) TK 622 TK 155 (2) (5) TK 627 (6) (3) TK 157 TK 632 (7) (8) Sơ đồ 1.8: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp KKTX Ghi chú: (1): Phân bổ, kết chuyển chi phí NVL trực tiếp. (2): Phân bổ, kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp. (3): Phân bổ, kết chuyển chi phí sản xuất chung. (4): Hàng hoá, vật liệu gia công chế biến hoàn thành nhập kho. (5): Sản phẩm hoàn thành nhập kho. (6): Hàng gửi bán. Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12 Báo cáo tốt nghiệp 20 Học viện Ngân hàng (7): Sản phẩm, dịch vụ hoàn thành tiêu thụ ngay. (8): Khoản chi phí SXC cố định không phân bổ vào giá thanh sản phẩm. b, Kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn chế biến, còn đang nằm trong quá trình sản xuất hoặc đã hoàn thành một vài quy trình chế biến nhưng không phải gia công chế biến tiếp mới trở thành thành phẩm. Có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá sản phẩm dở dang, việc sử dụng phương pháp nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất, quy trình sản xuất và tính chất của sản phẩm của mỗi doanh nghiệp. Sau đây là một số phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang: * Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí NVL trực tiếp Theo phương pháp này, toàn bộ chi phí chế biến được tính hết cho thành phẩm vì vậy, trong sản phẩm dở dang chỉ bao gồm giá tr ị v ật li ệu chính mà thôi. Giá trị SPDD đầu kỳ + chi phí Giá trị SPDD cuối kỳ = NVL phát sinh trong kỳ Số lượng SPDD cuối kỳ + Số x Số lượng SPDD cuối kỳ lượng SP hoàn thành Phương pháp này được áp dụng đối với các doanh nghiệp mà giá thành sản phẩm có chi phí NVL TT chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm (thường là > 70 %), có ít sản phẩm dở dang và số lượng sản phẩm dở dang giữa các tháng là tương đối đồng đều. Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ tính cung cấp thông tin kịp thời cho nhà quản lý, song mức độ chính xác lại không cao. * Đánh giá sản phẩm dở dang theo sản lượng ước tính tương đương Theo phương pháp này dựa vào mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang so với thành phẩm để quy đổi số lượng sản phẩm dở dang ra số lượng sản phẩm tương đương. Đinh Thị Lan Hương Lớp: KTB K12
- Xem thêm -