Tài liệu Kế toán nlvl tại công ty cổ phần xây dựng dân dụng và phát triển giao thông nghệ an.

  • Số trang: 55 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 60 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34345 tài liệu

Mô tả:

Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT NVL Nguyên vật liệu DN Doanh nghiệp SXKD Sản xuất kinh doanh HTK Hàng tồn kho GTGT Giá trị gia tăng GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp DANH MỤC BẢNG BIỂU Phụ lục 1.1 Quy trình hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp thẻ song song Phụ lục 1.2 Quy trình hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển Phụ lục 1.3 Quy trình hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ số dư Phụ lục 2.1 Hóa đơn GTGT Phụ lục 2.2 Biên bản kiểm nghiệm Phụ lục 2.3 Phiếu nhập kho Phụ lục 2.4 Phiếu xuất kho Phụ lục 2.5 Sơ đồ hạch toán chi tiết NLVL Phụ lục 2.6 Thẻ kho Phụ lục 2.7 Sổ chi tiết NVl Phụ lục 2.8 Bảng nhập – xuất – tồn kho NVL Phụ lục 2.9 Sổ chi tiết thanh toán với người mua Phụ lục 2.10 Sổ nhật ký chung Phụ lục 2.11 Sổ cái TK 152 Phụ lục 2.12 Sổ cái TK 621 Phụ lục 3.1 Mẫu sổ danh điểm NVL Phụ lục 3.2 Biên bản giao nhận vật tư GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp TÓM LƢỢC Nguyên liệu vật liệu ( NLVL) là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể giá trị của sản phẩm. NLVL chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp (DN). Tổ chức công tác kế toán NLVL tốt sẽ góp phần đảm bảo cho công tác quản lý, sử dụng NLVL có hiệu quả, giúp tiết kiệm chi phí một cách hợp lý nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vì vậy việc hoàn thiện công tác kế toán NLVL tại các doanh nghiệp sản xuất là điều cần thiết. Thông qua cuốn chuyên đề này, em tập trung nghiên cứu kế toán NLVL tại Công ty Cổ phần xây dựng dân dụng và phát triển giao thông Nghệ An. Nội dung chính của chuyên đề là khái quát và hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến kế toán NLVL trong các doanh nghiệp. Đồng thời tìm hiểu thực trạng kế toán NLVL tại Công ty Cổ phần xây dựng dân dụng và phát triển giao thông Nghệ An, tìm ra những hạn chế, tồn tại từ đó đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại đó. GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp LỜI CẢM ƠN Qua quá trình học tập tại trường Đại học Thương Mại em đã nhận được sự chỉ bảo, giảng dạy tận tụy, ân cần của các thầy cô giáo trong trường, đặc biệt là sự theo sát của các thầy cô trong khoa Kế toán – Kiểm toán đã mang lại cho em nhiều kiến thức chuyên ngành giúp em tự tin vững bước trên những chặng đường phía trước. Em xin chân thành cảm ơn các anh chị trong phòng kế toán, toàn bộ nhân viên trong Công ty Cổ phần xây dựng dân dụng và phát triển giao thông Nghệ An, đặc biệt là cô giáo TS. Lê Thị Thanh Hải đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp em hoàn thành chuyên đề tôt nghiệp này. Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã cùng giúp đỡ, tạo điều kiện để em hoàn thiện bài chuyên đề đúng thời hạn. Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên trong bài không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy cô giáo, bạn đọc góp ý để bài chuyên đề của em được hoàn thiện và đầy đủ hơn. Em xin chân thành cảm ơn! GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết, ý nghĩa của “ Kế toán nguyên liệu vật liệu” NVL là tài sản thường xuyên biến động, nó đảm bảo cho dây truyền sản xuất diễn ra liên tục, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Bất kỳ doanh nghiệp sản xuất nào cũng phải có chi phí nguyên vật liệu và chi phí này thường chiếm tỷ lệ từ 60 – 70% trong giá thành sản phẩm. Vì vậy quản lý chi phí NLVL là cần thiết và rất phức tạp. Các doanh nghiệp phải tìm biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Có nhiều công cụ quản lý NLVL khác nhau. Nhưng việc quản lý phải được thực hiện từ khi nhận đầu vào, dự trữ đến khi sản xuất đều phải quản lý tốt ở từng khâu. Chính vì vậy quản lý NLVL, cũng như quản lý chi phí nói chung là nội dung không thể thiếu trong bất kỳ doanh nghiệp sản xuất nào. Để đảm bảo cho sản xuất diễn ra ổn định và liên tục các doanh nghiệp cần chú ý đến NVL dùng cho sản xuất phải đủ về số lượng, đúng về chất lượng và kịp về thời gian. Do vậy việc quản lý NLVL là thực sự cần thiết. Người quản lý phải nắm bắt được thông tin chính xác về dự trữ, thu mua, nhập - xuất cũng như việc ghi chép để sản xuất có hiệu quả hơn. Kế toán nguyên liệu vật liệu có những quy định nhất định về hạch toán, quản lý tuy nhiên trên thực tế những nguyên tắc, phương pháp hạch toán ấy còn gặp nhiều bất cập, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc vận dụng các nguyên tắc, các phương pháp hạch toán đó. Mỗi một phương pháp tính giá NLVL nhập kho – xuất kho, mỗi một hình thức hạch toán đều tồn tại những hạn chế nhất định, do đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm rõ đặc điểm của doanh nghiệp mình, từ đó lựa chọn những phương pháp tính giá và phương pháp hạch toán phù hợp nhằm mang lại tình chính xác, hiệu quả trong hạch toán và quản lý NLVL trong DN. Bên cạnh đó Chuẩn mực kế toán Việt nam số 02 còn mang tính chung chung không nêu ra các đối tượng không được áp dụng tính giá hàng tồn kho như chuẩn mực kế toán quốc tế số 02( các đối tượng không áp dụng tính giá hàng tồn kho là các sản phẩm nông nghiệp, khoáng sản, và mối giới thương mại). Mặt khác Tại điều 13 của chuẩn mực kế toán số 02 việc tính giá NVL xuất kho được áp dụng theo một trong các phương pháp sau:phương pháp tính giá đích danh, phương pháp bình quân gia quyền, phương pháp nhập trước xuất trước, phương pháp nhập sau xuất trước. các công ty áp dụng một trong các phương pháp này để tính GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp giá NLVL xuất kho và phải thống nhất trong một kỳ kế toán, xong trên thực tế trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đa ngành sử dụng nhiều loại NLVL với số lượng, đặc điểm, đặc tính khác nhau nếu áp dụng một phương pháp tính giá cố định lại gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tính giá NLVL xuất kho cụ thể nếu một doanh nghiệp vừa kinh doanh vật liệu xây dựng, bánh kẹo, chế tác nữ trang theo yêu cầu của khách hàng nếu công ty áp dụng theo phương pháp tính giá bình quân không phù hợp đối với mặt hàng nữ trang do mặt hàng nữ trang có số lượng hàng tồn kho có giá trị lớn nếu áp dụng phương pháp này làm cho đọ chính xác không cao dẫn đến ảnh hưởng tới giá thực tế của sản phẩm, lợi nhuận mang lại của nó không cao. Bản thân em cũng nhận thấy rằng nếu nguyên vật liệu đầu vào không đảm bảo thì sẽ không thu được kết quả như mong muốn, vì thế cần phải quân tâm, đầu tư cho yếu tố đầu vào. Từ nội dung và tầm quan trọng của kế toán NLVL đối với doanh nghiệp em nhận thấy NLVL cũng có sự ảnh hưởng và ý nghĩa với bản thân em, NLVL là một phần không thể thiếu để xây dựng nên cuộc sống của chúng ta. Vì vậy em chọn đề tài kế toán nguyên liệu vật liệu để tìm hiểu nghiên cứu, em muốn qua bài khóa luận này em sẽ hiểu rõ hơn về NLVL, tìm ra những mặt tồn tại đưa ra những biện pháp sử dụng, quản lý phù hợp để có hiệu quả cao trong sử dụng, nâng cao vai trò của NLVL 2. Mục tiêu cụ thể đặt ra cần giải quyết trong “ Kế toán nguyên liệu vật liệu” 2.1. Mục tiêu về mặt lý thuyết Trên phương diện lý thuyết thì đề tài sẽ đề cập đến hệ thống các văn bản pháp quy với mục đích chính là hệ thống hóa những lý luận cơ bản về kế toán NLVL tại công ty nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan và hoàn thiện nhất. Nghiên cứu về một số lý thuyết về kế toán NLVL trong các doanh nghiệp theo chuẩn mực kế toán và theo chế độ kế toán hiện hành bao gồm: các nguyên tắc tính giá NLVL; xác định giá trị NLVL xuất kho, nhập kho; phương pháp hạch toán chi tiết, tổng hợp NLVL; phương pháp kế toán NLVL; chứng từ kế toán sử dụng; tài khoản sử dụng; hình thức kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp. 2.2. Mục tiêu về mặt thực tiễn. Trên phương diện khảo sát thực trạng, trong thời gian thực tập tại công ty em đã tiến hành tìm hiểu thực tế về công ty cũng như việc hạch toán kế toán tại công ty, đề GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp tài nghiên cứu kế toán nguyên liệu vật liệu để xây dựng công trình tại công ty Cổ phần xây dựng dân dụng và giao thông Nghệ An nhằm những mục tiêu thực tiễn sau: Thứ nhất: Khảo sát thực trạng kế toán NLVL tại công ty Cổ phần xây dựng dân dụng và phát triển giao thông Nghệ An, tìm hiểu sự vận dụng chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán tại công ty Thứ hai: Đánh giá thực trạng qua đó làm rõ ưu điểm, nhược điểm về kế toán NLVL để xây dựng các công trình tại công ty Thứ ba: Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán NLVL nói chung và tại công ty Cổ phần xây dựng dân dụng và giao thông Nghệ An nói riêng 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của kế toán nguyên liệu vật liệu 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu Nghiên cứu kế toán nguyên liệu vật liệu tại Công ty Cổ phần xây dựng dân dụng và phát triển giao thông Nghệ An 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về không gian: Chuyên đề được thực hiện tại công ty Cổ phần xây dựng dân dụng và phát triển giao thông Nghệ An từ ngày 23/ 4/ 2012 đến ngày 12/ 6/ 2012 - Phạm vi về thời gian: Số liệu và thông tin sử dụng trong bài được lấy thực tế trong tháng 1 năm 2012 tại công ty Cổ phần xây dựng và phát triển giao thông Nghệ An 4. Phƣơng pháp ( cách thức) thực hiện đề tài 4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu Tìm đọc các quyển giáo trình, các tạp chí kinh tế, tạp chí nghiên cứu kế toán tài chính từ những bài viết đó chọn lựa và áp dụng vào chuyên đề 4.2. Phƣơng pháp điều tra quan sát Để tiến hành thu thập dữ liệu, em đã dùng phương pháp điều tra bằng một hệ thống những câu hỏi đóng liên quan đến kế toán nguyên liệu vật liệu tại công ty. Phiếu điều tra được gửi cho Giám đốc, phụ trách kế toán, thủ kho. Nội dung phiếu điều tra bao gồm: - Thứ nhất: những vấn đề chung + Công ty đang thực hiện chế độ kế toán theo quyết định nào? GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp + Niên độ kế toán của công ty + Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo mô hình nào? + Hình thức kế toán được áp dụng tại phòng kế toán của công ty, phương pháp tính thuế GTGT, phương pháp hạch toán hàng tồn kho? - Thứ hai: Những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu + Nguyên vật liệu của công ty được phân loại theo những tiêu thức nào? + Nguyên tắc tính giá nguyên vật liệu nhập kho? + Phương pháp tính giá nguyên vật liệu xuất kho? + Hệ thống các chứng từ sổ sách tài khoản kế toán sử dụng trong kế toán nguyên vật liệu + Phương pháp hạch toán chi tiết nguyên vật liệu? Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu + Công ty có lập dự phòng giảm giá nguyên vật liệu hay không? + Công ty có đưa ra định mức hao hụt nguyên vật hay không? Có đưa ra định mức dự trữ nguyên vật liệu hay không? Các câu hỏi trên được thiết kế theo kiểu câu hỏi đóng, là nêu ra các câu hỏi và các câu trả lời để người được điều tra tích vào 4.3. Phƣơng pháp phân tích thông tin Sau khi đã thu thập được các dữ liệu về công tác kế toán NLVL sản xuất tại công ty, tiến hành phân tích dữ liệu đó để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu bằng phương pháp thủ công. 5. Kết cấu của chuyên đề Gồm có ba chương: Chương I: Cơ sở lý luận của kế toán nguyên liệu vật liệu Chương II: Thực trạng của kế toán nguyên liệu vật liệu tại công ty Cổ phần xây dựng dân dụng và phát triển giao thông Nghệ An Chương III: Các kết luận và đề xuất về kế toán nguyên liệu vật liệu GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KẾ TOÁN NGUYÊN LIỆU, VẬT LIỆU 1.1. Cơ sở lý luận của kế toán nguyên liệu, vật liệu 1.1.1. Một số khái niệm và phân loại nguyên liệu vật liệu 1.1.1.1. Một số khái niệm Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 – Hàng tồn kho của Bộ tài chính, Hàng tồn kho là những tài sản được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường, đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang; nguyên liệu; vật liệu; công cụ, dụng cụ ( gọi chung là vật tư) để sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 – Hàng tồn kho của Bộ tài chính thì nguyên liệu, vật liệu là một bộ phận của hàng tồn kho. Do vậy, Nguyên vật liệu là một bộ phận của tài sản ngắn hạn dự trữ cho sản xuất, lưu thông hoặc đang trong quá trình sản xuất, chế tạo của doanh nghiệp. Nguyên vật liệu là đối tượng lao động - một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể sản phẩm. Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nguyên vật liệu bị tiêu hao toàn bộ và chuyển toàn bộ giá trị một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Hay nói cách khác vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định và khi tham gia vào quá trình sản xuất, dưới tác dụng của lao động, chúng bi tiêu hao toàn bộ hay thay đổi hình thái ban đầu để tạo ra hình thái vật chất của sản phẩm. Nguyên vật liệu là yếu tố đầu vào quan trọng nhất của quá trình sản xuất kinh doanh, nó chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm, về mặt giá trị nguyên vật liệu chuyển dịch một lẩn hoàn toàn vào giá trị của sản phẩm mới tạo ra. Nguyên vật liệu của doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. 1.1.1.2 : Phân loại nguyên liệu vật liệu 1.1.1.2.1. Căn cứ vào nội dung kinh tế và yêu cầu quản lý. Theo cách phân loại này, NLVL được chia thành các loại sau: Nguyên liệu, vật liệu chính: Là loại nguyên liệu, vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì cấu thành thực thể vật chất, thực thể chính của sản phẩm. Vì vậy khái GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp niệm nguyên liệu, vật liệu chính gắn liền với từng doanh nghiệp sản xuất cụ thể như vải trong các doanh nghiệp may, sắt thép trong nhà máy chế tạo cơ khí… Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất, không cấu thành thực thể chính của sản phẩm nhưng có thể kết hợp với vật liệu chính để hoàn thiện nâng cao tính năng, chất lượng sản phẩm như: Thay đổi màu sắc hình dáng bên ngoài, hoặc tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được diễn ra bình thường, hoặc phục vụ cho nhu cầu công nghệ, bảo quản, đóng gói…Ví dụ như khoá, nhãn mác, chỉ trong các doanh nghiệp may. Nhiện liệu: Là những thứ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, thể rắn, thể khí như: Than, xăng dầu, khí đốt… Phụ từng thay thế: Là những vật tư dùng để thay thế, sửa chữa máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ dụng cụ sản xuất: như chân vịt máy khâu, suốt chỉ, kim khâu…trong các doanh nghiệp may. Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Là những loại vật liệu, thiết bị được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản. Đối với thiết bị cơ bản bao gồm các thiết bị cần lắp, không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt vào công trình xây dựng cơ bản. Vật liệu khác (phế liệu): Là những vật liệu chưa được sắp xếp vào các loại trên, thuờng là các vật liệu loại ra từ quá trình sản xuất hoặc phế liệu thu hồi trong quá trình thanh lý tài sản cố định. Tuỳ vào yêu cầu quản lý và hạch toán chi tiết mà trong từng loại vật liệu nêu trên lại chia thành từng nhóm với những quy cách, phẩm chất riêng. Mỗi loại trong nhóm được quy định một ký hiệu riêng tuỳ thuộc vào doanh nghiệp sao cho thuận lợi để theo dõi. Cách phân loại này có tác dụng làm cơ sở xác định mức tiêu hao, định mức dự trữ cho từng loại nguyên vật liệu dùng cho sản xuất sản phẩm. 1.1.1.2.2. Căn cứ vào mục đích, công dụng của NLVL Theo cách phân loại này NLVL của DN được chia thành: - Nguyên liệu, vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất, chế tạo sản phẩm - Nguyên liệu, vật liệu dùng cho công tác quản lý GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại - Khóa luận tốt nghiệp Nguyên liệu, vật liệu dùng cho các mục đích khác như: Nhượng bán; Đem góp vốn liên doanh; Đem biếu tặng Cách phân loại này giúp cho quá trình sản xuất, quản lý NVL trong doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. 1.1.1.2.3. Căn cứ vào nguồn nhập - Nguyên liệu, vật liệu do mua ngoài - Nguyên liệu, vật liệu gia công chế biến, tự chế biến - Nguyên liệu, vật liệu nhận vốn góp liên doanh - Nguyên vật liệu thuê ngoài gia công chế biến - Nguyên vật liệu được cấp phát, biếu tặng - Phế liệu thu hồi Phân loại theo cách này thuận lợi cho việc kiểm tra, theo dõi và xây dựng kế hoạch NVL cho quá trình thu mua dự trữ, là cơ sở xây dựng kế hoạch sản xuất và tính giá vốn NVL nhập kho. Tác dụng của phân loại NVL: Tuỳ vào mỗi căn cứ khác nhau, doanh nghiệp phân chia NVL thành các loại khác nhau. Việc phân chia NVL giúp cho kế toán tổ chức các tài khoản tổng hợp, chi tiết để phản ánh tình hình hiện có và sự biến động của các loại NVL trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp nhận biết rõ về nội dung kinh tế, vai trò, chức năng của từng loại NVL trong sản xuất, từ đó có biện pháp tích cực trong việc tổ chức, quản lý và sử dụng có hiệu quả các loại NVL. 1.1.2. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán nguyên liệu, vật liệu 1.1.2.1. Yêu cầu quản lý nguyên liệu, vật liệu Trong doanh nghiệp sản xuất, NVL là tài sản thuộc nhóm tài sản lưu động. Quá trình sản xuất diễn ra liên tục và NVL cũng không ngừng tiêu hao, do vậy doanh nghiệp phải tổ chức thu mua NVL để đáp ứng kịp thời cho những yêu cầu trong doanh nghiệp. Cung cấp NVL phải đủ về mặt số lượng, đúng về chất lượng, sử dụng vật liệu phải tiết kiệm và hiệu quả. Quản lý tốt NVL còn là điều kiện xác định kết quả sản xuất kinh doanh và đánh giá giá trị tài sản của doanh nghiệp một cách đầy đủ, xác thực. GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp Muốn vậy, doanh nghiệp phải tổ chức công tác quản lý chặt chẽ cả hai chỉ tiêu hiện vật và giá trị ở tất cả các khâu: Từ khâu thu mua, bảo quản, dự trữ đến khâu sử dụng nguyên vật liệu. + Trong khâu thu mua: Nguyên vật liệu là tài sản dự trữ thường xuyên biến động, các doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành thu mua NVL để đáp ưng kịp thời cho quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và các nhu cầu khác trong doanh nghiệp. Ở khâu thu mua đòi hỏi phải quản lý về khối lượng, chất lượng, quy cách chủng loại, giá mua, chi phí mua và thuế giá trị gia tăng được khấu trừ. Đồng thời phải quản lý việc thực hiện kế hoạch thu mua theo đúng tiến độ thời gian phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. + Trong khâu bảo quản, dự trữ: Để quá trình sản xuất được thực hiện liên tục phải dự trữ nguyên vật liệu đầy đủ, không gây gián đoạn trong sản xuất nhưng cũng không được dự trữ quá lượng cần thiết gây ứ đọng vốn, tốn diện tích. Phải xây dựng định mức dự trữ cần thiết mức tối đa và mức tối thiểu cho sản xuất, xây dựng định mức tiêu hao vật liệu trong sử dụng cũng như định mức hao hụt hợp lý trong việc vận chuyển và bảo quản. Số lượng NVL dự trữ cần hợp lý, không nên dự trữ quá nhiều hay quá ít. + Trong khâu sử dụng: Doanh nghiệp cần tính toán đầy đủ chính xác, giá NVL có trong giá vốn của thành phẩm, đồng thới căn cứ trên các định mức tiêu hao cho từng loại sản phẩm mà có xuất dùng cho phù hợp vừa đảm bảo chất lượng của sản phẩm vừa tiết kiệm tối đa NVL cho sản xuất. Do vậy, trong khâu sử dụng phải tổ chức tốt việc ghi chép phản ánh tình hình xuất dùng và sử dụng NVL trong sản xuất kinh doanh đảm bảo sử dụng tiệt kiệm và hiệu quả. + Trong khâu thu hồi phế liệu: Bất cứ một doanh nghiệp nào hay một đơn vị sản xuất nào hoặc xây dựng thì đều có phế liệu và phế phụ phẩm, có nhiều loại khác nhau mỗi loại có thể sử dụng hoặc đưa vào tái sản xuất, hoặc có thể thanh lý hay bán cho các đơn vị có thể tái sản xuất, chế biến thành sản phẩm khác. Do vậy, việc tổ chức thu hồi phế liệu, phế phụ phẩm cần được tổ chức tốt và chặt chẽ nhằm tiết kiệm được chi phí NVL đồng thời có thể giảm giá thành. 1.1.2.2. Nhiệm vụ của kế toán nguyên liệu, vật liệu Có thể quản lý chặt chẽ tình hình thu mua, vận chuyển, bảo quản, dự trữ và sử dụng NVL là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý hoạt động sản GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Xuất phát từ vị trí yêu cầu quản lý của NVL cũng như vị trí, vai trò của kế toán trong việc quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp, tổ chức kế toán NVL cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: Thứ nhất: Kế toán NVL phải thực hiện phân loại đánh giá NVL theo nguyên tắc nhất định để đáp ứng cầu về quản lý NVL. Thứ hai: Tổ chức chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ kế toán phù hợp với phương pháp hạch toán hàng tồn kho để phản ánh, phân loại và tổng hợp số liệu về số hiện có và tình hình nhập xuất từng loại, nhóm, thứ NVL cần cung cấp thông tin phục vụ cho yêu cầu quản lý. Thứ ba: Thông qua việc phản ánh tổng hợp và cung cấp số liệu để thực hiện kiểm tra tình hình thu mua, tình hình dự trữ với NVL, và tình hình thực hiện định mức tiêu hao NVL, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời các trường hợp sử dụng NVL sai mục đích và lãng phí. Thứ tư: Thực hiện kiểm kê NVL theo yêu cầu quản lý, lập báo cáo về NVL, tham gia công việc phân tích thực hiện kế hoạch thu mua, bảo quản, dự trữ và sử dụng NVL trong quá trình sản xuất kinh doanh. 1.2. Nội dung nghiên cứu kế toán nguyên liệu, vật liệu 1.2.1. Đánh giá nguyên liệu, vật liệu Nguyên vật liệu là bộ phận của tài sản lưu động được phản ánh trong sổ kế toán và trên báo cáo tài chính theo giá trị vốn thực tế. Đánh giá NVL là việc xác định giá trị của NVL ở những thời điểm nhất định theo phương pháp cụ thể và những nguyên tắc nhất định đảm bảo yêu cầu chân thực và thống nhất. Dưới tác động của quy luật thị trường, trị giá bằng tiền của NVL thay đổi liên tục. Đặc biệt trong doanh nghiệp sản xuất, chi phí NVL chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng chi phí sản xuất và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận cuối cùng của doanh nghiệp. Vì vậy, bên cạnh việc quản lý về số lượng, doanh nghiệp cần quan tâm quản lý cả về mặt giá trị của NVL. Việc đánh giá NVL trong doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp theo dõi được giá trị của số NVL nhập - xuất - tồn, làm cơ sở cho việc ra quyết định trong sản xuất. 1.2.1.1. Nguyên tắc đánh giá Khi đánh giá NVL phải tuân thủ theo các nguyên tắc sau: GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp - Nguyên tắc giá gốc Theo chuẩn mực số 02- Hàng tồn kho, nguyên vật liệu được đánh giá theo giá gốc. Giá gốc hay còn gọi là trị giá vốn thực tế của NVL, đó là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra: chi phí thu mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp phát sinh để được hàng hoá tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại. - Nguyên tắc thận trọng Áp dụng trong điều 04 - chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 về hàng tồn kho được ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ – BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ tài chính: “ Hàng tồn kho được tính theo giá gốc. Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được”. Giá trị thuần có thể thực hiện là giá bán ước tính của NVL trong kỳ sản xuất kinh doanh trừ đi chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng. Thực hiện nguyên tắc thận trọng bằng cách trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, kế toán đã ghi sổ theo giá gốc và phản ánh khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Do đó, trên báo cáo tài chính trình bày thông quan 2 chỉ tiêu: + Trị giá vốn thực tế NVL + Dự phòng giảm giá hàng tồn kho (điều chỉnh giảm giá) Giá trị thuần có thể thực hiện = của hàng tồn kho (trong ĐK SXKD bình thường) Chi phí Chi phí ước Giá bán ước tính ước tính tính để hoàn - thành sản phẩm - cần thiết cho tiêu thụ - Nguyên tắc nhất quán Các phương pháp kế toán áp dụng trong đánh giá NVL phải đảm bảo tính nhất quán là kế toán đã lựa chọn phương pháp nào thì phải áp dụng phương pháp đó trong suốt niên độ kế toán. Doanh nghiệp có thể thay đổi phương pháp đã chọn, nhưng phải đảm bảo phương pháp thay thế cho phép trình bày thông tin kế toán một cách trung thực, hợp lý hơn, đồng thời phải giải thích được sự thay đổi đó. GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại 1.2.1.2. Khóa luận tốt nghiệp Phƣơng pháp đánh giá NLVL trong các doanh nghiệp có thể được đánh giá theo trị giá gốc ( hay còn gọi là giá vốn thực tế) và giá hạch toán 1.2.1.2.1. Đánh giá nguyên liệu, vật liệu theo giá thực tế a, Giá NLVL nhập kho hoặc dùng ngay không qua kho Tính giá của NVL nhập kho tuân thủ theo nguyên tắc giá phí. NVL nhập kho trong kỳ bao gồm rất nhiều nguồn nhập khác nhau. Tuỳ theo từng nguồn nhập mà cấu thành giá trị thực tế của NVL nhập kho được xác định khác nhau. Cụ thể: ( 1 ) Giá thực tế của NLVL mua ngoài  Giá Các khoản Giá thực tế = mua + thuế không NLVL chưa có được hoàn thuế lại Các chi phí thu mua thực tế, gồm: - Chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, phân loại, bảo hiểm…NLVL từ nơi + Các chi phí _ thu mua thực tế Các khoản CKTM, giảm giá hàng mua mua về đến kho của DN - Công tác phí của cán bộ thu mua, chi phí của bộ phận thu mua độc lập và số hao hụt tự nhiên trong định mức ( nếu có)  Các khoản thuế không được hoàn lại bao gồm: - Thuế giá trị gia tăng ( GTGT) nộp theo phương pháp trực tiếp - Thuế nhập khẩu - Thuế tiêu thụ đặc biệt ( 2 ) Giá thực tế NLVL do DN tự gia công, chế biến Giá thực tế Giá thực tế NLVL xuất gia = + NLVL công, chế biến Các chi phí gia công, chế biến ( 3 ) Giá thực tế của NLVL thuê ngoài gia công, chế biến Giá thực tế của NLVL Giá thực tế NLVL xuất = thuê ngoài gia công , chế biến GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải Chi phí Số tiền phải vận trả cho + + chuyển, người nhận = bốc dỡ về gia công chế và đến nơi biến = SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D chế biến = Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp ( 4 ) Giá thực tế NLVL nhận vốn góp liên doanh Giá thực tế NVL nhập kho là giá do hội đồng liên doanh đánh giá. ( 5 ) Đối với NVL được cấp phát: Giá thực tế nhập kho là giá ghi trên biên bản giao nhận. ( 6 ) Đối với NVL được biếu tặng, viện trợ: Giá thực tế nhập kho được tính theo giá thị trường tại thời điểm nhận ( 7) Giá thực tế của phế liệu thu hồi Giá thực tế của phế liệu thu hồi được đánh giá theo giá ước tính nhập kho hoặc giá có thể bán được b, Giá thực tế xuất kho NVL được nhập từ nhiều nguồn khác nhau, ở thời điểm khác nhau nên có nhiều giá khác nhau. Do đó khi xuất NVL tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động, yêu cầu, trình độ quản lý và điều kiện tính toán ở từng doanh nghiệp mà lựa chọn một trong các phương pháp tính cho hợp lý. Việc lựa chọn phương pháp tính giá thực tế NVL xuất kho phải căn cứ vào đặc điểm từng doanh nghiệp về số lượng danh điểm, số lần nhập xuất NVL, trình độ của nhân viên kế toán, điều kiện kho tàng của doanh nghiệp. Theo điều 13 chuẩn mực 02 – Hàng tồn kho nêu ra 4 phương pháp tính giá xuất kho. ( 1 ) Phương pháp tính giá đích danh Theo phương pháp này đòi hỏi DN phải quản lý theo dõi NLVL theo từng lô hàng, khi xuất kho NLVL thuộc lô hàng nào thì căn cứ vào số lượng xuất kho và đơn giá thực tế nhập kho của lô hàng đó để tính ra giá thực tế xuất kho. Trị giá vốn thực tế NVL xuất kho = Số NVL xuất kho x Đơn giá thực tế từng lô hàng * Ưu điểm: + Nhập giá nào xuất theo giá đấy + Đảm bảo nguyên tắc phù hợp chi phí và doanh thu + Theo dõi chính xác lúc giá nhập và xuất của từng lô hàng, giúp hạch toán kế toán chính xác, kịp thời, làm cho chi phí hiện tại phù hợp với doanh thu hiện tại. * Nhược điểm GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp + Khó theo dõi nếu doanh nghiệp có nhiều loại mặt hàng, nhiều chủng loại NVL, nhập xuất thường xuyên và công việc kế toán chi tiết NVL sẽ phức tạp. * Điều kiện áp dụng Phương pháp này áp dụng cho các doanh nghiệp có chủng loại NVL ít và nhận diện được lô hàng. ( 2 ) Phương pháp giá thực tế bình quân gia quyền tại thời điểm xuất kho hoặc cuối kỳ: Theo phương pháp này, kế toán phải tính đơn giá bình quân gia quyền tại thời điểm xuất kho hoặc ở thời điểm cuối kỳ, sau đó lấy số lượng vật tư xuất kho nhân với đơn giá bình quân đã tính Công thức: Giá Giáthực thực tếtếNLVL NLVL xuất xuấtkho kho - Số Sốlượng lượng NLVL NLVLxuất xuất kho kho = x Đơn giá thực tế bình quân Giá bình quân cả kỳ dự trữ Đơn giá bình quân Trị giá NVL tồn đầu kỳ + Trị giá NVL nhập trong kỳ = Số lượng NVL tồn ĐK + Số lượng NVL nhập trong kỳ cả kỳ dự trữ Phương pháp này thích hợp cho các doanh nghiệp ít danh điểm vật tư nhưng số lần nhập xuất của mỗi danh điểm nhiều. * Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, giảm nhẹ việc hạch toán chi tiết NVL không phụ thuộc vào số lần nhập xuất của danh điểm vật tư. * Nhược điểm: Dồn tính giá NVL xuất kho vào cuối kỳ hạch toán nên ảnh hưởng đến tiến độ của các khâu kế toán khác. - Giá bình quân liên hoàn (Bình quân sau mỗi lần nhập) Đơn giá bình quân liên hoàn Trị giá NVL lần n-1 + trị giá NVL nhập lần n = Số lượng NVL lần n-1 + Số lượng NVL nhập lần n * Ưu điểm: Phuơng pháp này có giá NVL xuất kho chính xác phản ảnh kịp thời sự biến động của giá cả, công việc tính toán được tiến hành đều đặn. GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp * Nhược điểm: Công việc tính toán nhiều và phức tạp, chỉ thích hợp với những đơn vị sử dụng kế toán máy ( 3 ) Phương pháp nhập trước, xuất trước Theo phương pháp này, trước hết phải xác định được đơn giá thực tế nhập kho của từng lần nhập và giả thiết giá trị hàng tồn kho nào nhập kho trước thì xuất trước. Sau đó căn cứ vào số lượng xuất kho để tính ra giá thực tế xuất kho theo nguyên tắc: Tính theo đơn giá thực tế nhập trước đối với số lượng xuất kho thuộc lần nhập trước, số còn lại ( Bằng tổng số xuất kho trừ đi số đã xuất thuộc lần nhập trước) được tính theo đơn giá lần nhập tiếp sau. Như vậy giá thực tế của NLVL tồn cuối kỳ chính là giá thực tế của NLVL nhập kho thuộc các lần sau cùng Như vậy, nếu giá cả có xu hướng tăng lên thì giá trị hàng tồn kho cao và giá trị xuất dùng nhỏ nên giá thành sản phẩm giảm, lợi nhuận tăng. Ngược lại, giá cả có xu hướng giảm thì chi phì vật liệu trong kỳ sẽ lớn dẫn đến lợi nhuận trong kỳ giảm. * Ưu điểm: Cho phép kế toán có thể tính giá NVL xuất kho kịp thời, phương pháp này cung cấp một số ước tính hợp lý về giá trị NVL cuối kỳ. Trong thời kỳ lạm phát phương pháp này sẽ cho lợi nhuận cao do đó có lợi cho các cổ đông cổ phần khi báo cáo kết quả hoạt động trước các cổ đông làm cho giá cổ phiếu của công ty tăng lên. *Nhược điểm: Các chi phí phát sinh hiện hành không phù hợp với doanh thu phát sinh hiện hành. Doanh thu hiện hành có được là do các chi phí NVL nói riêng và hàng tồn kho nói chung vào kho từ trước. Như vậy chi phí kinh doanh của doanh nghiệp không phản ánh kịp thời với giá cả thị trường của NVL. * Điều kiện áp dụng: Áp dụng thích hợp khi các doanh nghiệp theo dõi đơn giá của từng lần nhập, số lượng các nghiệp vụ nhập, xuất không quá nhiều. Áp dụng đối với các doanh nghiệp ít danh điểm vật tư nhưng số lần nhập xuất nhiều ( 4 ) Phương pháp nhập sau, xuất trước Theo phương pháp này, trước hết phải xác định được đơn giá thực tế nhập kho của từng lần nhập và giả thiết giá trị hàng tồn kho nào nhập kho sau thì xuất trước. Sau đó căn cứ vào số lượng xuất kho để tính ra giá thực tế xuất kho theo nguyên tắc: Tính theo đơn giá thực tế nhập sau cùng đối với số lượng xuất kho thuộc lần nhập sau cùng, số còn lại được tính theo đơn giá thực tế của các lần nhập trước đó. Như vậy, GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại Khóa luận tốt nghiệp giá thực tế của NLVL tồn cuối kỳ chính là giá thực tế của NLVL nhập kho thuộc các lần nhập đầu kỳ. *Ưu điểm: Đảm bảo nguyên tắc doanh thu hiện tại phù hợp với chi phí hiện tại. Chi phí NVL phản ánh kịp thời với giá cả thị trường làm cho thông tin về thu nhập và chi phí của doanh nghiệp trở nên chính xác hơn. Tính theo phương pháp này doanh nghiệp có lợi về thuế nếu giá cả NVL có xu hướng tăng (Vì lúc đó giá xuất lớn nên chi phí tăng dẫn đến lợi nhuận giảm). * Nhược điểm: Phương pháp này làm cho thu nhập thuần của doanh nghiệp giảm trong thời kỳ lạm phát và giá trị NVL có thể đánh giá giảm trên bảng cân đối kế toán so với giá trị thực của nó 1.2.1.2.2. Đánh giá nguyên liệu, vật liệu theo giá hạch toán a, Khái niệm Giá hạch toán của NLVL là giá tương đối ổn định, được sử dụng thống nhất trong DN trong thời gian dài ( thường là một năm) b, Phương pháp hạch toán Hàng ngày, kế toán sử dụng giá thực tế để ghi sổ giá trị NLVL nhập kho hoặc sử dụng ngay và sử dụng giá hạch toán để ghi sổ giá trị NLVL xuất kho. Giá NLVL xuất kho được xác định theo công thức: Giá hạch toán NLVL xuất kho = Số lượng NLVL xuất kho x Đơn giá hạch toán Cuối kỳ, phải điều chỉnh giá hạch toán của NLVL xuất kho theo giá thực tế để có số liệu ghi vào sổ kế toán. Việc điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế được tiến hành như sau: - Trước hết xác định hệ số giữa giá thực tế và giá hạch toán của NLVL ( ký hiệu là H) theo công thức: Giá thực tế của vật tư tồn kho đầu kỳ + Giá thực tế của vật tư nhập kho trong kỳ H = Giá H/toán của vật tư tồn kho đầu kỳ + Giá H/toán của vật tư nhập kho trong kỳ - Sau đó tính giá của NLVL xuất kho theo công thức GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D Trường Đại học Thương Mại Giá thực tế = NLVL xuất kho Khóa luận tốt nghiệp Giá hạch toán NLVL xuất kho x Hệ số giữa giá thực tế và giá hạch toán ( H) Hệ số giá phải tính cho từng loại, từng thứ NLVL * Ưu điểm: Phương pháp này cho phép kết hợp chặt chẽ hạch toán chi tiết và hạch toán tổng hợp về NVL trong công tác tính giá nên công việc tính giá được tiến hành nhanh chóng và không bị phụ thuộc vào số lượng danh điểm NVL, số lần nhập, xuất của mỗi loại NVL nhiều hay ít. * Nhược điểm: Giá không chính xác vì không tính đến sự biến động của giá cả NVL, chỉ nên áp dụng khi thị trường giá cả ít biến động. Như vậy, mỗi phương pháp tính giá xuất kho có những ưu, nhược điểm và điều kiện áp dụng khác nhau. Vì vậy, mỗi doanh nghiệp tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình mà lựa chọn một phương pháp tính giá sao cho phù hợp và hiệu quả nhất với doanh nghiệp mình 1.2.2. Kế toán chi tiết nguyên liệu, vật liệu Kế toán DN cần có sự ghi chép đầy đủ, kịp thời và chính xác tình hình biến động NVL từ chi tiết đến tổng hợp cho từng loại NVL để tăng cường công tác quản lý. Không có sự ghi chép không phản ánh được số liệu biến động của NVL, nhà quản lý sẽ không có cơ sở để theo dõi được tình hình nhập xuất, tồn kho NVL, điều đó sẽ làm công tác quản lý NVL được hoàn thiện và hiệu quả hơn. Do đó, để phản ánh tình hình biến động trong các khâu thu mua - nhập kho, xuất dùng và dự trữ tồn kho thì nhà quản lý phải tổ chức hạch toán vào sổ sách, báo cáo thông qua hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán. Quản lý tốt việc phản ánh tình hình biến động NVL vào chứng từ sổ sách kế toán sẽ giúp doanh nghiệp có sự phản ánh kịp thời, rõ ràng, minh bạch các thông tin, từ đó nhà quản lý sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong quá trình hoạt động. 1.2.2.1. Chứng từ kế toán Để có căn cứ hạch toán trước hết phải sử dụng hệ thống chứng từ. Nhưng tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý của mỗi doanh nghiệp mà hệ thống chứng từ có thể là: - Phiếu nhập kho – Mẫu 01-VT - Phiếu xuất kho – Mẫu 02-VT GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải SV: Nguyễn Thị Hương – K6HK1D
- Xem thêm -