Tài liệu Kế toán bán hàng tại công ty tnhh xuất nhập khẩu thương mại quốc tế tân hòa phát

  • Số trang: 105 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 70 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm qua nền kinh tế thị trường nước ta dần đi vào ổn định, các thành phần kinh tế hoạt động trên thị trường ngày càng phong phú, đa dạng, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) là một trong những loại hình công ty kinh doanh ngày càng thành công trong nền kinh tế thị trường. Trước sự biến đổi phức tạp trong xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế cùng với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường đã khiến cho các doanh nghiệp, các công ty ngày càng chú trọng toàn diện hơn đến những khâu kinh doanh của mình, không được phép đề cao hay xem nhẹ bất cứ một khâu nào. Tổ chức công tác kế toán là một trong những khâu vô cùng quan trọng, để quản lý vốn, tài sản và cung cấp thông tin về mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi kế toán là công cụ sắc bén, tin cậy để điều hành quản lý kinh tế, tài chính, phản ánh toán diện, liên tục, có hệ thống tình hình thực hiện những khả năng tiềm tàng trong doanh nghiệp, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế tiết kiệm. Công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là một bộ phận của công tác hạch toán kế toán. Hạch toán kế toán là nguồn duy nhất cung cấp những dữ liệu tài chính quan trọng, làm cơ sở cho việc kiểm tra kiểm soát và đề ra các quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là việc tính toán ghi chép bằng tiền phản ánh thường xuyên liên tục có hệ thống diễn biến của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và kết quả tài chính của hoạt động đó. Một doanh nghiệp muốn tồn tại, đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt phải có phương án quản lý tài chính tối ưu, biết tạo cho nguồn tài chính ấy vận động một cách năng động hiệu quả, nhằm mục đích thu lợi cao nhất mà vẫn bảo toàn và phát triển một cách bền vững. Muốn vậy doanh nghiệp phải có phương pháp ghi chép, hạch toán kế toán chuẩn mực, tiên tiến, chính xác. Bởi từ số liệu của kế toán là nguồn cung cấp thông tin duy nhất quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp về mặt giá trị. Trong điều kiện khi sản xuất gắn liền với thị trường thì chất lượng sản phẩm cả về nội dung và hình thức càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết với các doanh nghiệp. Thành phẩm, hàng hóa đã trở thành yêu cầu quyết định sự sống còn của doanh nghiệp. Để đưa những sản phẩm của doanh nghiệp ra thị trường và tận tay người tiêu dùng doanh nghiệp phải thực hiện giai đoạn cuối cùng của quá trình tái sản xuất đó là giai đoạn bán hàng. Thực hiện tốt quá trình này doanh nghiệp sẽ có điều kiện thu hồi vốn Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 1 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối bù đắp chi phí, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước, đầu tư phát triển và nâng cao đời sống cho người lao động. Do vậy, việc tổ chức tốt hệ thống quản lý nói chung và công tác kế toán bán hàng có ý nghĩa to lớn trong việc cung cấp thông tin đầy đủ kịp thời giúp doanh nghiệp ra quyết định đúng đắn. Kế toán bán hàng là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp. Như vậy công tác hạch toán kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng là việc làm cực kỳ quan trọng của mỗi doanh nghiệp trong quả trình quản lý mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Bởi tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của công tác tổ chức hạch toán kế toán bán hàng, là một sinh viên thực tập, để đi sâu và nắm vững hơn kiến thức đã học, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn của mình, được sự đồng ý nhất trí của nhà trường, của lãnh đạo Công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Thương Mại Quốc Tế Tân Hòa Phát em chọn đề tài " Tổ chức chức công tác kế toán bán hàng tại công ty TNHH xuất nhập khẩu thương mại quốc tế Tân Hòa Phát" làm báo cáo thực tập cuối khóa. Trong thời gian thực tập em rất mong được sự hướng dẫn giúp đỡ của thầy cô giáo Trường Đại Học Tài Chính Quản Trị Kinh Doanh, Ban lãnh đạo, đặc biệt là phòng kế toán Công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Thương Mại Quốc Tế Tân Hòa Phát để em hoàn thiện Báo cáo thực tập cuối khóa tốt hơn nữa,đạt chất lượng cao và nâng cao kiến thức mà em đã học. Nội dung báo cáo thực tập gồm 3 phần: Phần 1: Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp. Phần 2: Thực trạng công tác kế toán bán hàng tại Công Ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Thương Mại Quốc Tế Tân Hòa Phát. Phần 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán hàng tại Công Ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Thương Mại Quốc Tế Tân Hòa Phát. Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 2 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối PHẦN 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1. Những vấn đề chung về bán hàng trong các doanh nghiệp. 1.1.1. Khái niệm về bán hàng trong các doanh nghiệp. Bán hàng là quá trình luân chuyển quyền sở hữu hàng hóa, thành phẩm cho khách hàng, doanh nghiệp thu được tiền hoặc chưa thu được tiền. Thực chất, bán hàng là bán số thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, bán hàng hóa mua vào. Doanh thu bán hàng được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được tiền từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có). Nói cách khác, doanh thu bán hàng chính là số tiền đã thu được hoặc sẽ thu được do tiêu thu thành phẩm sản xuất, bán hàng hóa mua vào. Thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng, trường hợp doanh nghiệp tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thì trong doanh thu tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa không bao gồm tiền thuế giá trị gia tăng; trường hợp doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp thì trong doanh thu tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa đã bao gồm cả thuế giá trị gia tăng. Doanh thu bán hàng thuần là doanh thu tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa mà doanh nghiệp thực nhận được về khối lượng hàng hóa, thành phẩm đã bán co khách hàng. Doanh thu bán hàng thuần trong kỳ = Doanh thu bán hàng theo hóa đơn trong kỳ Các khoản điều chỉnh giản trừ doanh thu - Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu và thuế - giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp trực tiếp Trong đó các khoản giảm trừ gồm : Chiết khấu thương mại là số tiền mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng với số lượng lớn và theo thỏa thuận Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 3 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối bên bán sẽ dành cho bên mua một khoản chiết khấu thương mại (đã ghi trên hợp đồng mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng). Giảm giá hàng bán là việc giảm trừ cho người mua hàng hóa do sản phẩm, hàng hóa kém, mất phẩm chất hay không đúng quy cách theo quy định trong hợp đồng kinh tế. Hàng bán bị trả lại do bên bán vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị kém, mất phẩm chất, không đúng chủng loại, quy cách. 1.1.2. Các phương thức bán hàng. Phương thức bán hàng là cách thức mà các doanh nghiệp tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa cho khách hàng. Có nhiều phương thức tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa khác nhau. Tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa được phân loại thành: Bán buôn và Bán lẻ. Bán buôn là phương thức bán hàng cho các đơn vị hoặc cá nhân mà số thành phẩm, hàng hóa đó chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng; thành phẩm, hàng hóa vẫn nằm trong lĩnh vực sản xuất hoặc lưu thông. Bán buôn thường bán với khối lượng lớn. Bán lẻ là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng để sử dụng vào mục đích tiêu dùng; thành phẩm, hàng hóa bán ra chuyển sang lĩnh vực tiêu dùng, giá trị của thành phẩm, hàng hóa được thực hiện. 1.1.2.1. Bán buôn. Bán buôn được phân loại thành bán buôn qua kho và bán buôn không qua kho. + Bán buôn qua kho: Là phương thức bán buôn mà thành phẩm, hàng hóa phải xuất ra từ kho của doanh nghiệp bán. Bán buôn qua kho được phân loại thành: Bán buôn qua kho theo hình thức trực tiếp và bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng. - Bán buôn qua kho theo hình thức trực tiếp là phương thức bán buôn qua kho trong đó bên mua cử cán bộ nghiệp vụ đến nhận hàng tại kho của bên bán hay nói cách khác, bên bán giao hàng trực tiếp tại kho của mình. Việc thanh toán tiền hàng tùy thuộc vào hợp đồng kinh tế đã ký giữa bên mua và bên bán. - Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng là phương thức bán buôn qua kho mà bên bán xuất kho vận chuyển số thành phẩm, hàng hóa giao cho bên mua tại địa điểm đã quy định trong hợp đồng kinh tế đã ký kết (tại kho bên mua hay tại nơi đã quy định) bằng phương tiện vận tải tự có hoặc thuê ngoài. Thành phẩm, hàng hóa Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 4 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối chuyển bán chưa được xác định là đã tiêu thụ, vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. + Bán buôn không qua kho: Trong doanh nghiệp sản xuất bán buôn không qua kho là phương thức tiêu thụ thành phẩm trực tiếp tại nơi sản xuất (không qua nhập kho) hoặc số thành phẩm sản xuất xong được chuyển bán ngay (không qua nhập kho). Trong doanh nghiệp thương mại, bán buôn không qua kho là mua hàng từ nhà cung cấp sau đó bán ngay cho người mua tại nơi nhận hàng hoặc chuyển bán ngay cho khách. Bán buôn không qua kho cũng được chia làm hai trường hợp là bán buôn không qua kho theo hình thức trực tiếp và bán buôn không qua kho theo hình thức chuyển hàng. - Bán buôn không qua kho theo hình thức trực tiếp: Là phương thức bán buôn không qua kho mà doanh nghiệp sản xuất tiêu thụ thành phẩm trực tiếp tại nơi sản xuất và doanh nghiệp thương mại bán hàng hóa trực tiếp tại nơi mua. - Bán buôn không qua kho theo hình thức chuyển hàng: Là phương thức bán hàng mà doanh nghiệp sản xuất gửi bán ngay số thành phẩm vừa sản xuất và doanh nghiệp thương mại gửi bán ngay số hàng mua tại nơi mua. 1.1.2.2. Bán lẻ Là bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng. Qua khâu bán lẻ hàng hóa vĩnh viễn rời khỏi lĩnh vực lưu thông, giá trị của nó được thực hiện đầy đủ. Bán lẻ được phân loại thành các phương thức sau: + Bán lẻ thu tiền trực tiếp: Là phương thức tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa mà theo phương thức này, người bán trực tiếp thu tiền và giao hàng trả khách. + Bán lẻ thu tiền tập trung: Theo phương thức này, ở quầy hàng hoặc liên quầy hàng được bố trí nhân viên thu tiền (thu ngân) làm nhiệm vụ thu tiền của khách và viết hóa đơn (giao tích kê) cho khách hàng để khách hàng cầm hóa đơn (tích kê) chuyển cho người bán và nhận hàng. + Bán lẻ tự động: Đối với một số mặt hàng có thể sử dụng máy để thực hiện nghiệp vụ bán. Khách hàng mua theo phương thức này thường dùng tiền kim loại, thẻ thanh toán. Khi mua hàng, khách chỉ việc bỏ tiền vào máy, máy sẽ tự động chuyển hàng cho khách. + Bán lẻ theo đơn đặt hàng: Theo phương thức này, khách hàng đặt mua hàng tại quầy hàng, doanh nghiệp bán chuyển hàng đến tận nơi khách hàng yêu cầu. Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 5 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối + Bán lẻ tự chọn: Đây là phương thức tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa khá phổ biến hiện nay, theo phương thức này ở các quầy hàng, gian hàng, cửa hàng không có người bán mà chỉ có nhân viên bảo vệ, nhân viên thu ngân, nhân viên hướng dẫn khách hàng làm nhiệm vụ sắp xếp hàng hóa khi bị rơi, bị lộn xộn, tìm hàng hóa khi khách yêu cầu,.... Khách hàng vào mua hàng tự chọn hàng cần mua bỏ vào túi đựng hàng, khi ra về sẽ trả tiền cho nhân viên thu ngân được bố trí ngay ở lối ra. 1.1.2.3. Bán thành phẩm, hàng hóa trả chậm, trả góp. Là phương thức tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa mà người mua có thể trả chậm, trả góp trong nhiều kỳ. Trong trường hợp này, doanh nghiệp bán phải tính số tiền lãi phải thu của người mua đối với số tiền trả chậm, trả góp. Khoản tiền lãi thu được này được coi là doanh thu hoạt động tài chính (phản ánh ở tài khoản 515). Nếu người mua trả chậm, trả góp trong nhiều kỳ,thì lãi trả chậm, trả góp được phản ánh ở tài khoản 3387 – Doanh thu chưa thực hiện, sau đó xác định số tiền lãi từng kỳ tương ứng với các kỳ trả tiền cảu khách và kết chuyển sang tài khoản 515 – Doanh thu hoạt động tài chính. Thực chất, phương thức tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa trả chậm, trả góp có thể xếp vào phương thức bán lẻ hàng hóa. 1.1.2.4. Bán thành phẩm, hàng hóa đại lý, ký gửi. Phương thức này cần phân biệt hai trường hợp: Bên giao hàng (Bên đại lý, ký gửi) và Bên nhận hàng (Bên nhận hàng đại lý, ký gửi). Đối với Bên giao hàng, tức là doanh nghiệp gửi hàng cho đại lý bán hộ thì hàng gửi đại lý vẫn chưa phải là bán. Thực chất của hình thức tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa này chính là hình thức bán buôn. Đối với Bên nhận bán đại lý, ký gửi thực chất là hình thức bán lẻ. Thời điểm được coi là tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa đối với phương thức tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa đại lý, ký gửi đó là khi bên nhận bán đại lý, ký gửi lập bảng thanh toán tiền hàng và thanh toán tiền về số hàng đã bán được hoặc chấp nhận thanh toán về số hàng đã bán được. 1.1.3. Thời điểm ghi nhận doah thu. Theo chuẩn mực kế toán số 14, doanh thu bán hàng là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ hạch toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 6 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối Thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng là thời điểm khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau (theo chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu và thu nhập khác): + Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua. + Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hoặc quyền kiểm soát hàng hóa. + Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. + Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng. + Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Như vậy, về nguyên tắc khi nào hàng hóa chuyển quyền sở hữu từ đơn vị bán hàng sang đơn vị mua hàng mới được gọi là bán và lúc đó mới ghi nhận doanh thu. Do đó, tại thời điểm xác định là bán hàng và ghi nhận doanh thu có thể không đồng nhất với nhau: - Trường hợp thu tiền ngay lúc giao hàng: doanh thu bán hàng chính là tiền thu bán hàng. - Trường hợp thanh toán sau: Người mua chưa trả tiền ngay được coi là có doanh thu bán hàng nhưng chưa có tiền thu bán hàng. 1.1.4. Các phương thức thanh toán. Với sự phát triển của nền kinh tế, các phương thức thanh toán rất đa dạng không chỉ có thanh toán bằng tiền mặt mà còn có nhiều phương thức thanh toán khác. Áp dụng phương thức thanh toán nào là do bên mua và bên bán tự thỏa thuận lựa chọn sao cho phù hợp với đặc điểm kinh doanh của đơn vị mình. Hiện nay, các doanh nghiệp thường áp dụng 3 hình thức thanh toán phổ biến là thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán nghiệp vụ ứng trước tiền hàng. + Thanh toán bằng tiền mặt là thanh toán trực tiếp giữa người mua và người bán bằng tiền mặt. + Thanh toán không dùng tiền mặt (thanh toán qua ngân hàng): Hiện nay phương thức thanh toán này đang được sử dụng phổ biến, thanh toán qua ngân hàng thường được áp dụng cho các doanh nghiệp thực hiện việc mua bán ở xa nhau và hàng hóa thường có số lượng và giá trị lớn. Một số hình thức thanh toán đang được áp dụng như: Séc, Ủy nhiệm chi, Ủy nhiệm thu, Thư tín dụng, Ngân phiếu thanh toán. Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 7 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối + Thanh toán nghiệp vụ ứng trước tiền hàng: Thanh toán nghiệp vụ ứng trước tiền hàng ngược với hai phương thức thanh toán trên, đơn vị bán sẽ nhận được tiền trước khi giao hàng hóa cho đơn vị mua. Tuy nhiên, số hàng ứng trước chỉ chiếm 1/2 đến 1/3 trị giá hàng xuất bán. Số tiền còn lại sẽ được thanh toán sau khi giao đủ hàng cho người mua. 1.1.5. Phương pháp xác định giá vốn hàng bán. Trị giá vốn hàng xuất kho là cơ sở để tính trị giá vốn hàng bán. Để xác định được đúng đắn kết quả kinh doanh cần xác định đúng đắn trị giá hàng xuất bán. Hàng hóa được nhập từ các nguồn khác nhau với nhiều lần nhập khác nhau. Do vậy đơn giá thực tế của từng lần xuất kho là không như nhau. Khi hàng hóa xuất kho phải sử dụng phương pháp tính giá thực tế xuất kho phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp. *) Để xác định trị giá vốn thành phẩm,hàng hóa xuất kho, tồn kho các doanh nghiệp thường dùng các nguyên tắc sau: + Nguyên tắc giá gốc: Theo chuẩn mực kế toán số 02 - Hàng tồn kho, thành phẩm, hàng hóa được đánh giá theo giá gốc (trị giá vốn thực tế). Giá gốc là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra như: chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được thành phẩm, hàng hóa ở địa điểm và trạng thái hiện tại. + Nguyên tắc thận trọng: Trong trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì kế toán phải đánh giá thành phẩm, hàng hóa theo giá trị giá thuần có thể thực hiện được. Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính của thành phẩm, hàng hóa trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ (-) chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng. + Nguyên tắc nhất quán: Các nguyên tắc áp dụng để đánh giá thành phẩm, hàng hóa phải đảm bảo tính nhất quán (thống nhất). Tức là, kế toán đã chọn phương pháp nào thì phải áp dụng phương pháp đó trong suốt niên độ kế toán. *) Các phương pháp xác định trị giá vốn thành phẩm, hàng hóa xuất kho, tồn kho. Tùy vào việc doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên hay kiểm kê định kỳ mà doanh nghiệp sẽ tiến hành xác định trị giá vốn xuất kho hay tồn kho. + Doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên. Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 8 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối Khi đó doanh nghiệp tiến hành xác định giá vốn xuất kho.Theo đó, thành phẩm, hàng hóa trong các doanh nghiệp có thể được đánh giá theo giá gốc và giá hạch toán. ♦ Đánh giá theo giá gốc. Thành phẩm xuất kho được phản ánh theo giá thành sản xuất thực tế xuất kho. Hàng hóa xuất kho được phản ánh theo trị giá vốn thực tế được tính bằng 2 bộ phận sau = Trị giá mua thực tế hàng hóa + Chi phí mua phân bổ cho hàng hóa xuất kho. Đến cuối kỳ kế toán phân bổ chi phí thu mua cho số hàng hóa xuất kho đã bán theo công thức: Chi phí mua hàng phân bổ cho hàng hóa= đã bán Chi phí mua hàng của hàng hóa tồn kho đầu + kỳ Chi phí mua hàng của hàng hóa phát sinh trong kỳ x Hàng hóa tồn kho cuối kỳ và hàng hóa đã xuất bán trong kỳ Tiêu chuẩn phân bổ của hàng hóa đã xuất bán Trong đó:” Hàng hóa tồn cuối kỳ” bao gồm hàng hóa tồn trong kho, hàng hóa đã mua nhưng còn đang đi trên đường và hàng hóa gửi đi bán nhưng chưa đủ điều kiện ghi nhận doanh thu. Sau đó kế toán xác định trị giá vốn thực tế của hàng hóa xuất kho đã bán theo công thức: Giá trị vốn thực tế của hàng hóa xuất kho = Giá trị mua thực tế của hàng hóa xuất kho + Chi phí thu mua phân bổ cho hàng hóa xuất kho Thành phẩm và hàng hóa đều thuộc nhóm tài sản hàng tồn kho, do vậy theo Chuẩn mực số 02 “Kế toán hàng tồn kho”, việc tính giá thành thực tế của thành phẩm và tính giá trị mua thực tế của hàng hóa xuất kho được áp dụng một trong 5 phương pháp sau: - Phương pháp tính theo giá đích danh. - Phương pháp bình quân gia quyền . - Phương pháp hệ số giá. - Phương pháp nhập trước, xuất trước. Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 9 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối - Phương pháp nhập sau, xuất trước. Trong các doanh nghiệp vừa sản xuất vừa thương mại thì thành phẩm, hàng hóa thường xuyên biến động nhưng việc xác định giá thành của thành phẩm thường được tính vào cuối kỳ hạch toán (cuối quý, cuối tháng) nên trên thực tế để đơn giản các doanh nghiệp này thường hay chọn phương pháp bình quân gia quyền hoặc phương pháp tính theo giá đích danh. Sau đây, em xin trình bày chi tiết từng phương pháp:  Phương pháp nhập trước, xuất trước : Theo phương pháp này, giả định thành phẩm, hàng hóa nào nhập kho trước sẽ được xuất trước tức là giá trị thành phẩm, hàng hóa xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, trị giá thành phẩm, hàng hóa tồn kho cuối kỳ được tính theo đơn giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho. Điều kiện vận dụng: Doanh nghiệp có ít danh điểm, số lần nhập, xuất ít và phải theo dõi được đơn giá của từng lần nhập kho. Phương pháp này phù hợp trong điều kiện giá cả ổn định, hoặc có xu hướng giảm.  Phương pháp nhập sau, xuất trước : Theo phương pháp này, giả định thành phẩm, hàng hóa nào nhập sau sẽ được xuất trước tức là giá trị thành phẩm, hàng hóa xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, trị giá hàng tồn kho cuối kỳ được tính theo đơn giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho. Điều kiện vận dụng: Doanh nghiệp phải theo dõi đơn giá của từng lần nhập kho, phù hợp trong trường hợp có lạm phát.  Phương pháp tính theo giá đích danh: Theo phương pháp này, giá thực tế của thành phẩm, hàng hóa xuất kho căn cứ vào đơn giá thực tế thành phẩm, hàng hóa nhập kho theo từng lô, từng lần nhập tức là hàng xuất kho thuộc lô hàng nào thì lấy đơn giá của lô hàng đó để tính. Ưu điểm: tính chính xác cao, theo dõi được thời hạn bảo quản. Nhược điểm: Đòi hỏi phải theo dõi thành phẩm, hàng hóa theo từng lô hàng cả về mặt hiện vật và giá trị một cách tỷ mỷ. Điều kiện vận dụng: Áp dụng với những doanh nghiệp có chủng loại thành phẩm, hàng hóa ít, đơn chiếc, có giá trị lớn, nhận diện được từng lô hàng. Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 10 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa  Báo Cáo Thực Tập Cuối Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này, giá thành thực tế của từng loại thành phẩm và giá trị mua thực tế của hàng hóa xuất kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại thành phẩm, hàng hóa. Tương tự đầu kỳ và giá trị từng loại thành phẩm, hàng hóa được sản xuất, mua vào trong kỳ. Kế toán phải tính được đơn giá bình quân gia quyền từ đó có: Trị giá vốn thực tế của thành phẩm, hàng hóa xuất kho = Số lượng thành phẩm, hàng hóa xuất kho x Đơn giá bình quân đã tính Trong đó, đơn giá bình quân có thể được xác định theo đơn giá bình quân sau mỗi lần nhập và đơn giá bình quân cả kỳ dự trữ.  Đơn giá bình quân sau mỗi lần nhập. Kế toán xác định đơn giá này tại thời điểm cuối kỳ, có thể xác định cho cả kỳ. Nếu tính theo đơn giá này sẽ che đậy được sự biến động của giá, cuối kỳ mới có số liệu ghi chép thành phẩm, hàng hóa xuất kho. Cách tính này thường áp dụng cho cả thành phẩm và hàng hóa.  Đơn giá bình quân cả kỳ dự trữ. Kế toán xác định đơn giá này tại thời điểm xuất kho và thường áp dụng chủ yếu đối với hàng hóa: Đơn giá bình quân sau mỗi lần nhập Trị giá vốn thực tế thành phẩm, hàng hóa tồn kho tại thời điểm tính + Trị giá vốn thực tế của thành phẩm nhập kho = Số lượng thành phẩm, hàng hóa tồn kho tại thời điểm tính Sinh Viên : Hồ Mậu Nam + 11 Số lượng thành phẩm, hàng hóa nhập Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Đơn giá bình quân cả kỳ dự trữ Báo Cáo Thực Tập Cuối Trị giá vốn thực tế thành phẩm, hàng hóa tồn đầu kỳ Trị giá vốn thực tế thành phẩm, hàng hóa nhập trong kỳ + = Số lượng thành phẩm, hàng hóa tồn đầu kỳ + Số lượng thành phẩm, hàng hóa nhập trong kỳ Thành phẩm, hàng hóa tồn kho cuối kỳ được doanh nghiệp xác định vào cuối mỗi kỳ hạch toán theo công thức: Số lượng thành phẩm, hàng hóa tồn cuối kỳ Trị giá thành phẩm, hàng hóa tồn cuối kỳ = Số lượng thành phẩm, hàng hóa tồn đầu kỳ Trị giá thành = phẩm,hàng hóa tồn đầu kỳ Số lượng thành phẩm, hàng hóa nhập trong kỳ + + Trị giá thành phẩm, hàng hóa nhập trong kỳ - Số lượng thành phẩm, hàng hóa xuất trong kỳ - Trị giá thành phẩm, hàng hóa xuất trong kỳ ♦ Đánh giá theo giá hạch toán. Đối với các doanh nghiệp có nhiều chủng loại thành phẩm, hàng hóa hoạt động mua hàng hóa, xuất nhập thành phẩm diễn ra thường xuyên, có sự biến động về giá cả,khối lượng thì có thể sử dụng giá hạch toán để đánh giá thành phẩm, hàng hóa nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý. Giá hạch toán là loại giá ổn định do doanh nghiệp tự xây dựng phục vụ cho công tác hạch toán chi tiết thành phẩm, hàng hóa. Giá hạch toán có thể là giá kế hoạch, giá bán buôn hay giá tạm tính.Việc xuất kho hàng ngày được thực hiện theo giá hạch toán nhưng việc hạch toán thành phẩm, hàng hóa trên tài khoản và sổ kế toán thì vẫn theo giá thực tế. Vì vậy, cuối kỳ kế toán phải chuyển đổi giá hạch toán thành giá thực tế để ghi sổ kế toán tổng hợp. Việc điều chỉnh được tiến hành theo trình tự sau: - Tổng hợp giá thực tế của thành phẩm tồn đầu kỳ, nhập trong kỳ. - Tổng hợp giá hạch toán của thành phẩm tồn đầu kỳ, nhập trong kỳ. Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 12 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối - Tổng hợp giá hạch toán của thành phẩm xuất kho trong kỳ. - Xác định hệ số giá giữa giá thực tế và giá hạch toán theo công thức: Hệ số giá của thành phẩm, hàng hóa Giá thực tế của thành phẩm, hàng hóa tồn đầu kỳ + Giá thực tế của thành phẩm, hàng hóa nhập trong kỳ = Giá hạch toán của thành phẩm, hàng hóa + tồn đầu kỳ Giá hạch toán của thành phẩm hàng hóa nhập trong kỳ - Tính trị giá thực tế của thành phẩm, hàng hóa xuất kho: Giá thực tế của thành phẩm, hàng hóa xuất kho = Giá hạch toán của thành phẩm, hàng hóa xuất kho x Hệ số giá của thành phẩm, hàng hóa Mỗi cách đánh giá thực tế thành phẩm, hàng hóa xuất kho có nội dung, ưu, nhược điểm và điều kiện áp dụng khác nhau, doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, yêu cầu quản lý cũng như điều kiện trang bị phương tiện kỹ thuật tính toán, xử lý thông tin để đăng ký cách tính thích hợp. + Doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ. Cuối tháng, doanh nghiệp kiểm kê thành phẩm, hàng hóa để xác định số lượng thành phẩm, hàng hóa tồn cuối kỳ, rồi đánh giá thành phẩm, hàng hóa tồn cuối kỳ theo các cách đánh giá đã nói trên theo công thức: Trị giá thành phẩm, hàng hóatồn cuối kỳ = Sinh Viên : Hồ Mậu Nam Số lượng thành phẩm, hàng hóa tồn cuối kỳ 13 x Đơn giá đã tính theo từng phương pháp Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối Trên cơ sở xác định xác định được số lượng thành phẩm, hàng hóa tồn cuối kỳ và trị giá thành phẩm, hàng hóa tồn cuối kỳ sẽ tính được số lượng thành phẩm, hàng hóa xuất trong kỳ và trị giá thành phẩm, hàng hóa xuất kho trong kỳ theo công thức: Số lượng thành phẩm, = hàng hóa xuất trong kỳ Số lượng thành phẩm, hàng hóa tồn đầu kỳ Trị giá thành phẩm, hàng hóa xuất trong kỳ Trị giá thành phẩm, hàng hóa tồn đầu kỳ = + Số lượng thành phẩm, hàng hóa nhập trong kỳ + Trị giá thành phẩm, hàng hóa nhập trong kỳ Số lượng thành phẩm, hàng hóa tồn cuối kỳ - - Trị giá thành phẩm, hàng hoía tồn cuối kỳ 1.1.6. Ý nghĩa và vai trò của kế toán bán hàng . Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp cần tự khẳng định vị trí kinh tế của mình. Đứng dưới góc độ doanh nghiệp có thể nói bán hàng là yếu tố quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp. Xã hội ngày càng phát triển, thị trường tiêu thụ sản phẩm ngày càng mở rộng để đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú, đa dạng của người tiêu dùng. Có tiêu thụ sản phẩm nhanh, thu được tiền về, doanh nghiệp mới tăng nhanh vòng quanh của vốn, tăng thu nhập cho doanh nghiệp, nâng cao đời sống công nhân viên và thực hiện tốt nghĩa vụ với Nhà nước. Đồng thời, chỉ thông qua quá trình tiêu thụ thì tính hữu ích của sản phẩm sản xuất ra và sự phù hợp với thị hiếu tiêu dùng mới được khẳng định. Đó là một cơ sở quan trọng cho doanh nghiệp trong việc đưa quyết định có nên tiếp tục hay ngừng sản xuất sản phẩm?Trên phạm vi nền kinh tế quốc dân, làm tốt khâu tiêu thụ là tiền đề để cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa tiền và hàng, đảm bảo việc cân đối sản xuất ngành cân đối giữa các ngành trong nền kinh tế. Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 14 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối + Việc tính toán và xác định đúng kết quả bán hàng có một ý nghĩa vô cùng to lớn đối với mỗi doanh nghiệp. Có như vậy, doanh nghiệp mới có thể tính toán, bù đắp được đầy đủ các chi phí bỏ ra và đảm bảo có lãi. Đây chính là nguồn tích lũy cơ bản để tái sản xuất mở rộng đồng thời là cơ sở để doanh nghiệp phân tích, đưa ra những biện pháp tài chính hợp lý đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh. 1.1.7. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng. Kế toán bán hàng cần phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây: - Ghi chép phản ánh kịp thời đầy đủ khối lượng thành phẩm, hàng hóa bán ra cả về mặt giá trị và hiện vật. - Cung cấp thông tin về tình hình tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa nói chung và của từng mặt hàng nói riêng nhằm giúp lãnh đạo quản lý và điều hành tốt hoạt động bán hàng. - Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa, kiểm tra việc thực hiện dự toán chi phí (chi phí cấu thành giá gốc của hàng bán ra). - Theo dõi chi tiết các loại doanh thu bán hàng, doanh thu bán từng mặt hàng, nhóm hàng, ngành hàng, theo dõi chi tiết từng khoản giảm trừ doanh thu bán hàng để xác định doanh thu bán hàng thuần chi tiết từng mặt hàng, từng nhóm hàng, từng ngành hàng để phục vụ cung cấp thông tin kế toán quản trị. - Kết hợp chặt chẽ giữa kế toán chi tiết với kế toán tổng hợp đối với nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa. 1.2. Nội dung của kế toán bán hàng. 1.2.1. Chứng từ sử dụng. - Bảng thanh toán hàng đại lý, ký gửi (Mẫu 01 - BH). - Thẻ quầy hàng (Mẫu 02 - BH). - Hóa đơn GTGT (Mẫu 01-GTKT - 3LL). - Hóa đơn bán hàng thông thường (Mẫu 02-GTKT - 3LL). - Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ ( Mẫu 03PXK - 3LL). - Phiếu xuất kho hàng gửi đi bán đại lý (Mẫu 04DHL - 4LL). - Hóa đơn cho thuê dịch vụ tài chính (Mẫu 05TTC - LL). - Bảng kê thu mua hàng hóa mua vào khô ng có hóa đơn (Mẫu 04/GTGT). - Báo cáo bán hàng. - Hóa đơn bán lẻ. Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 15 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối - Bảng kê bán lẻ. - Các chứng từ thanh toán: phiếu thu, séc chuyển khoản, séc thanh toán, ủy nhiệm thu, giấy báo có ngân hàng, bảng sao kê của ngân hàng,...). 1.2.2. Tài khoản kế toán sử dụng. Kế toán bán hàng sử dụng các tài khoản chủ yếu sau: TK 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. TK 512 – Doanh thu bán hàng nội bộ. TK 521 - Chiết khấu thương mại. TK 531 – Hàng bán bị trả lại. TK 532 - Giảm giá hàng bán. TK 632 – Giá vốn hàng bán. TK 003 – Hàng hóa nhận bán hộ, ký gửi. TK 157 – Hàng gửi đi bán. Các tài khoản khác có liên quan như: TK 111, TK 112, TK 131, TK 156,.... *) Tài khoản 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. - Nội dung: Phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong một ký hạch toán của hoạt động sản xuất kinh doanh từ các giao dịch và nghiệp vụ bán hàng và cung cấp dịch vụ. - Kết cấu: Bên Nợ Tài khoản 511 - Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu và thuế giá trị gia tăng phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực tế tiêu thụ trong kỳ kế toán. - Các khoản ghi giảm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại) được kết chuyển cuối kỳ. - Kết chuyển doanh thu thuần tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ sang tài khoản 911. Bên Có - Doanh thu bán thành phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ kế toán. Tài khoản 511 không có số dư cuối kỳ Tài khoản 511 có các tài khoản cấp 2 sau: + Tài khoản 5111: Doanh thu bán hàng hóa. Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 16 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối + Tài khoản 5112: Doanh thu bán các thành phẩm. + Tài khoản 5113: Doanh thu cung cấp dịch vụ. + Tài khoản 5114: Doanh thu trợ cấp, trợ giá. + Tài khoản 5117: Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư. + Tài khoản 5118: Doanh thu khác. *) Tài khoản 512 – Doanh thu bán hàng nội bộ. - Nội dung: Phản ánh doanh thu của số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng trong nội bộ các doanh nghiệp. Doanh thu tiêu thụ nội bộ là lợi ích kinh tế thu được từ việc bán hàng hóa, sản phẩm và cung cấp dịch vụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc trong cùng một công ty. Tổng công ty tính theo giá nội bộ. - Kết cấu: Bên Nợ Tài khoản 512 - Trị giá hàng bán bị trả lại, khoản giảm giá hàng bán đã chấp nhận trên khối lượng sản phẩm, hàng hóa , dịch vụ đã bán nội bộ được kết chuyển cuối kỳ kế toán. - Số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp của số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã bán nội bộ. - Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp trực tiếp của số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ nội bộ. - Kết chuyển doanh thu bán hàng thuần vào tài khoản 911. Bên Có - Tổng số doanh thu bán hàng nội bộ của đơn vị thực hiện trong kỳ kế toán. Tài khoản 512 không có số dư Tài khoản 512 có các tài khoản cấp 2 sau: + Tài khoản 5121 – Doanh thu bán hàng hóa. + Tài khoản 5122 – Doanh thu bán các thành phẩm. + Tài khoản 5123 – Doanh thu cung cấp dịch vụ. *) Tài khoản 521 - Chiết khấu thương mại. - Nội dung: Là khoản tiền chênh lệch giá bán nhỏ hơn giá niêm yết mà doanh nghiệp giảm trừ cho người mua hàng với khối lượng lớn, phù hợp với chính sách chiết khấu thương mại của doanh nghiệp trong kỳ. - Kết cấu: Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 17 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Bên Nợ Báo Cáo Thực Tập Cuối Tài khoản 521 521 mại cuốiđã - Số chiết khấuTK thương chấp nhận thanh toán cho khách hàng. Bên Có - Kết chuyển toàn bộ số chiết khấu thương mại sang tài khoản 511, 512 vào thời điểm cuối kỳ để xác định doanh thu thuần của kỳ báo cáo. TK 5211 cuối kỳ không có số dư *) Tài khoản 531 – Hàng bán bị trả lại - Nội dung: Hàng bán bị trả lại là số sản phẩm, hàng hóa doanh nghiệp đã xác định tiêu thụ, đã ghi nhận doanh thu nhưng bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng kinh tế hoặc theo chính sách bảo hành như: hàng kém phẩm chất, sai quy cách, chủng loại. - Kết cấu: Bên Nợ Tài khoản 531 - Doanh thu của hàng bán bị trả lại, đã trả lại tiền người mua hoặc tính trừ vào khoản phải thu của khách hàng về số sản phẩm, hàng hóa đã bán. Bên Có - Kết chuyển doanh thu thuần của hàng bán bị trả lại vào bên Nợ tài khoản 511 hoặc tài khoản 512 để xác định doanh thu thuần trong kỳ báo cáo. Tài khoản 531 không có số dư *) Tài khoản 532 – Giảm giá hàng bán. - Nội dung: Là khi bên bán đã xuất bán và lập hóa đơn nhưng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng,quy cách đã ghi trong hợp đồng thì bên bán phải điều chỉnh giảm giá hàng bán. - Kết cấu: Bên Nợ Tài khoản 532 - Các khoản giảm giá hàng bán đã chấp thuận cho người mua hàng do bán hàng kém, mất phẩm chất hoặc sai quy cách theo quy định trong hợp đồng kinh tế. Sinh Viên : Hồ Mậu Nam Bên Có - Kết chuyển toàn bộ số tiền giảm giá hàng bán sang tài khoản 511 hoặc tài khoản 512 18 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối Tài khoản 532 không có số dư *) Tài khoản 632 – Giá vốn hàng bán. - Nội dung: Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, bất động sản đầu tư; giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp (đối với doanh nghiệp xây lắp) bán trong kỳ. Ngoài ra, tài khoản này còn dùng để phản ánh các chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản đầu tư như: Chi phí khấu hao; chi phí sửa chữa; chi phí nghiệp vụ cho thuê BĐS đầu tư theo phương thức cho thuê hoạt động (trường hợp phát sinh không lớn); chi phí nhượng bán, thanh lý bất động sản đầu tư,. . . - Kết cấu: Bên Nợ Tài khoản 632 - Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa đã bán trong kỳ. - Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công vượt trên mức bính thường và chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ được tính vào giá vốn hàng bán trong kỳ. - Các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ phần bồi thường do trách nhiệm cá nhân gây ra. - Chi phí xây dựng, tự chế tạo tài sản cố định vượt trên mức bình thường không được tính vào nguyên giá tài sản cố định hữu hình tự xây dựng, tự chế hoàn thành. - Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (chênh lệch giữa số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập năm nay lớn hơn số dự phòng đã lập năm trước chưa sử dụng hết. - Số khấu hao bất động sản đầu tư trích trong kỳ. - Chi phí sửa chữa, nâng cấp, cải tạo bất động sản đầu tư không đủ điều kiện tính vào nguyên giá bất động sản đầu tư. - Chi phí phát sinh từ nghiệp vụ cho thuê bất động sản đầu tư trong kỳ. - Giá trị còn lại của bất động sản đầu tư bán, thanh lý trong kỳ. - Chi phí nghiệp vụ bán, thanh lý bất động sản đầu tư phát sinh trong kỳ. Bên Có - Kết chuyển giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã bán chuyển sang tài khoản 911. - Kết chuyển toàn bộ chi phí kinh doanh bất động sản đầu tư phát sinh trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh. - Khoản hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cuối năm tài chính ( chênh lệch giữa số dự phòng phải lập năm nay nhỏ hơn số dự phòng đã lập năm trước). - Trị giá hàng bán bị trả lại nhập kho. Tài khoản 632 không có số dư cuối kỳ Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 19 Lớp: LT K44B GVHD : Th.S Nguyễn Thanh Huyền Khóa Báo Cáo Thực Tập Cuối *) Tài khoản 157 – Hàng gửi đi bán - Nội dung: Dùng để phản ánh trị giá hàng hóa, thành phẩm đã gửi hoặc chuyển đến cho khách hàng; Hàng hóa, thành phẩm gửi bán đại lý, ký gửi; Hàng hoá, sản phẩm chuyển cho đơn vị cấp dưới hạch toán phụ thuộc để bán; Trị giá dịch vụ đã hoàn thành, bàn giao cho người đặt hàng, nhưng chưa được xác định là đã bán (chưa được tính là doanh thu bán hàng trong kỳ đối với số hàng hóa, thành phẩm đã gửi đi bán, dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng). - Kết cấu: Bên Nợ Tài khoản 157 - Trị giá thành phẩm, hàng hóa đã gửi đi cho khách hàng hoặc gửi bán đại lý, ký gửi; gửi cho các đơn vị cấp dưới hạch toán phụ thuộc. - Trị giá dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng nhưng chưa xác định là đã bán, - Cuối kỳ kết chuyển trị giá hàng hóa, thành phẩm đã gửi đi bán, chưa xác định là đã bán cuối kỳ ( theo phương pháp kiểm kê định kỳ). Bên Có - Trị giá hàng hóa, dịch vụ gửi đi bán, dịch vụ đã cung cấp được xác định là đã bán. - Trị giá hàng hóa, dịch vụ gửi đi bán, dịch vụ cung cấp bị khách hàng trả lại. - Đầu kỳ, kết chuyển trị giá hàng hóa, thành phẩm đã gửi bán, dịch vụ cung cấp chưa được xác định là đã bán đầu kỳ (trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ). Số dư cuối kỳ: Trị giá hàng hóa, thành phẩm đã gửi đi, dịch vụ đã cung cấp chưa được xác định là đã bán trong kỳ. *) Tài khoản 003 – Hàng hóa nhận bán hộ, nhận ký gửi. - Nội dung: Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hàng hóa nhận bán hộ, nhận ký gửi, ký cược của các đơn vị và cá nhân khác. - Kết cấu: Bên Nợ Tài khoản 003 - Trị giá hàng hóa nhận bán hộ, nhận ký gửi, ký cược. Bên Có - Trị giá hàng hóa đã bán hộ hoặc đã trả lại cho người nhờ ký gửi, ký cược. - Giá trị tài sản nhận ký cược đã phát mại do đối tác vi phạm hợp đồng kinh tế. Số dư cuối kỳ: Trị giá hàng hóa còn nhận bán hộ, nhận ký gửi, ký cược. Sinh Viên : Hồ Mậu Nam 20 Lớp: LT K44B
- Xem thêm -