Tài liệu Hội thoại trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh

  • Số trang: 107 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 66 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ……………………. NGUYỄN THỊ GẤM HỘI THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số : 60. 22. 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Phạm Hùng Việt Thái Nguyên – 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 1 http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thị Gấm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 2 http://www.lrc-tnu.edu.vn MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Vào năm 1987, “Nỗi buồn chiến tranh” xuất hiện trong đời sống văn học Việt Nam như một viên ngọc với hình thù và màu sắc khác lạ. Vẻ đẹp dị biệt của nó đã khiến nhiều người lầm tưởng trong nó hàm chứa cả những chất độc, để rồi, khi nhìn nhận lại, người ta phải thừa nhận nó thực sự quý giá. Đọc “Nỗi buồn chiến tranh”, nhà văn Nguyên Ngọc đã ca ngợi: "Về mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới". [46] “Nỗi buồn chiến tranh” cũng đã được Frank Palmos và Phan Thanh Hảo dịch sang tiếng Anh và xuất bản năm 1994 với tựa để "The Sorrow of War". Tác phẩm nhận được sự ca tụng rộng rãi từ các độc giả nước ngoài, và được một số nhà phê bình đánh giá là một trong những tiểu thuyết cảm động nhất về chiến tranh. Để góp phần làm nên những thành công ấy, không thể không nhắc đến sự đóng góp của ngôn ngữ nghệ thuật, trong đó hội thoại chiếm một vị trí đáng kể. 1.2. Với Ngôn ngữ học Việt Nam, Ngữ dụng học đã không còn xa lạ. Trong các nội dung nghiên cứu của ngữ dụng học, các vấn đề về hội thoại có vị trí rất quan trọng vì nó chính là nội dung phản ánh vai trò của ngôn ngữ trong thực tế giao tiếp. Ở nước ta, trong thời gian qua, một số tác giả đã vận dụng lí thuyết ngữ dụng học vào việc nghiên cứu ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học. Mặc dù vậy, đây vẫn là vùng đất màu mỡ cần được khai phá nhiều hơn nữa, đặc biệt với những khoảng còn ẩn chứa bao điều thú vị như “Hội thoại trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh””. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 3 http://www.lrc-tnu.edu.vn 1.3. Bản thân người viết có niềm yêu thích với ngôn ngữ học nói chung và Ngữ dụng học nói riêng, luôn có mong muốn được tìm hiểu nhiều hơn nữa về lĩnh vực này để phục vụ cho công việc học tập và giảng dạy. Vì tất cả những lý do trên, chúng tôi đã chọn “Hội thoại trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”” làm đề tài nghiên cứu. 2. Lịch sử vấn đề 2.1. Nghiên cứu hội thoại trong các tác phẩm văn học Có thể nói, hội thoại trong các tác phẩm văn học là đề tài được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như sau: “Hội thoại trong truyện ngắn của Nam Cao” (Luận án tiến sĩ của Mai Thị Hảo Yến, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006). Ở luận án này, tác giả đã làm sáng tỏ lý thuyết về hội thoại trong dụng học bằng việc miêu tả cấu trúc các hình thức thoại dẫn trong truyện ngắn Nam Cao. “Hội thoại trong sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám (đặc điểm sử dụng từ ngữ trong quan hệ với nhân vật)” (luận văn thạc sĩ của Phạm Văn Khanh,Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006). Tại công trình này, tác giả chủ yếu tìm hiểu đặc điểm sử dụng từ ngữ trong hội thoại của các nhân vật, qua đó thấy được sự phù hợp giữa ngôn ngữ hội thoại và hình tượng nhân vật trong tác phẩm Nam Cao. “Bước đầu tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng” (luận văn thạc sĩ của Hoàng Thị Quỳnh Ngân, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2008). Trong luận văn này, tác giả chủ yếu đi vào tìm hiểu đặc điểm của lời thoại, qua đó thấy được những nét đặc sắc trong sáng tác của nhà văn miền núi Vi Hồng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 4 http://www.lrc-tnu.edu.vn “Hội thoại trong “Dế mèn phiêu lưu kí”” (luận văn thạc sĩ của Giáp Thị Thuỷ, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2009). Ở luận văn này, tác giả đã đi sâu tìm hiểu về cấu trúc hội thoại và sự thể hiện các quan hệ liên nhân – phép lịch sự trong “Dế mèn phiêu lưu kí” của nhà văn Tô Hoài. Ngoài ra, còn có thể kể tới một số bài viết như: “Các kiểu thoại dẫn trực tiếp, tự do trong truyện ngắn Nam Cao” (Mai Thị Hảo Yến); “Ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng” (Đinh Trí Dũng); “Hiệu quả nghệ thuật của lời thoại nhân vật trong truyện ngắn “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp” (Nguyễn Thị Hương); “Chất quê kiểng trong lời thoại của bà cụ Tứ trong “Vợ nhặt” của Kim Lân” (Lương Thị Bình); “Hành vi nhận xét đánh giá qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Chu Lai” (Cao Xuân Hải); “Từ hô gọi trong lời đối thoại và độc thoại của nhân vật qua khảo sát truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” (Lê Thị Sao Chi); “Ngôn ngữ đối thoại nhân vật trong sáng tác của Frank Kafka” (Đỗ Thị Thu Hằng); “Nghệ thuật tổ chức đối thoại trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng” (Châu Minh Hùng). Trong các bài viết vừa nêu, các tác giả đã bàn tới một số khía cạnh cụ thể liên quan đến hội thoại trong một số tác phẩm văn chương được nhắc tới. 2.2 Nghiên cứu về “Nỗi buồn chiến tranh” Đã có một số công trình nghiên cứu về “Nỗi buồn chiến tranh” dưới cái nhìn của văn học như: “Cách xử lý đề tài chiến tranh qua hai tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” và “Ăn mày dĩ vãng”” (luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008);“Dòng hồi ức trong “Nỗi buồn chiến tranh”” (luận văn thạc sĩ của Hoàng Bích Hậu, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008); “Nhịp điệu kể trong “Nỗi buồn chiến tranh”” (luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Huyền, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 5 http://www.lrc-tnu.edu.vn Từ góc độ ngôn ngữ học, công trình “Ngôn ngữ nghệ thuật trong “Nỗi buồn chiến tranh” (luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Xuân, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008) đã tìm hiểu về một số đặc điểm ngôn ngữ trong tác phẩm. Tuy nhiên, hội thoại lại chưa được tác giả lưu tâm tới. Công trình “Trường nghĩa và việc phân tích tác phẩm văn học trong “Nỗi buồn chiến tranh””(luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Lê Mĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006) đã tìm hiểu đặc điểm của trường nghĩa chiến tranh, vai trò của trường nghĩa này với việc thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm và mối quan hệ giữa trường nghĩa với phân tích tác phẩm văn học. Điểm qua những công trình như trên, có thể khẳng định rằng, từ trước tới nay, tuy đã có một số công trình nghiên cứu về tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về hội thoại trong tiểu thuyết này như một đối tượng nghiên cứu riêng. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1.Mục đích nghiên cứu Thông qua việc tìm hiểu hội thoại trong “Nỗi buồn chiến tranh” ở một số khía cạnh, luận văn nhằm chỉ ra đặc điểm và vai trò của hội thoại trong tiểu thuyết này dưới góc nhìn của ngữ dụng học, từ đó góp phần khẳng định những đặc sắc về ngôn ngữ của tác phẩm. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Xác định cơ sở lý thuyết về ngữ dụng học, đặc biệt là về hội thoại như khái niệm hội thoại, cấu trúc hội thoại, quy tắc hội thoại, .v.v. làm điểm tựa cho việc tìm hiểu hội thoại trong “Nỗi buồn chiến tranh” - Trên cơ sở lý thuyết, tập hợp và xử lý tư liệu về hội thoại trong “Nỗi buồn chiến tranh” Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 6 http://www.lrc-tnu.edu.vn - Miêu tả những đặc điểm cơ bản của hội thoại (như hình thức, cấu trúc cuộc thoại, tính chất đoạn thoại,...), vai trò của hội thoại với việc thể hiện nội dung tác phẩm. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”. Tác phẩm đã được xuất bản nhiều lần dưới cả hai tên gọi: “Nỗi buồn chiến tranh” và “Thân phận tình yêu”. Trong luận văn này, chúng tôi lấy bản in “Nỗi buồn chiến tranh” của Nhà xuất bản Phụ nữ, xuất bản năm 2005 làm văn bản để nghiên cứu. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Có thể nghiên cứu “Nỗi buồn chiến tranh” ở nhiều góc độ khác nhau, song trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu về đặc điểm hội thoại được thể hiện trong tác phẩm. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp miêu tả (với hai thủ pháp chính là phân tích và tổng hợp) Phương pháp này được sử dụng để miêu tả các cấu trúc hội thoại, hình thức hội thoại, vai trò của hội thoại với việc thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm... - Phương pháp thống kê, phân loại Phương pháp này được áp dụng để tính đếm tần số xuất hiện và phân loại các cấu trúc hội thoại, các kiểu quan hệ,... làm cơ sở phân tích, nhận xét các đặc điểm của hội thoại, đánh giá vai trò của hội thoại trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 7 http://www.lrc-tnu.edu.vn 6. Đóng góp của luận văn 6.1. Về lý luận Luận văn cho thấy khả năng áp dụng các tri thức về ngữ dụng học nói chung, về hội thoại nói riêng để nghiên cứu ngôn ngữ trong một tác phẩm cụ thể. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm cơ sở cho việc phân tích ngôn từ nghệ thuật trong tu từ học hay làm sáng tỏ phong cách ngôn ngữ tác giả qua tác phẩm của họ. 6.2. Về thực tiễn Trước hết, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp độc giả có cái nhìn cụ thể hơn về giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của “Nỗi buồn chiến tranh”- cuốn tiểu thuyết đã từng gây nhiều ý kiến trái chiều trên văn đàn Việt Nam. Đồng thời, luận văn còn là những gợi ý bổ ích, phục vụ cho việc dạy và học ngôn ngữ văn học nói chung và ngữ dụng học nói riêng. 7. Bố cục của luận văn Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn gồm ba chương: Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết và thực tế liên quan đến đề tài Chương 2: Đặc điểm hội thoại trong “Nỗi buồn chiến tranh” Chương 3: Vai trò của hội thoại trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 8 http://www.lrc-tnu.edu.vn Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1. Lý thuyết hội thoại 1.1.1. Khái niệm hội thoại Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp, phương tiện tư duy quan trọng nhất của con người. Nhờ có giao tiếp bằng ngôn ngữ mà con người có thể thuận lợi trao đổi thông tin, bày tỏ quan điểm, cảm xúc, thiết lập hoặc gỡ bỏ những sợi dây liên hệ tình cảm. Trong thực tiễn, giao tiếp ngôn ngữ được thể hiện dưới hai dạng cơ bản là hội thoại và độc thoại. Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, “hội” có nghĩa là họp lại với nhau, gặp nhau, “thoại” là lời nói, nói chuyện. Như vậy, theo cách hiểu thông thường, giản đơn thì hội thoại nghĩa là hai hay nhiều người nói chuyện với nhau, tác động đến nhau bằng lời. Hội thoại, từ khi trở thành đối tượng của Ngữ dụng học, đã được nhiều tác giả như C.K. Orecchioni, H.P.Goice, G.Leach, D. Wilson, …quan tâm tìm hiểu, và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau. Theo GS. Đỗ Hữu Châu, “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác”. [3, 201] Chức năng làm môi trường sống của ngôn ngữ của hội thoại đã được nhà lý luận ngôn ngữ Xô Viết M. Bakhtin nhấn mạnh: “Đối thoại là bản chất của ý thức, bản chất của cuộc sống con người...Sống tức là tham gia và đối thoại: hỏi, nghe, trả lời, đồng ý... Con người tham gia vào cuộc đối thoại ấy bằng toàn bộ con người mình và toàn bộ cuộc đời mình, bằng mắt, tay, tâm hồn, tinh thần và hành vi. Nó trút hết con người nó vào lời nói và tiếng nói của nó gia nhập dàn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 9 http://www.lrc-tnu.edu.vn đối thoại của cuộc sống con người, gia nhập cuộc hội thảo thế giới... Bản ngã không chết, cái chết chỉ là sự ra đi. Con người ra đi khi đã nói lời của mình, nhưng bản thân lời nói ấy còn lại mãi mãi trong cuộc thoại không bao giờ kết thúc.... Đối thoại là một phương diện của tồn tại con người, nó cho thấy có cả một bộ mặt tự nhiên sinh động của hiện thực”. [32, 11] Một cuộc hội thoại sẽ chịu sự chi phối của các yếu tố sau: - Thoại trường: Thoại trường chính là hoàn cảnh không gian, thời gian nơi diễn ra cuộc thoại. Thoại trường có thể mang tính công cộng, ví dụ như trong cuộc họp, buổi hội thảo, trên giảng đường, trong lớp học... Thoại trường cũng có thể mang tính riêng tư, ví dụ như trong nhà bếp, phòng ngủ... Không chỉ có không gian, thời gian mà khả năng có mặt của những người mới tham gia vào cuộc thoại đang diễn ra cũng được xem là đặc điểm của thoại trường. Một cuộc đối thoại mang tính riêng tư, ví dụ như của đôi trai gái đang yêu nhau, sẽ thay đổi ít nhiều về nội dung, cách thức khi có mặt thêm người thứ ba, dù sự xuất hiện đó là khách quan và người thứ ba kia không hề xen vào cuộc thoại. [3] - Thoại nhân: Thoại nhân là những người tham gia vào cuộc thoại. Trước hết, các cuộc thoại khác nhau ở số lượng người tham gia. Căn cứ theo tiêu chí này, các nhà nghiên cứu đã chia hội thoại thành các dạng: song thoại (cuộc thoại gồm hai thoại nhân), tam thoại (cuộc thoại gồm ba thoại nhân) và đa thoại (cuộc thoại gồm ba thoại nhân trở lên), trong đó, song thoại là dạng cơ bản, phổ biến nhất. Không chỉ số lượng mà cương vị và tư cách của thoại nhân, ví dụ như tính chủ động hay bị động của các đối tác (đối ngôn), cũng ảnh hưởng rất lớn đến các cuộc thoại.[3] - Đích giao tiếp: Đích giao tiếp là mục tiêu cần đạt đến trong mỗi cuộc thoại. Có cuộc thoại có đích rõ ràng, được xác định từ trước khi diễn ra hội thoại (ví dụ như hội thảo khoa học, thương thuyết ngoại giao...). Ngược lại, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 10 http://www.lrc-tnu.edu.vn cũng có những cuộc thoại lan man, không xác định trước đích hoặc đích không rõ (ví dụ như các cuộc tán gẫu, nói chuyện phiếm...) [3] - Hình thức cuộc thoại: các cuộc thoại còn khác nhau ở chỗ có hay không có hình thức cố định. Các cuộc hội thảo, thương thuyết ngoại giao thường có hình thức cố định, chặt chẽ, mang tính nghi lễ. Trong khi đó, các cuộc trò chuyện trong đời thường sẽ không bị bó buộc bởi bất kì nghi lễ, hình thức nào. [3] 1.1.2. Vận động hội thoại Hội thoại là một vận động bằng ngôn ngữ, là cách các thoại nhân sử dụng các yếu tố ngôn ngữ để tác động qua lại lẫn nhau, nhằm đạt được mục đích nhất định. Bất cứ một cuộc thoại nào cũng gồm ba vận động: trao lời, trao đáp và tương tác. Trong đó hai vận động trao lời và trao đáp là do từng thoại nhân thực hiện và phối hợp với nhau tạo thành vận động thứ ba- tương tác. Trao lời là hoạt động của người phát (kí hiệu SP1) tạo ra diễn ngôn và hướng diễn ngôn của mình đến người nhận SP2. Trao đáp là quá trình người nhận chuyển thành vai người phát đáp lại lời thoại. Sự thay đổi luân phiên vai người phát - nhận giữa các thoại nhân làm nên hoạt động trao- đáp trong hội thoại. Qua hoạt động này, thoại nhân thông qua diễn ngôn và các biểu hiện phi ngôn ngữ của mình để tác động qua lại lẫn nhau, làm thay đổi nhau. Hoạt động tác động qua lại lẫn nhau của các nhân vật trong giao tiếp chính là sự tương tác trong hội thoại. Chính nhờ sự tương tác mà hội thoại trở thành hoạt động giao tiếp đặc biệt thú vị và hấp dẫn của con người, trong đó “mỗi nhân vật tương tác là những nhạc công trong bản giao hưởng vô hình mà phần nhạc họ chơi không được biên soạn từ trước, mỗi người tự soạn ra trong diễn tiến của cuộc hoà nhạc, một cuộc hoà nhạc không có nhạc trưởng”. [3, 219] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 11 http://www.lrc-tnu.edu.vn 1.1.3. Quy tắc hội thoại Để hội thoại thành công, các thoại nhân bắt buộc phải tuân theo một số quy tắc nhất định. Qua nghiên cứu thực tế, K. Orecchioni đã hệ thống các quy tắc thành ba nhóm như sau: - Các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời - Các quy tắc chi phối cấu trúc hội thoại - Các quy tắc chi phối quan hệ liên nhân trong hội thoại. Theo GS. Đỗ Hữu Châu, chúng ta nên có thêm một nhóm quy tắc thứ tư: Nhóm quy tắc điều hành nội dung hội thoại. Nhóm này gồm hai nguyên tắc: Nguyên tắc cộng tác hội thoại và nguyên tắc quan yếu. Cụ thể như sau: 1.1.3.1. Quy tắc luân phiên lượt lời Mỗi lần SP1 hay SP2 nói là một lượt lời. Các lượt lời có thể được một người điều chỉnh hoặc do các thoại nhân tự thương lượng ngầm với nhau. Khi tham gia hội thoại, các thoại nhân phải ý thức rõ ràng về vai trò nói và nghe của nhau. Để tiến trình hội thoại không bị gián đoạn, giao tiếp thuận lợi, mỗi thoại nhân phải tuân thủ các quy tắc sau: Vai nói thường xuyên thay đổi nhau trong một cuộc thoại. Mỗi lần chỉ một người nói. Lượt lời của mỗi người thường thay đổi về độ dài, do đó cần có những biện pháp để nhận biết khi nào một lượt lời chấm dứt. Vị trí ở đó nhiều người cùng nói một lúc tuy thường gặp nhưng không bao giờ kéo dài. Nhường lời cho người hội thoại với mình, không được cướp lời người khác khi người đó chưa kết thúc. Nối tiếp lời của người tham gia hội thoại kịp thời, tránh không được để khoảng yên lặng giữa các lượt lời quá dài. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 12 http://www.lrc-tnu.edu.vn Trật tự của người nói không cố định, ngược lại luôn thay đổi. 1.1.3.2.Quy tắc điều hành nội dung hội thoại Các quy tắc điều hành nội dung hội thoại chính là các quy tắc điều hành quan hệ giữa nội dung của các lượt lời tạo nên cuộc hội thoại. * Nguyên tắc cộng tác hội thoại: Nguyên tắc này được Grice nêu ra năm 1967, được thể hiện qua 4 phương châm: - Phương châm về lượng: Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đáp ứng đủ như đòi hỏi của đích hội thoại. Đừng làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin lớn hơn đòi hỏi. - Phương châm về chất: Hãy làm cho những đóng góp của anh là đúng, đừng nói những điều mà anh tin rằng không đúng. Đừng nói những điều mà anh không đủ bằng chứng xác thực. - Phương châm quan hệ: Hãy làm cho phần đóng góp của anh có liên quan đến vấn đề đang đề ra. - Phương châm cách thức: Hãy nói rõ ràng Tránh lời nói tối nghĩa, mập mờ Hãy nói ngắn gọn Hãy nói có trật tự. * Nguyên tắc quan yếu: Theo Wilson và Sperber, một phát ngôn chỉ quan yếu khi nó có hiệu lưc nào đó với ngữ cảnh và trong những điều kiện giống nhau., hiệu lực với ngữ cảnh càng cao thì tính quan yếu của phát ngôn càng lớn. Từ nền tảng đó, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 13 http://www.lrc-tnu.edu.vn K. Orecchioni đã tìm ra bốn phương diện mà một phát ngôn có thể quan yếu: quan yếu về ngữ dụng, quan yếu về lập luận, quan yếu về hứng thú và quan yếu về đề tài. Một phát ngôn được xem là quan yếu về ngữ dụng khi nó có hệ quả với hành động, cách cư xử của những người tham gia hội thoại; quan yếu về lập luận khi nó làm cơ sở để người nghe rút ra những suy ý làm thay đổi hiểu biết hay tín điều của người nghe; quan yếu về hứng thú khi thu hút được sự quan tâm của người nghe, quan yếu về đề tài khi nó có quan hệ với nhau và cùng quan hệ với đề tài của cuộc thoại mà nó tham gia vào. Để cuộc thoại thành công, các thoại nhân luôn phải tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Một trong những khía cạnh của sự ảnh hưởng đó là thương lượng hội thoại. Thương lượng hội thoại thể hiện ở các bình diện sau: - Về phương diện hình thức hội thoại, các thoại nhân thoả thuận với nhau về ngôn ngữ được dùng. - Về cấu trúc hội thoại, các thoại nhân thương lượng về sự mở đầu, kết thúc và lượt lời của các nhân vật. - Về nội dung hội thoại, các thoại nhân thương lượng với nhau về các vấn đề đưa ra hội thoại. - Về thời gian, thương lượng hội thoại có thể diễn ra từ đầu, trong quá trình hội thoại hoặc trong một số trường hợp cá biệt, thương lượng hội thoại có thể diễn ra trước khi cuộc hội thoại bắt đầu. - Về cách thức, thương lượng hội thoại có thể diễn ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. 1.1.3.3. Quy tắc chi phối quan hệ liên nhân trong hội thoại Khi tham gia vào một cuộc thoại, ngoài các quy tắc ngôn ngữ, thoại nhân còn phải tuân thủ những quy ước của xã hội như quy tắc thẩm mỹ, quy tắc đạo đức, quy tắc lịch sự... Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 14 http://www.lrc-tnu.edu.vn “Lịch sự”, theo cách hiểu thông thường, là cách giao tiếp đúng mực, theo khuôn phép, khiến cho người giao tiếp với mình hài lòng. Từ góc độ Ngữ dụng học, lịch sự còn được xem xét cùng với thể diện để đảm bảo tính toàn vẹn và đầy đủ. Phép lịch sự là tổng thể những cách thức mà thoại nhân dùng để giữ gìn thể diện cho nhau. Lịch sự gồm 2 bình diện: - Lịch sự quy ước: Trong khi tiến hành hội thoại, thoại nhân phải tuân theo những quy ước, nghi thức giao tiếp được cộng đồng chấp nhận và tuân theo. - Lịch sự chiến lược: Khác với lịch sự quy ước, lịch sự chiến lược mang tính riêng biệt cho từng cuộc giao tiếp cụ thể. Lịch sự chiến lược được thể hiện thông qua việc chọn đề tài hội thoại và thực hiện các hành động ngôn ngữ. [3, 226-282] 1.1.4. Cấu trúc hội thoại Có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc của hội thoại, đi kèm với mỗi dạng cấu trúc là các đơn vị hội thoại tương ứng. Theo trường phái phân tích hội thoại, đơn vị hội thoại là các lượt lời. Harvey Sark - người đặt nền móng đầu tiên trong trường phái này cho rằng dưới các lượt lời không còn đơn vị nào khác ngoài các phát ngôn. Dù khác nhau về kiểu loại, phong cách nhưng trong các cuộc hội thoại, các lượt lời thường đi với nhau tạo thành từng cặp gần như tự động. Hai phát ngôn được coi là cặp kế cận phải thoả mãn các điều kiện sau: kế cận nhau, do hai thoại nhân khác nhau nói ra, được tổ chức thành bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai, có tổ chức riêng sao cho bộ phận riêng thứ nhất đòi hỏi phải có bộ phận riêng thứ hai. Những cặp kế cận thường thấy là: cặp chào – chào, cặp hỏi - trả lời, cặp trao - nhận, cặp đề nghị - đáp ứng, ... Cốt lõi của lý thuyết phân tích hội thoại là cặp kế cận. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 15 http://www.lrc-tnu.edu.vn Theo trường phái phân tích diễn ngôn, đơn vị hội thoại là phát ngôn và cặp thoại. Trường phái này cho rằng: Hội thoại là một đơn vị lớn được cấu trúc theo các bậc: tương tác, đoạn thoại, cặp thoại, bước thoại và hành vi. So với trường phái phân tích hội thoại, trường phái phân tích diễn ngôn đã quan tâm tới các đơn vị trên và dưới lượt lời một cách toàn diện và sâu sắc hơn. Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi theo lý thuyết hội thoại Thuỵ Sĩ – Pháp, coi hội thoại là một tổ chức có trật tự , nên cũng có các đơn vị cấu trúc từ lớn đến nhỏ. Đó là các đơn vị: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại và hành vi ngôn ngữ. 1.1.4.1.Cuộc thoại Cuộc thoại là đơn vị hội thoại lớn nhất. Đó là cuộc tương tác bằng lời, tính từ khi các thoại nhân gặp nhau, khởi đầu nói và nghe cho đến khi kết thúc quá trình này. Cuộc thoại được xác định theo: + Sự thống nhất về thoại nhân: khi thoại nhân thay đổi thì cuộc thoại thay đổi. + Sự thống nhất về thoại trường, tức là sự thống nhất về thời gian và địa điểm diễn ra cuộc thoại. + Sự thống nhất về chủ đề Nói như Ke Brat-Orecchioni thì “Để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng trong một không gian-thời gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng, nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng”. [3, 313] Như vậy, trong cuộc trò chuyện, các nhân vật tham gia có thể trao đổi nhiều vấn đề khác nhau, hết vấn đề này đến vấn đề khác, nhưng bao giờ cũng phải có mở đầu và kết thúc. Điểm bắt đầu và kết thúc đó chính là ranh giới của cuộc thoại. Thời đoạn bắt đầu được gọi là “mở thoại” và thời đoạn kết Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 16 http://www.lrc-tnu.edu.vn thúc được gọi là “kết thoại”. Phần trung tâm cuộc thoại được gọi là “thân thoại”. Cấu trúc tổng quát của một cuộc thoại bao gồm: Đoạn thoại mở thoại Đoạn thoại thân thoại Đoạn thoại kết thoại Với một số cuộc thoại, chúng ta có thể nhận thấy các dấu hiệu phân định ranh giới cuộc thoại như dấu hiệu mở đầu ( chào hỏi, giới thiệu, ...), dấu hiệu kết thúc (chào tạm biệt, ...). Mặc dù vậy, những dấu hiệu như thế không thể xem là bắt buộc, đặc biệt trong trường hợp giao tiếp giữa những người thân quen. 1.1.4.2. Đoạn thoại “Đoạn thoại là một phần của cuộc thoại bao gồm các diễn ngôn có sự liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa (thống nhất về chủ đề) và về ngữ dụng (thống nhất về đích) [5, 555]… Nói cách khác, đó là một số cặp trao đáp có mối quan hệ mật thiết về ngữ nghĩa hoặc ngữ dụng. Về ngữ nghĩa, đó là đơn vị có một chủ đề duy nhất. Về ngữ dụng, đó cũng là đơn vị có đích hội thoại duy nhất. Căn cứ vào chức năng, có các loại đoạn thoại sau: đoạn thoại mở thoại, đoạn thoại thân thoại, đoạn thoại kết thoại. Cấu trúc, dung lượng của các đoạn thoại này là khác nhau. Đoạn mở thoại và kết thoại có cấu trúc tương đối đơn giản và ổn định, dễ nhận ra. Đoạn thân thoại thường có dung lượng lớn và cấu trúc phức tạp. Tổ chức của đoạn thoại mở đầu và đoạn thoại kết thúc thường được nghi thức hoá và lệ thuộc vào nhiều yếu tố như mối quan hệ giữa các tham thoại, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích cuộc thoại, .v.v. Đoạn thoại mở đầu phần lớn được công thức hoá mang nhiều tính chất nghi thức. Ngoài chức năng mở ra cuộc thoại, đoạn thoại mở đầu còn thực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 17 http://www.lrc-tnu.edu.vn hiện vai trò thương lượng hội thoại như thống nhất về chủ đề, thăm dò đối phương, thử giọng điệu hội thoại,... Thông thường, trong đoạn mở thoại người ta thường tránh sự xúc phạm thể diện của người nghe, chuẩn bị một hoà khí cho cuộc thoại. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, người mở thoại cố tình xúc phạm thể diện nhằm một mục đích hội thoại nào đó. Đoạn thoại kết thúc thường có chức năng tổ chức sự kết thúc cuộc gặp gỡ, để các thoại nhân cảm ơn, hứa hẹn, chúc tụng, ... Theo nguyên tắc lịch sự, cần tránh kết thúc đơn phương, đột ngột, trừ trong những tình huống đặc biệt. Có thể nói, ranh giới phân định các đoạn thoại còn chưa rõ ràng, gây nhiều khó khăn cho người nghiên cứu. Mặc dù vậy, đây vẫn là đơn vị thực có, và đôi khi, để phân biệt đoạn thoại này với đoạn thoại kia, người nghiên cứu ngoài các dấu hiệu hình thức buộc phải dựa vào trực cảm của mình. 1.1.4.3. Cặp thoại “Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại tạo nên.” [3, 320] Xét về mặt cấu trúc, cặp thoại thường do hai tham thoại tạo nên, được gọi là cặp thoại hai tham thoại. Trong cặp thoại này, mỗi tham thoại tương ứng với một chức năng cụ thể. Tham thoại thứ nhất được gọi là “tham thoại dẫn nhập”, tham thoại thứ hai được gọi là “tham thoại hồi đáp”. Ở cặp thoại này, lượt lời trùng khớp với tham thoại, tham thoại trùng khớp với hành động ngôn ngữ. Cặp thoại hai tham thoại là dạng đơn giản, dễ nhận biết nhất trong thực tế giao tiếp ngôn ngữ. Các trường hợp đặc biệt: Cặp thoại một tham thoại: Thường xảy ra dạng cặp thoại này khi SP2 thay cho hành động ngôn ngữ lại thực hiện hành động vật lý (mỉm cười, lắc đầu, vẫy tay...) hoặc im lặng, không có hành động gì, khiến cho cặp thoại rơi vào trạng thái “hẫng”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 18 http://www.lrc-tnu.edu.vn Cặp thoại phức tạp: là cặp thoại có hơn hai tham thoại tham gia, có nhiều hành vi ngôn ngữ trong quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Cặp thoại phức tạp có rất nhiều dạng phức tạp khác nhau. Đó có thể là cặp thoại có nhiều tham thoại dẫn nhập nhưng chỉ có một tham thoại hồi đáp. Ngược lại, đó cũng có thể là cặp thoại chỉ có một tham thoại dẫn nhập với rất nhiều tham thoại hồi đáp. Trường hợp khác là dạng cặp thoại phức tạp do có nhiều tham thoại tham gia ở cả hai phía. Xét về mặt tính chất, có cặp thoại chủ hướng / cặp thoại phụ thuộc, cặp thoại tích cực / cặp thoại tiêu cực. Cặp thoại chủ hướng là cặp chủ đạo, giữ vai trò trung tâm, chứa nội dung chính của đoạn thoại. Cặp thoại phụ thuộc là cặp thoại không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào cặp thoại khác. Cặp thoại phụ thuộc có chức năng bổ trợ, giải thích thêm cho những khía cạnh hay chi tiết nào đó của các tham thoại trong cặp thoại chủ hướng. Cặp thoại tích cực là cặp thoại có tham thoại hồi đáp thoả mãn đích của tham thoại dẫn nhập. Ngược lại, cặp thoại tiêu cực là cặp thoại có tham thoại hồi đáp không thoả mãn đích của tham thoại dẫn nhập. 1.1.4.4. Tham thoại “Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định.” [3, 316]. Tham thoại là đơn vị cơ sở tạo nên cặp thoại, nó không đồng nhất với lượt lời. “Lượt lời là một lần nói xong của người này khi người khác không nói.” [7, 87] Lượt lời là đơn vị phát ngôn mang tính hình thức, trong khi đó, tham thoại là đơn vị chức năng chỉ được xác định trong cặp thoại. Một lượt lời có thể chứa hết hoặc không hết tham thoại: nó có thể trùng khít, hoặc nhỏ hơn (trong trường hợp tham thoại gồm nhiều lượt lời), hoặc lớn hơn ( trường hợp lượt lời chứa nhiều tham thoại) một tham thoại. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 19 http://www.lrc-tnu.edu.vn Tham thoại được cấu thành từ hai phần: phần cốt lõi và phần mở rộng. Phần cốt lõi của tham thoại bao gồm hành vi chủ hướng và hành vi phụ thuộc. Hành vi chủ hướng quyết định hướng của tham thoại và quyết định hành vi hồi đáp thích hợp của người đối thoại. Hành phụ thuộc giữ vai trò biện minh, củng cố, đánh giá... hỗ trợ cho hành vi chủ hướng. Hành vi chủ hướng trong tham thoại dẫn nhập còn quyết định bản chất cặp thoại. Tên cặp thoại được xác định theo tên của hành vi chủ hướng trong tham thoại dẫn nhập. Phần mở rộng là các thành phần nằm ngoài khung tham thoại. Các thành phần này không tham gia vào nội dung mệnh đề mà chỉ thực hiện chức năng liên kết các phát ngôn với nhau. Vị trí thành phần mở rộng rất linh hoạt, nó có thể đứng đầu, đứng cuối hoặc chen vào gữa tham thoại. Mặc dù không tham gia vào mệnh đề nhưng chúng có vai trò khá quan trọng, đó là đưa đẩy, rào đón, tạo lập quan hệ để cuộc thoại thành công một cách thuận lợi hơn. 1.1.4.5. Hành vi ngôn ngữ Hành vi ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của cấu trúc hội thoại. Để hiểu được các tham thoại, cặp thoại, đoạn thoại,... chúng ta đều phải căn cứ vào hành vi ngôn ngữ. Hành vi ngôn ngữ, hiểu một cách đơn giản, là hành động được thực hiện nhờ phương tiện là ngôn ngữ. Đó là “một đoạn lời có tính mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu - ngữ điệu và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm – âm học mà người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó.” [59, 107] Người đầu tiên phát hiện ra bản chất của hoạt động trong lời nói là Austin trong công trình “Từ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 20 http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -