Tài liệu Hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà ai cập, thái hòa và con lai

  • Số trang: 94 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 46 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU GIA CẦM THỤY PHƯƠNG BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI: HOÀN THIỆN QUY TRÌNH CHĂN NUÔI GÀ AI CẬP, THÁI HÒA VÀ CON LAI CNĐT: LÊ THỊ NGA 8703 HÀ NỘI – 2010 DANH SÁCH CÁN BỘ THỰC HIỆN CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI TT A Họ và tên Cơ quan công tác Chủ nhiệm đề tài ThS. Nguyễn Ngọc Dụng Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương B Cán bộ tham gia nghiên cứu 1 TS. Phùng Đức Tiến Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương 2 TS. Lê Thị Nga Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương 3 ThS. Nguyễn Thị Liên Hương Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương 4 TS. Nguyễn Thị Nga Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương 5 TS. Nguyễn Duy Điều Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương 6 TS. Bạch Thị Thanh Dân Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương 7 ThS. Vũ Đức Cảnh Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương 8 TS. Dương Xuân Tuyển 9 ThS. Dương Trí Tuấn Trung Tâm nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi Trung Tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền Trung 0 MỞ ĐẦU Từ cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm bùng phát ở nhiều nơi trên thế giới. Ở nước ta, đợt dịch cúm gia cầm thứ 3 (từ tháng 12/2004 đến tháng 5/2005) vịt có tỷ lệ chết và tiêu huỷ nhiều gấp 2 lần gà, tỷ lệ dương tính với virus cúm của huyết thanh thuỷ cầm tăng từ 15% trong đợt 2 lên 39,6% trong đợt 3 (Báo cáo dịch cúm gia cầm trong giai đoạn 2004 - 2005 của Cục Thú y). Vì vậy vịt đang là đối tượng được quan tâm về cúm gia cầm. Tại Thái Lan năm 2004 nghiên cứu dịch tễ học virut cúm H5N1 trên 4 hệ thống chăn nuôi vịt cho thấy hệ thống chuồng kín an toàn sinh học không phát hiện thấy virut cúm, hệ thống chuồng hở phát hiện 4/17 trang trại (23,5%), hệ thống chạy đồng 28/61 đàn (45,9%), hệ thống chăn nuôi nhỏ lẻ: 27% (Songserm Thaweesak và CS, 2006 [71]). Một số nước như Anh, Pháp, Thái Lan, Indonesia,.. rất hạn chế nuôi vịt trên ao hồ, thả đồng và sử dụng nuôi vịt theo phương thức nuôi nhốt hoàn toàn không có ao hồ đã đạt năng suất cao, đem lại hiệu quả kinh tế và an toàn sinh học. Hơn nữa, vịt còn mang nhiều loại mầm bệnh khác, đặc biệt là bệnh Sallmonella, vịt có thể mang trùng và truyền qua trứng sang thế hệ sau hoặc làm ảnh hưởng đến các sản phẩm chăn nuôi như trứng, thịt, vì độc tố của vi khuẩn này có thể gây ngộ độc cho người (Sharon Whitmarsh, 1997 [69]). Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Ailen khẳng định, muốn hết bệnh trong gia cầm thì trước hết phải giữ vệ sinh chuồng trại thật sạch sẽ và thực hiện các biện pháp an toàn sinh học là điều kiện quyết định đến chất lượng sản phẩm và giảm chi phí trong chăn nuôi. Chăn nuôi vịt ở nước ta có truyền thống từ lâu đời, đứng thế hai trên thế giới về số lượng (FAO, 2008 [59]) và là nguồn thu nhập quan trọng của người nông dân Việt Nam. Thuỷ cầm thường chiếm từ 26-29% trong tổng đàn gia cầm. Theo ước tính của Cục Chăn nuôi thì năm 2008 tổng đàn gia cầm của cả nước tăng gần 10% so với năm 2007 trong đó đàn thuỷ cầm năm 2006: 62,6 triệu con, năm 2007: 70 triệu con. Như vậy đàn thuỷ cầm của nước ta có chiều hướng tăng lên về số lượng. Phương thức chăn nuôi nhỏ hộ gia đình chiếm 73,6% ở chăn nuôi vịt. Chăn nuôi vịt thả đồng tại đồng bằng sông Cửu Long có lợi nhuận cao, với ưu điểm cơ bản là tận dụng điều kiện tự nhiên thuận lợi, đầu tư chi phí thấp, mang lại lợi nhuận cao cho người chăn nuôi. Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi này vẫn chưa được quy hoạch để đảm bảo an toàn sinh học và đang là nguy cơ lây lan phát tán mầm bệnh, là mối đe doạ lây lan bùng phát dịch cúm gia cầm trên diện rộng vì từ tháng 10/2007 trở lại đây, trên nhiều tỉnh, thành phố đã xuất hiện nhiều ổ dịch cúm gia cầm mà nguyên nhân do vịt chiếm tới 86%. Vì vậy, chăn nuôi vịt thả đồng khoanh vùng trong một phạm vi nào đó 1 để có thể kiểm soát được đàn vịt, giảm thiểu lây lan dịch bệnh mà vẫn không ảnh hưởng tới tập quán chăn nuôi cũng như ảnh hưởng tới thu nhập của người nông d©n lµ hÕt søc cần thiết. Để giải quyết tốt công tác đảm bảo an toàn sinh học trong chăn nuôi vịt việc xây dựng các biện pháp xử lý môi trường nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sinh trưởng và phát triển của vịt, cắt đứt quá trình lây lan của dịch bệnh có ý nghĩa quan trọng (WHO, 2005 [72]). Hiện tại các cơ sở chăn nuôi đang sử dụng nhiều loại thuốc sát trùng khác nhau như Virkon-S, Bioclean, antisep, Formol tuy nhiên sử dụng nhiều cũng gây độc cho gia cầm và con người. Việc tìm kiếm các chất sát trùng tiêu diệt được vi khuẩn nhưng ít gây độc hại, thân thiện với môi trường cũng là vấn đề cần được quan tâm. Đồng thời xây dựng được quy trình xử lý chất thải đảm bảo cho chăn nuôi vịt đảm bảo an toàn sinh học. Chính vì vậy, cần định hướng cho người chăn nuôi theo các phương thức chăn nuôi, quy trình chăn nuôi đảm bảo an toàn sinh học, quy trình vệ sinh thú y, xử lý môi trường... phù hợp với từng vùng sinh thái, đồng thời đảm bảo tính bền vững. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ để phát triển chăn nuôi vịt đảm bảo an toàn sinh học”. Mục tiêu đề tài: Xây dựng các giải pháp đồng bộ để chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y phòng bệnh, xử lý môi trường, hạn chế lây lan dịch bệnh để đảm bảo an toàn sinh học cho các cơ sở chăn nuôi vịt. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 1.1.1. Tình hình chăn nuôi và phương thức chăn nuôi vịt Nhiều nước trên thế giới đã rất quan tâm đến nghề chăn nuôi vịt. Năm 1970 thịt vịt chỉ chiếm 3,3% so với tổng sản lượng gia cầm. Từ năm 1996 đến 2005 sản xuất thịt gia cầm tăng 30,73%, trong đó thịt vịt tăng 68,3%. Trên toàn thế giới sản xuất thịt vịt đã tăng liên tục từ năm 2001 đến năm 2007 với bình quân 4,13%/năm (Sing-Hwa Hu, 2007 [70]). Từ cuối năm 2004 đến nay, mặc dù dịch cúm gia cầm vẫn đang xẩy ra ở nhiều nước châu Á và một số nước Đông Âu nhưng số lượng vẫn tăng dần. Chăn nuôi thuỷ cầm trên thế giới tập trung ở một số nước châu Á, trong đó có chăn nuôi vịt là chủ yếu. Năm 2003 toàn thế giới có 2.308.243 nghìn con vịt, trong đó châu Á 2.058.423 nghìn con, Sản lượng thịt vịt năm 2003 toàn thế giới có 3.327.269 tấn, trong đó châu Á: 2.711.693 tấn. Năm 2007 theo số liệu của tổ chức FAO số lượng vịt ở châu Á là 2.473.453 nghìn con chiếm 90% đàn vịt trên thế giới dẫn đầu là Trung Quốc chiếm 69,44%, Malaysia: 2,81%, Việt 2 Nam: 2,52%, Thái Lan: 2,15%. Có 4 nước đứng đầu thế giới về sản xuất trứng vịt đó là Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia và Philippin chiếm 96,73% số lượng trứng vịt trên thế giới (FAO, 2007 [59]). Số lượng vịt trên thế giới, châu Á, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan năm 2001-2007 Đơn vị tính: triệu con Danh mục Thế giới Châu Á Trung Quốc Malaysia Thái Lan Năm 2001 2.056,16 1.811,43 1.483,64 26,45 70 Năm 2002 21.732,63 1.923,03 1.595,86 20,28 62 Năm 2003 2.308,24 2.058,42 1.731,79 31,39 48 Năm 2004 2.355,43 2.112,94 1.763,12 39,24 56,54 Năm 2005 2.644,38 2.395,38 2.034,46 41,15 56,67 Năm 2006 2.654,95 2.415,64 2.038,62 41,7 56,6 Năm 2007 2.715,26 2.473,45 2.088,89 42,8 56,6 Nguồn: FAO, 2008 Sản lượng thịt vịt trên thế giới, châu Á, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan năm 2001-2007 Đơn vị tính: ngàn tấn Danh mục Thế giới Châu Á Trung Quốc Malaysia Thái lan Năm Năm Năm Năm Năm 2001 2002 2003 2004 2005 3.028,63 3.187,39 3.327,27 3.414,33 3.796,44 2.442,60 2.559,77 2.711,69 2.798,87 3.160,93 1.965,91 2.087,66 2.230,54 2.262,32 2.607,59 68,767 52,72 81,62 102,03 107 105 93 72 84,82 85,01 Năm Năm 2006 2007 3.877,89 3.954,79 3.252,23 3.327,29 2.680,95 2.746,14 108 111 85 85 Nguồn: FAO, 2008 Có được các kết quả như vậy là nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trên các lĩnh vực: di truyền chọn giống, chăm sóc nuôi dưỡng, thú y phòng bệnh, an toàn sinh học, phương thức chăn nuôi, .... Từ những năm 1920 vịt Khakicampbell, vịt chạy nhanh ấn Ấn Độ là những giống được chọn lọc cho năng suất trứng cao. Các giống vịt cho năng suất thịt như vịt Anh Đào Hugary, Tiệp Khắc. Hiện nay các giống vịt siêu thịt Super M, Super M2, Super M3; Vịt siêu thịt Super Hearvy; vịt siêu trứng CV. Layer 2000 do Hãng Cherry Valley của Vương Quốc Anh tạo ra. Vịt Star 57, Star 76, M15,... do Hãng Grimau Frères cộng hòa Pháp tạo ra. Phương thức chăn nuôi cũng có nhiều thay đổi kết hợp chăn nuôi truyền thống với phương thức chăn nuôi công nghiệp có các trang thiết bị hiện đại giúp cho chăn nuôi vịt phát triển mạnh mẽ. Ở Thái Lan trước dịch cúm gia cầm năm 2004 tồn tại 4 hệ thống chăn nuôi vịt (Narin Thongwittaya, Ph.D, 2007 [65]). 3 - Hệ thống khép kín đảm bảo an toàn sinh học cao: Các giống nuôi thịt, Bắc Kinh và Chery valley được nuôi ở chuồng khép kín, 5.000-6.000 con trên một chuồng. Vịt con 01 ngày tuổi được nuôi lấy thịt thời gian 50-65 ngày được nuôi theo hệ thống cùng vào cùng ra. - Hệ thống chuồng mở: Hệ thống này là tốt đối với cả hai giống vịt thịt và vịt trứng bởi vì nó không tốn kém như hệ thống chuồng kín. - Hệ thống chạy đồng: Hầu hết vịt chăn thả là vịt lấy trứng như Khaki Campbell, vịt địa phương và vịt lai. Tuy nhiên, có cả một số nhỏ vịt thịt. Sau 7-21 ngày úm, vịt mái tơ, vịt lấy trứng được đưa đến ruộng lúa. Chúng ăn thóc trên cánh đồng, sau đó được đưa về khu nuôi nhốt vịt, nhưng một số đàn vịt vẫn giữ lại ở cánh đồng để giảm chi phí sản xuất, kể cả năng suất thấp hơn và tỷ lệ chết cao. - Hệ thống nông hộ: Vịt Bắc Kinh, Khaki Campbell và vịt lai được tiếp tục nuôi ở nông hộ trong nhà ở khu làng xã cùng với gia súc khác; gà, ngỗng, lợn hay chó. Ước tính 1-1,5 triệu vịt được nuôi trong nông hộ. Sau khi xẩy ra dịch cúm gia cầm, hệ thống chăn nuôi vịt chưa có sự thay đổi nhưng những biện pháp kiểm soát AI được tiến hành chặt chẽ. Trước khi đưa vịt tới khu giết mổ, 60 mẫu phân của đàn được chọn để phân lập virus. Vào cuối chu kỳ 50-60 ngày, mỗi nhà nuôi vịt cần phải được dọn sạch sẽ, tẩy uế và để trống ít nhất 21 ngày. Sau 3-4 tuần bắt đầu nuôi vịt 01 ngày tuổi và chu kỳ lại được lặp lại. Tại Philipin năm 2006 có khoảng 11 triệu con vịt trong đó có 8,4 triệu con (76%) chăn nuôi theo phương thức chăn thả nhằm tận dụng thức ăn sẵn có ngoài thiên nhiên, giảm chi phí rất nhiều so với chăn nuôi công nghiệp, tuy nhiên ở đây cũng xác định rõ là việc chăn nuôi này cũng có nguy cơ lây truyền bệnh cao nhất là bệnh cúm gia cầm (EdwinC. Villar và cộng sự, 2007 [55]). Indonesia thường chăn nuôi vịt ở các hộ nông dân vói số lượng nhỏ, chúng được thả theo đàn và tự tìm kiếm thức ăn, các đàn vịt này thường được nuôi trong khu vực trồng cây lương thực nhằm mục đích lấy trứng để tiêu dùng. Tuy nhiên để giảm rủi ro do bệnh cúm gia cầm gây nên cần có hệ thống nuôi giữ và quản lý tốt đàn vịt này đồng thời nghiên cứu lai giữa các giống vịt để tăng năng suất đồng thời vẫn giữ được nguồn gen kháng bệnh tốt của loài vịt chăn thả (Hardi Prasetyo, 2007 [58]). Theo Jeng-Fang Hang và cộng sự, 2007 chăn nuôi vịt là một nghề truyền thống của Đài loan, có vai trò rất quan trọng trong kinh tế ở nông thôn, có 5 kiểu hoạt động trong chăn nuôi vịt là: chăn nuôi vịt giống, chăn nuôi vịt thịt, chăn nuôi vịt lấy trứng, trạm ấp và nhà máy giết mổ. Các sản phẩm đều được tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới. Như vậy, ở nhiều nước đang phát triển chăn nuôi vịt nặng về phương thức chăn thả tự nhiên, quảng canh, tận dụng, do đó năng suất chăn nuôi thấp, 4 giá thành sản phẩm cao, thú y chưa được quan tâm, dịch bệnh còn gây nhiều thiệt hại, đặc biệt trong tình hình của dịch cúm gia cầm hiện nay. Do vậy, các nhà nghiên cứu trên thế giới rất quan tâm đến việc đảm bảo vệ sinh an toàn sinh học nhằm nâng cao hiệu quả cho ngành chăn nuôi, đặc biệt là dịch cúm gia cầm đang diễn biến phức tạp. Khi nghiên cứu vịt nuôi nhốt, vấn đề cần quan tâm là chuồng trại và mật độ nuôi của đàn sẽ ảnh hưởng đến không khí chuồng nuôi, nếu nồng độ CO2 cao sẽ dẫn đến thiếu ô xi trong không khí, từ đó làm giảm sức chống chịu bệnh tật của vịt. Nồng độ của khí NH3 vượt quá 0,01-0,02 phần nghìn thể tích không khí trong chuồng sẽ gây hại cho niêm mạc mắt và đường hô hấp, giảm sức đề kháng. Độ ẩm của chuồng càng cao thì ảnh hưởng của khí NH3 càng lớn. Nếu mật độ quá cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, sinh sản của vịt và tiểu khí hậu chuồng nuôi xấu đi, nhưng mật độ thấp sẽ không kinh tế khi sử dụng chuồng trại. Theo tài liệu của Hãng Chery Valley mật độ nuôi khô hoàn toàn chuồng khép kín không có sân chơi của vịt Super M nuôi sinh sản từ 1-3 tuần tuổi 32-35 con/m2 với nhiệt độ 270C; từ 4-7 tuần tuổi 3032con/m2 với nhiệt độ 230C; từ 7-14 tuần tuổi 25-30 con/m2 với nhiệt độ 200C; từ 14-21 tuần tuổi 20-22con/m2 với nhiệt độ 180C. Để hoàn thiện công nghệ chăn nuôi, phát huy khai thác tối đa tiềm năng di truyền giống có nhiều công trình nghiên cứu dinh dưỡng thức ăn vịt không những hoàn thiện sản xuất thức ăn mà còn cân bằng đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng cần thiết. 1.1.2. An toàn sinh học và quy trình thú y phòng bệnh cho vịt Hiện nay các loài thủy cầm, đặc biệt là vịt đang là đối tượng quan tâm hàng đầu trong nghiên cứu về virus cúm gia cầm. Chúng có thể mang virus nhưng không thể hiện triệu chứng lâm sàng và thải virus qua phân (WHO [72], CDC, 2005 [49]). Nếu gia cầm khác tiếp xúc với mầm bệnh này rất dễ bị nhiễm bệnh. Trong hướng dẫn an toàn sinh học của Hugh Milla, Attwood, 2004 cho thấy: An toàn sinh học giúp làm giảm các bệnh truyền nhiễm nói chung như bệnh cầu trùng, marek, viêm thanh khí quản truyền nhiễm…giảm nguy cơ lây lan bệnh tật trong cơ sở chăn nuôi cũng như việc lây lan bệnh tật ra môi trường bên ngoài và lây lan giữa các trang trại, ngoài ra an toàn sinh học còn mang lại hiệu quả kinh tế cao. Thông tin dịch tễ thực tế cho thấy rằng: Virus có độc lực thấp từ những chim hoang dã lây truyền cho gia cầm qua sự tiếp xúc giữa chúng đặc biệt là qua nguồn nước (WHO, 2005 [72]). Gần đây dịch cúm xảy ra tại châu Mỹ cũng thấy có sự liên quan biến đổi giữa virus có độc lực thấp thành độc lực cao (Senne et al., 2006 [68]). Trong nghiên cứu về yếu tố lây truyền bệnh thì sự tiếp xúc giữa những con vật hoang dã và con vật nuôi trong nhà có vấn đề lớn 5 trong việc lây lan mầm bệnh, tuy nhiên nếu thực hiện tốt các biện pháp an toàn sinh học thì việc nguy cơ lây lan mầm bệnh được giảm đi rõ rệt. Một nghiên cứu của Songserm và CS, 2006 [71] đã phát hiện thấy virus cúm H5N1 trong đàn vịt nuôi chăn thả, bán chăn thả và vịt chăn nuôi trong nông hộ chứ không phát hiện ở vịt nuôi tập trung. Thái Lan không sử dụng vacxin cúm gia cầm nhưng đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để phòng chống dịch bệnh như các biện pháp cách ly, an toàn sinh học (DLD, 2006 [54]). Trường đại học Maryland cũng cho biết nguyên nhân gia cầm mắc bệnh phụ thuộc phần lớn vào dịch tễ của trang trại, muốn giữ không cho mầm bệnh xâm nhập trước hết trang trại đó phải có điều kiện vệ sinh tốt. Ở đây người ta cũng chỉ ra rằng bệnh tụ huyết trùng và bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm có tỷ lệ chết từ 10 - 20%, bệnh CRD từ 3050% còn lại là các bệnh khác. Các bệnh này hầu hết đều liên quan chủ yếu đến môi trường chăn nuôi. Trong thời gian gần đây do dịch cúm gia cầm nên việc thực hiện an toàn sinh học được chú trọng hơn bao giờ hết. Trung Quốc phải chi 2 tỷ nhân dân tệ, các nước EU đã chi 1 tỷ Euro, Indonesia đã chi 15,8 triệu USD và World Bank chi khoảng 500 triệu USD dự kiến sẽ phải chi tiếp 1 tỷ USD trong năm tới để hỗ trợ cho việc khống chế dịch cúm gia cầm. Nghiên cứu của nhóm tác giả Singapo và Mỹ kết luận rằng kháng thể thụ động có thể cung cấp chiến lược cả phòng và trị bệnh cúm gia cầm (Brendon et al, 2006 [48]). Để đảm bảo an toàn sinh học, ngoài việc làm tốt công tác giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, đặc biệt là công tác vệ sinh thú y, các biện pháp cách ly, công tác vệ sinh trước, trong vµ sau khi nuôi là cần thiết. Ở gia cầm nói chung, đặc biệt ở vịt, mầm bệnh Salmonella rất nguy hiểm (Sharon Whitmarsh, 1997 [69]), chúng có thể tồn tại trong phân 3 năm, trong đất, nền chuồng 2 năm. Clostridium perfingens có khả năng sinh nha bào do đó chúng có thể tồn tại rất lâu trong môi trường, nền chuồng…Đồng thời trong khi đang nuôi, các mầm bệnh có thể qua gió, bụi, thậm chí trong chất thải của những cá thể mang trùng bám vào chuồng trại và các dụng cụ chăn nuôi. An toàn sinh học trong chăn nuôi, đặc biệt trong chăn nuôi gia cầm là vấn đề quyết định năng suất và hiệu quả chăn nuôi (Dan B Smith [53]). Bên cạnh công tác vệ sinh phòng bệnh, việc phòng bệnh chủ động bằng vaccine là rất quan trọng. Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế thì trong tháng 12/2003 và tháng 01/2004 dịch cúm gà đã gây ra đại dịch ở 11 nước và vùng lãnh thổ công bố dịch cúm gia cầm do virus H5N1 gây ra bao gồm: Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Indonexia, Trung Quốc, Hồng Kong, Đài Loan, Pakistan mà tác nhân gây bệnh là virus cúm A. Các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Cáp Nhĩ Tân đã sản xuất thành công vacxin tái tổ hợp phòng chống cúm gia cầm và Newcatle, vaccine có thể 6 dùng theo đường tiêm, đường miệng, đường mũi hoặc theo phương pháp khí dung. Đến cuối tháng 12/2005 Trung Quốc đã sản xuất được một tỉ liều (Trích theo Tô Long Thành, 2005 [32]). Sử dụng vacxin tái tổ hợp có vecter dẫn truyền cho phép phân biệt được con vật nhiễm bệnh tự nhiên và con vật được tiêm chủng. Một báo cáo về nghiên cứu về kháng thể thụ động cúm gia cầm ở Thổ Nhĩ Kỳ, kháng thể được thu thập từ những bệnh nhân mắc cúm gia cầm. Việc sản xuất kháng thể này mục đích giúp các bệnh nhân mắc bệnh cúm gia cầm nhanh phục hồi sức khỏe. Nghiên cứu của nhóm tác giả Singapo và Mỹ kết luận rằng kháng thể thụ động có thể cung cấp chiến lược cả phòng và trị bệnh cúm gia cầm (Brendon et al, 2006 [48]). Một nhóm các nhà nghiên cứu của Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ về công nghệ sinh học đã thành lập thư viện kháng thể chống cúm gia cầm (H5N1) mục đích điều trị cho người mắc bệnh và hướng tới việc tiêm phòng chống dịch cúm gia cầm. Như vậy vấn đề chăn nuôi vịt như thế nào để đảm bảo an toàn là mối quan tâm của nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước có số lượng vịt lớn nằm ở khu vực châu Á. Bệnh dịch tả vịt là bệnh của nhiều loài, nhưng vịt là loài cảm nhiễm nhất, các giống vịt ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh. Tỷ lệ vịt mắc bệnh và chết có thể lên tới 100%. Mức độ cảm nhiễm có thể khác nhau tùy theo giống vịt. Virus dịch tả vịt có thể tiềm tàng trong cơ thể vịt và có khả năng tái hoạt động trở lại. Sau 3 tuần gây nhiễm không tìm thấy virus dịch tả vịt trong lỗ huyệt nhưng 7 - 9 tuần sau gây nhiễm, bằng phản ứng PRC, tác giả đã phát hiện thấy AND virus dịch tả vịt trong thần kinh trung ương, hạch lâm ba ngoại vi, lách, tuyến ức và túi Bursa. Trong tự nhiên, đường xâm nhập chủ yếu của virus dịch tả vịt là đường tiêu hoá. Vịt bệnh bài xuất căn bệnh theo phân, nước mắt, nước mũi làm ô nhiễm thức ăn, nước uống và bệnh lây lan sang vịt khoẻ và các động vật cảm nhiễm khác. Nguồn nước và các động vật thuỷ sinh trong đó cũng đóng vai trò nhất định trong việc truyền lây căn bệnh. Khi dịch xảy ra, việc bán chạy vịt bệnh, mổ thịt vịt ốm đều làm cho bệnh lan đi rất nhanh và xa. Bệnh lây lan rất nhanh và mạnh theo phương thức truyền lây gián tiếp nhưng phương thức truyền lây trực tiếp từ mẹ sang con cũng có thể xảy ra. Khi làm phản ứng trung hoà theo phương pháp huyết thanh pha loãng, virus cố định; vào ngày 21 sau khi tiêm vacxin, nếu hiệu giá kháng thể trong huyết thanh đạt từ 1/59 1/250 thì vaccine được coi là có hiệu lực, bảo hộ được đàn vịt. Ngoài các bệnh do virus gây nên, các bệnh do vi khuẩn như E. Coli, Salmonella, Mycoplasma cũng thường xuyên gây thiệt hại cho các đàn vịt. Bệnh 7 do các chủng vi khuẩn Escherichia coli (E. Coli) thuộc nhóm gây bệnh cho gia cầm (APEC) gây ra. Theo Trung tâm Phòng và ngừa bệnh (Disease Control and Prevention): tính đến ngày 22 tháng 01 năm 2009 có 491 số người mắc bệnh thương hàn do loại vi khuẩn: Salmonella typhimurium đã xuất hiện ở 43 tiểu bang của Mỹ (Radcliffe, 2000 [67]). Bệnh bạch lỵ do Salmonella trong tự nhiên lây theo 2 phương thức: trực tiếp và gián tiếp. Truyền bệnh trực tiếp hay còn gọi là truyền dọc qua trứng là nguy hiểm nhất, rất nhiều nghiên cứu đã phát hiện thấy sự có mặt của vi khuẩn Salmonella từ lòng đỏ trứng. Gia cầm bố mẹ mang trùng truyền qua trứng giống, tỷ lệ trứng mang trùng biến động có thể đến 50%. Số trứng này tỷ lệ ấp nở rất thấp, gia cầm con nở ra từ trứng bệnh sẽ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao và là nguồn reo rắc mầm bệnh. Mầm bệnh có nhiều trong bụi ở chuồng nuôi, một gam bụi có từ 1 - 10 triệu vi khuẩn E. Coli và chúng có thể tồn tại ở đó trong 1 thời gian dài. Bệnh Salmonella chủ yếu do Salmonella typhimurium, enteritidis, anatum, gallinarum và pullorum. Mầm bệnh xâm nhập chủ yếu qua thức ăn, nước uống. Một trong những đường truyền bệnh quan trọng là truyền dọc qua trứng. Rất nhiều nghiên cứu đã phát hiện thấy sự có mặt của vi khuẩn Salmonella từ lòng đỏ trứng vịt. Con đường lây truyền thứ hai là sự xâm nhiễm vi khuẩn Salmonella qua vỏ trứng. Từ phân, Salmonella thường gây ô nhiễm vỏ trứng trong quá trình đẻ hoặc từ ổ đẻ (Hồng Nga dịch, 2006). Bệnh tự nhiên lây theo 2 phương thức: trực tiếp và gián tiếp (từ gia cầm bệnh lây sang con khác do các chất thải từ miệng, phân, ăn uống chung với con khoẻ, qua quần áo, giầy dép và các phương tiện vận chuyển và đặc biệt qua quá trình ấp nở). Truyền bệnh trực tiếp là nguy hiểm nhất, gia cầm bố mẹ mang trùng truyền qua trứng giống, tỷ lệ trứng mang trùng biến động có thể đến 50%. Để có thể đưa ra biện pháp sát trùng hiệu quả nhất, trước hết cần chú ý đến các loại mầm bệnh có thể tồn tại và các mầm bệnh có khả năng gây thành dịch. Thông thường, khi không xác định được các đối tượng này, nên dùng các phương tiện sát trùng có phổ sát khuẩn rộng. Các bề mặt như nền chuồng, tường cần được được dọn và rửa sạch trước khi sát trùng. Thao tác này sẽ giúp loại bỏ một số lượng lớn vi sinh vật và tăng hiệu quả sát trùng. Người làm công việc sát trùng cần được huấn luyện kỹ để hiểu rõ các yêu cầu cần thiết khi tiến hành công việc, trước khi xử dụng các chất sát trùng, phải đọc kỹ hướng dẫn xử dụng. Nên chọn chất sát trùng phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tế. Bệnh Mycoplasma là bệnh truyền nhiễm chung của nhiều loại gia cầm, đặc biệt là khi nuôi theo hướng tập trung công nghiệp thì tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao. Có 2 đường truyền lây bệnh chính: truyền dọc qua trứng đến các thế hệ 8 sau, vi khuẩn xâm nhập vào phôi gây chết phôi; truyền ngang do gia cầm khỏe bị nhiễm bệnh từ tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh từ con bệnh, vật mang trùng hoặc trong bụi. Để phòng và trị bệnh vi khuẩn trên vịt, ngoài công tác vệ sinh phòng bệnh, việc dùng các chế phẩm sinh học và kháng sinh là cần thiết. Hiện nay có rất nhiều các công trình nghiên cứu thành công các chế phẩm sinh học để bổ sung vào trong khẩu phần ăn cho gia cầm, nhằm giảm việc sử dụng kháng sinh. Một số chế phẩm sinh học như Orgacids, Allzym, có tác dụng kích thích tính ăn ngon miệng, làm giảm pH trong đường ruột, máu, phân - ức chế virus và vi khuẩn gây bệnh làm giảm nguy cơ mắc các bệnh như cúm gia cầm, Newcastle, Gumboro, E. Coli, Salmonella, Clostridium, các chế phẩm này cũng kích thích sự phát triển của vi khuẩn hữu ích giúp ổn định hệ vi sinh vật trong đường ruột (Mingan Choct, 2002 [64]). Mặt khác khi sử dụng các chế phẩm này không ảnh hưởng đến chất lượng thịt cũng như ảnh hưởng đến sức khoẻ con người cũng như không tạo điều kiện cho vi khuẩn có khả năng gây nhờn thuốc (Patterson J.A. [66]). Chương trình an toàn sinh học cho cơ sở ấp trứng cần phải dựa vào ba yếu tố con người, sản phẩm và thủ tục” thì mới chắc chắn đạt hiệu quả. An toàn sinh học trong cơ sở ấp trứng là những biện pháp tổng hợp nhằm bảo vệ gia cầm con khi nở ra và người làm nhiệm vụ ấp trứng không bị dịch bệnh tấn công, đồng thời tạo cho đàn giống có sức đề kháng tốt nhất để sinh trưởng, sinh sản. Charler Demming, 1995 [51] cho biết ngoài những thiếu sót về kỹ thuật ấp (điều kiện ấp không đầy đủ) còn phải quan tâm đến trứng bị nhiễm các loại vi sinh vật, vì nguyên nhân gây chết phôi cao ở trứng gia cầm là do trứng bị nhiễm nấm mốc và vi khuẩn. Vì vậy, phải khử trùng trứng trước khi bảo quản và trước khi vào ấp, do đó việc khử trùng cho trứng là rất cần thiết. Trong quy định chung về an toàn dịch và vệ sinh thú y các cơ sở giống và ấp trứng gia cầm có những nội dung quy định về địa điểm chăn nuôi, chế độ cách ly, quy định về vệ sinh chuồng trại và trang thiết bị chăn nuôi, ấp trứng đặc biệt là sự kiểm soát Salmonella và vệ sinh thức ăn. Theo Radcliffe, 2000 [67] các axit hữu cơ cũng được sử dụng rộng rãi ở các nước châu Âu nhằm hạn chế bệnh do Salmonella và các bệnh do vi khuẩn khác gây nên. Khử trùng trứng có thể bằng nhiều cách: khử trùng trứng bằng formandehyd, bằng tia tử ngoại, khử trùng bằng ozon hoặc khử trùng bằng Virkon … Trong thực tế sản xuất ở nước ta các cơ sở ấp thường khử trùng bằng hơi formandehyd. Theo Foggin C. M, 1992 [56] liều lượng thuốc khử trùng trứng dẫn đến phản ứng hoá học làm cho toả nhiệt khi hơi formandehide được giải phóng. Thời gian xông 20 phút với điều kiện nhiệt độ 20-25oC. 9 Làm sạch và khử trùng theo quy định của chương trình an toàn sinh học sẽ đảm bảo được số lượng vi khuẩn luôn đáp ứng những giới hạn (ví dụ như: Salmonella và giảm 99,99% tổng số vi khuẩn trong môi trường). Ấp trứng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và thị trường. Vì vậy, để giữ uy tín cần giữ cho gia cầm 01 ngày tuổi không bị nhiễm bệnh. Trong quá trình ấp gia cầm không bị nhiễm bệnh, nhưng có thể bị nhiễm sau khi nở nếu an toàn sinh học không đảm bảo. Do vậy, cần phải đảm bảo an toàn sinh học nghiêm ngặt, giám sát chặt chẽ do khả năng gây bệnh rộng khắp từ các cơ sở ấp riêng rẽ không có kiểm soát. Theo Charler Deeming, 1995 [51] nguyên nhân chết phôi cao ở trứng gia cầm là do trứng bị nhiễm nấm mốc và vi khuẩn. Vì vậy phải khử trùng trứng trước khi bảo quản và trước khi vào ấp. Ngoài ra điều kiện trong máy ấp, máy nở thích hợp cho các vi khuẩn phát triển. Chương trình an toàn sinh học Dupont phù hợp với các nguyên lý của HACCP đã cung cấp chi tiết các hoạt động kiểm soát để loại bỏ những nguy cơ nhiễm vi khuẩn của gia cầm con từ: trứng; khu ấp và thiết bị gây nhiễm; không khí, hệ thống thông thoáng; người và thiết bị có thể di chuyển được. Mục tiêu của chương trình là ngăn chặn bệnh tật gây ra trong thời gian ấp nở trứng, đồng thời đáp ứng mục tiêu ngăn chặn sự lây lan truyền nhiễm trong ấp nở. Làm sạch và khử trùng trứng và máy ấp nở là bước đầu tiên nhằm đảm bảo tối ưu vệ sinh khu ấp nở, tạo điều kiện ấp nở tốt nhất. 1.1.3. Các giải pháp xử lý chất thải đảm bảo vệ sinh môi trường Đối với các cơ sở chăn nuôi gia cầm nói chung, chăn nuôi vịt nói riêng các chất thải gây ô nhiễm môi trường có tác động trực tiếp không những tới sức khoẻ cộng đồng, mà còn làm giảm sức đề kháng của gia cầm, tăng khả năng mắc bệnh, năng suất thịt trứng không cao, hiệu quả chăn nuôi thấp (http://i115srv.vu-wien.ac.at/bm/sym/richteng.htm). Đặc biệt trong điều kiện dịch cúm hiện nay nếu môi trường chăn nuôi không tốt, sức đề kháng của gia cầm giảm sút sẽ là nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Ô nhiễm môi trường chăn nuôi chủ yếu từ nước thải chăn nuôi, chất thải rắn, bụi, tiếng ồn, xác gia súc, gia cầm chết chôn lấp không đúng kỹ thuật. Đối với gia cầm nguồn chất thải chính là phân có chứa rất nhiều các thành phần kim loại như Cu, Fe, Al, Zn, Cr, Nitơ, photpho và các chất hữu cơ. Ngoài ra trong chất thải rắn, lỏng chứa nhiều vi sinh vật, trứng giun, hiệu giá BOD, COD cao nếu không có biện pháp thu gom và xử lý sẽ ảnh hưởng rất lớn gây ô nhiễm môi trường xung quanh từ đó đến sức khoẻ con người, vật nuôi. Do đó xây dựng các biện pháp xử lý môi trường nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sinh trưởng và phát triển của vịt, cắt đứt quá trình lây lan của dịch bệnh có ý nghĩa quan trọng. 10 Việc nghiên cứu xử lý chất thải chăn nuôi được nhiều nước quan tâm. Tuỳ thuộc vào vị trí chuồng trại, khả năng đầu tư thiết bị mà mỗi nước áp dụng các hệ thống xử lý chất thải khác nhau: như hệ thống đồng cỏ, hầm chứa lộ thiên, hệ thống các bể lắng lọc, ao sinh học, hệ thống biogas, dùng hoá chất xử lý.... Xử lý chất thải bằng hệ thống biogas được nhiều nước áp dụng. Trung Quốc, Ấn Độ dùng loại hình biogas xây chìm dưới lòng đất có nắp hình vòm cuốn đắp nổi. Đài Loan, Comlombia dùng hầm biogas túi ủ bằng chất dẻo. Dengliang Wei, 2000 (trích theo Phùng Thị Vân và CS, 2003 [40]) cho biết hiệu quả xử lý phân lợn bằng hệ thống IC-SBR (là một hệ thống bao gồm lò phản ứng IC gây phân huỷ yếm khí nguyên liệu ban đầu nối liền với lò phản ứng phối hợp SBR để xử lý chất thải phân huỷ yếm khí trực tiếp). Hiệu giá COB giảm 80,7%. Sau khi tiếp hệ thống SBR hiệu quả giảm ô nhiễm môi trường đạt được như sau: COD giảm 95,5%. Ni tơ tổng số 93%, phốt pho tổng số giảm 75,2%, NH3-N giảm 99,94%. Trên thế giới đã nghiên cứu nhiều chế phẩm dùng để xử lý môi trường như khử mùi, tạo chất xúc tác hoá học, phá huỷ các mối liên kết hoá học của chất thải để dễ dàng phân huỷ nhằm tăng hiệu quả trong quá trình xử lý: như Anolyte, De-odorase, EM,...... Hiện nay tại Bỉ tập đoàn ASPAC Intl đã sản xuất chế phẩm BUN ODOUR là một sản phẩm tự nhiên tổng hợp độc đáo và hiệu quả từ 52 loại tinh dầu chiết xuất nguồn gốc tự nhiên và có khả năng phá huỷ rất nhiều hợp chất mùi khó chịu trong không khí chuồng trại chăn nuôi.... Bun odour có quy mô là sản phẩm mới có ứng dụng rộng rãi: đưa vào bể xục khí CO2, trạm bơm, nhà máy xử lý nước thải, hố bùn, rác, lò giết mổ, khu chứa rác, thiết bị tái sinh và trộn phân, trại chăn nuôi , vườn thú. ... Hiện nay Bun dour dùng xử lý môi trường là công nghệ mới, một sự lựa chọn rẻ, thân thiện với môi trường. Phương pháp sản xuất dung dịch hoạt hoá điện hoá (Electrochemical activation ECA) được nhà bác học người Nga Bakhir V.M tìm ra từ năm 1972 và cho đến nay được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới trong các ngành y tế, nông nghiệp, dịch vụ sinh hoạt với vai trò là chất khử trùng ưu việt: hiệu quả khử trùng cao, thân thiện với môi trường, giá rẻ (Nguyễn Hoài Châu, 2005 [8]). Hiện nay ứng dụng công nghệ vi sinh trong xử lý chất thải chăn nuôi đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới (Arora,1996 [44]; Bagnaso,1998 [46]; Kenedy, 2002 [62]). Hầu hết các vi sinh vật để xử lý phế thải chăn nuôi là các chủng vi sinh vật đa chức năng có tác dụng phân giải xenluloza, protein, phân giải lân, khử mùi hôi, thối giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường, ngoài ra sản phẩm sau ủ còn sử dụng như loại phân hữu cơ bón cho cây trồng. Phân hữu cơ sản xuất theo phương pháp này không chỉ đảm bảo độ an toàn về vệ sinh thực phẩm mà còn là sản phẩm hang hoá có giá trị đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cây trồng và phát triển nông nghiệp bền vững. 11 Chantsavang và CS, 1992 [50] nghiên cứu xử lý chất thải của lợn bằng phương pháp sử dụng các visinh vật có ích (EM). Kết quả cho thấy EM rất thích hợp cho việc xử lý chất thải từ quá trình chăn nuôi lợn, khi vệ sinh lợn và chuuồng nuôi hang ngày với EM pha loãng có thể kiểm soát hiệu quả các mùi hôi thối thoát ra từ chất thải của lợn. Cracas và pilippine, 2000 [52] đã sử dụng giun để xử lý phân gia súc và hỗn hợp rác thải hữu cơ. Phương pháp này sử dụng các loại giun như giun quế (Lumbricus rubellus) và một số loại giun khác như tác nhân chính để xử lý phân gia súc. Nguyên tắc cơ bản của phương pháp này là sử dụng giun như loại động vật để phân huỷ chất hữu cơ trong phân gia súc và rác thải. Giun sẽ sử dụng phân gia súc và rác thải hữu cơ như một loại thức ăn và sản phẩm thải ra từ giun được coi là sản phẩm của quá trình xử lý . Phương pháp ủ phân truyền thống đã được ứng dụng ở một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Ân Độ, Mỹ. Với kỹ thuật tương đối đơn giản sau khi phân lợn được thu gom từ các trại chăn nuôi, phân có thể được xử lý bằng 2 cách: ủ chìm và ủ nổi thời gian ủ 4-6 tháng, sau khi thấy phân hoại mục không còn hôi thối là có thể dụng bón cho cây trồng. Trong phương pháp làm phân compost thông thường, các thành phần được trộn với nhau sau đó vun thành đống để ủ. Vật liệu bổ sung và chất độn. Vì quá trình compost xảy ra một cách tự nhiên, nên quá trình đòi hỏi các điều kiện chính xác để diễn biến nhanh, giảm sự thiểu phát sinh mùi và tránh các vấn đề gây nhiễu. Có tới trên 20 yếu tố cần phải kiểm soát ảnh hưởng tới quá trình ủ compost. 1.1.4. M« h×nh ch¨n nu«i ®¶m b¶o an toµn sinh häc vµ hiÖu qu¶ trong ch¨n nu«i vÞt N¨m 2005, kho¶ng 2-3 triÖu vÞt ®−îc nu«i trong hÖ thèng an toµn sinh häc cao khÐp kÝn. Trong khi ®ã hÖ thèng chuång nu«i më kh«ng ®−îc thùc hiÖn ë lo¹i vÞt thÞt, ®Æc biÖt lµ viÖc xuÊt khÈu cã liªn quan tíi an toµn thùc phÈm vµ biÖn ph¸p kiÓm so¸t dÞch bÖnh. Tuy nhiªn, vÞt ®Î vÉn ®−îc nu«i trong hÖ thèng chuång ®−îc phñ b»ng nyl«ng ®Ó chÆn chim hoang d· x©m nhËp. Gi¸m s¸t an toµn sinh häc vµ kiÓm so¸t dÞch bÖnh ®−îc thùc hiÖn nh− trªn nh−ng cø 3 th¸ng l¹i ph©n tÝch mÉu mét lÇn. Tháng 10 năm 2005 chính phủ Thái Lan đã cấm việc chăn thả vịt hoặc di chuyển từ vùng này sang vùng khác, người chăn nuôi sẽ bị phạt nếu vi phạm. Nếu xảy ra dịch cúm gia cầm xảy ra trên các đàn vịt nuôi thả đồng họ sẽ không được nhận tiền bồi thường. Hiện tại việc nuôi chăn thả cũng đã được hạn chế, việc thực hiện an toàn sinh học cũng được nâng cao ở Thái lan (Songserm Thaweeksak và cộng sự, 2006 [71]). Các giống nuôi thịt, Bắc Kinh và Chery valley được nuôi ở chuồng khép kín, 5.000-6.000 con trên một chuồng. Vịt con 01 ngày tuổi được nuôi lấy thịt thời gian 50-65 ngày được nuôi theo hệ thống cùng vào cùng ra. 12 1.2. Tình hìmh nghiên cứu trong nước 1.2.1. Tình hình chăn nuôi và phương thức chăn nuôi vịt Việt Nam là một nước có số lượng vịt đứng thứ hai trên thế giới (sau Trung Quốc). Điều đó chứng tỏ nghề chăn nuôi vịt ở nước ta phát triển khá mạnh mẽ và đóng góp một phần không nhỏ vào thu nhập của người chăn nuôi. Số lượng đầu con thủy cầm giai đoạn 2001 – 2006 ĐVT: triệu con Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Số lượng Số lượng Số lượng 57,9 63,6 68,9 Năm 2004 Năm 2005 Số So với Số lượng năm trước lượng (%) 59,0 89,5 59,9 So với năm trước (%) 101,5 Năm 2006 Số lượng 62,6 So với năm trước (%) 104,5 Nguồn: Cục Chăn nuôi – Bộ nông nghiệp & PTNT, 2007 Năm 2001 tổng đàn thuỷ cầm 57,9 triệu con, năm 2003: 69,9 triệu con, do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm nên năm 2004 chỉ còn 59 triệu con. Do xu hướng bùng phát mạnh của dịch cúm gia cầm trên đàn thủy cầm nên Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo gắt gao thực hiện việc không cho phép ấp nở, tăng đàn thủy cầm trong hai năm từ 4/2/2005 đến 28/2/2007, song đàn thủy cầm vẫn phát triển. Cụ thể năm 2005 đàn vịt cả nước 59,9 triệu con tăng 1,5% so với năm trước. Năm 2006: 62,6 triệu con tăng 4,5%. Năm 2007 tổng đàn thủy cầm đã hơn 68 triệu con (Báo Lao động số 280 ngày 1/12/2007 [5]). Chăn nuôi vịt đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của người dân Việt Nam, Vịt ®−îc nu«i chạy đồng mang lại công ăn việc làm, hiệu quả kinh tế cho người nông dân, trang trại, tuy nhiên vấn đề còn tồn tại là chăn nuôi vịt chạy đồng gây ô nhiễm nguồn nước, dễ lây lan dịch bệnh. Tõ nhiÒu n¨m nay, ch¨n nu«i vÞt mang l¹i nhiÒu viÖc lµm vµ lµ nguån kinh tÕ quan träng cña hµng triÖu hé n«ng d©n, nhiÒu trang tr¹i ®Æc biÖt lµ vïng ®ång b»ng s«ng Cöu Long (24,6 triÖu con) vµ ®ång b»ng s«ng Hång (17,6 triÖu con), hai ®ång b»ng nµy sè l−îng vÞt chiÕm 61,1% tæng ®µn vÞt c¶ n−íc (§inh Xu©n Tïng, 2008 [37]). Chăn nuôi vịt kết hợp với trồng lúa được nông dân áp dụng rộng rãi, ngoài vai trò chủ yếu là tạo thu nhập cho người nông dân thì con vịt cßn cã t¸c ®éng trong hệ sinh thái nông nghiệp vì chóng diệt ®−îc rầy nâu, sâu bọ, ốc biêu vàng. Con vịt bơi lội làm tăng lượng oxy hòa tan trong nước giúp cây lúa phát triển tốt hơn. Các mô hình nuôi trồng kết hợp vịt cá lúa có hiệu quả nhờ giảm lượng phân bón, không sử dụng thuốc trừ sâu (Dương Xuân Tuyển, 2006 [39]) 13 T¹i đồng bằng sông Cửu Long chăn nuôi vịt lấy trứng ®−îc th¶ ®ång theo vụ lúa để tận dụng lúa rơi và nguồn thức ăn sẵn có từ những cánh đồng lúa sau thu hoạch, thời gian cho vịt chạy đồng chiếm trung bình 74% tổng thời gian của một vụ nuôi, trong thời gian nuôi các hộ cho vịt chạy đồng liên tục của 3 tháng cho chuyển sang đồng mới. Với phương thức chăn nuôi này tiết kiệm chi phí hơn so với nuôi vịt nhốt vịt ở nhà trung bình 350 đồng/trứng, tương ứng với tỷ lệ tiết kiệm là 48%, chi phí tính trên 1 trứng trong phương thức chạy đồng chỉ bằng 52% chi phí/1 trứng nếu nuôi nhốt ở nhà. Tuy nhiên ph−¬ng thøc ch¨n nu«i chạy đồng cũng thường gặp phải những rủi ro về giá bán vịt giống, b¸n trøng. Nhưng rủi ro lớn nhất là hao hụt về số lượng do dịch bệnh (Mai Văn Nam, 2007 [22]). N¨m 2003 tæng s¶n l−îng thÞt thuû cÇm 106 ngh×n tÊn, n¨m 2004: 85,4 ngh×n tÊn, n¨m 2005: 87,9 ngh×n tÊn t¨ng so víi n¨m 2004 lµ 2,9%. N¨m 2006 sè l−îng trang tr¹i ch¨n nu«i gia cÇm cã 2.837 chiÕm 16% so víi tæng sè trang tr¹i toµn quèc, trong ®ã ch¨n nu«i vÞt lµ 668 trang tr¹i. C¸c trang tr¹i ch¨n nu«i ph¸t triÓn ch−a theo quy ho¹ch, ®Çu t− vµ ph©n bè kh«ng ®Òu trªn c¸c vïng sinh th¸i. Từ khi xảy ra dịch cúm gia cầm Việt Nam đã có nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro do dịch bệnh gây nên, từ tháng 4/2/2005 đến tháng 28/2/2007 đã cấm ấp trứng và nuôi mới thủy cầm. Năm 2005 chính phủ đã phải chi với số tiền là 480 nghìn tỷ đồng để tiêm phòng vaccin cho toàn bộ đàn gia cầm trên cả nước, nhưng các nhà chuyên môn và quản lý vẫn khuyến cáo rằng tiêm phòng vaccin chỉ là 1 biện pháp trong nhiều biện pháp tổng hợp để khống chế dịch bệnh và khẳng định biện pháp an toàn sinh học vẫn là hàng đầu. Một số thí nghiệm nghiên cứu về ảnh hưởng của mùa vụ, phương thức nuôi và các vùng sinh thái đến một số chỉ tiêu sản xuất của đàn vịt CV Super M: Kết quả nuôi khô hoàn toàn một số chỉ tiêu năng suất thấp hơn vịt nuôi bơi lội nhưng chi phí đến sản phẩm cuối cùng là vịt con một ngày tuổi thì thấp hơn nuôi nước (Nguyễn Hồng Vĩ và cộng sự, 2005 [42]). Hiện nay chăn nuôi vịt ở nước ta cũng theo 4 phương thức chủ yếu: Chăn nuôi nông hộ, chăn nuôi vịt chạy đồng, chăn nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi công nghiệp. Chăn nuôi vịt ở nước ta thường nuôi theo lối tận dụng, phân tán, tự do,.. bởi vậy từ tháng 10/2007 trở lại đây, trên nhiều tỉnh, thành phố đã xuất hiện nhiều ổ dịch cúm gia cầm mà nguồn bệnh do vịt chiếm tới 86%. Trong đó các đàn vịt chạy đồng từ xã này sang xã khác, huyện này sang huyện khác, tỉnh này sang tỉnh khác, thậm chí là vịt xuyên biên giới Việt Nam – Campuchia,.. chính là nguyên nhân chủ yếu gây sự bùng phát và lây lan dịch bệnh trên diện rộng. Từ nguyên nhân cơ bản phải định hướng cho người chăn nuôi theo các 14 phương thức chăn nuôi phù hợp với từng vùng sinh thái đồng thời đảm bảo tính bền vững. Theo số liệu điều tra của Đinh Xuân Tùng, 2008 [37] phương thức chăn nuôi vịt ở nước ta khi dịch cúm gia cầm xẩy ra đã có sự thay đổi: phương thức bán thả rông trước khi bị dịch cúm gia cầm: 59% sau dịch là 18%. Nuôi nhốt trên cạn có rào quây trước khi bị dịch cúm gia cầm: 4% sau dịch là 10%. Một phần nuôi nhốt có rào quây (ao cá,..) trước khi bị dịch cúm gia cầm: 37% sau dịch là 72%. Thay đổi về cung cách chăn nuôi vịt (%) Diễn giải Bán thả rông Nuôi nhốt trên cạn có rào quây Một phần nuôi nhốt có rào quây (ao cá,..) Bị dịch Trước Sau 47 17 6 12 47 71 Không bị dịch Trước Sau 66 18 3 10 32 72 Tất cả Trước Sau 59 18 4 10 37 72 Nguồn: Đinh Xuân Tùng, 2008 Bïi Xu©n MÕn, khoa n«ng nghiÖp, tr−êng ®¹i häc CÇn Th¬ cho biÕt: Có một lựa chọn mà người chăn nuôi trong vùng áp dụng là phương thức nuôi vịt nhốt hoàn toàn. Người chế biến và tiêu dùng an tâm với sản phẩm từ phương thức chăn nuôi này do vịt được nuôi trong điều kiện có kiểm soát, nhất là trong tình hình cúm gia cầm H5N1 vẫn còn tồn tại và phát bệnh trên đàn gia cầm ở nhiều địa phương hiện nay. Vịt chạy đồng trước khi bán cũng được áp dụng phương thức nuôi nhốt vỗ béo khi mà vịt chưa đủ độ giết thịt và cũng cải thiện được chất lượng thân thịt. Theo phương thức nuôi nhốt vịt hiện nay mang lại hiệu quả cao. Mặc dù phương thức nuôi nhốt đã được người chăn nuôi ở vùng nông thôn ứng dụng và vẫn tận dụng nguồn thức ăn ngoài tự nhiên với một lượng nhỏ, để bổ sung thêm như ốc bươu vàng, rau bèo các loại và phải có lao động đi thu lượm. Như vậy, nguồn thức ăn cho vịt nuôi nhốt hoàn toàn phải đi mua, ngoại trừ với những người nuôi vịt với số lượng ít và tận dụng các nguồn phụ phẩm phế thải trong sinh hoạt của nông hộ để chăn nuôi. 1.2.2. An toµn sinh häc vµ quy tr×nh thó y phßng bÖnh cho vÞt Ngày 14/3/2008 theo “tin nhanh.com” [33] ở Quảng ngãi, vịt chết hàng loạt do dịch tả vịt. Báo Sài Gòn Giải phóng ngày 31/5/2008 [3] đã viết “Ở Phú Yên, dịch tả vịt bùng phát, lan rộng ở nhiều địa phương như Tuy An, Tây Hoà, Phú Hoà, riêng xã Hoà Trị - Phú Hoà trong tuần đã có trên 1300 con vịt chết do dịch tả vịt. Qua phân tích trình tự nucleotide 8 đoạn ARN của 9 chủng virus cúm H5N1 từ người (2 chủng), chim cút (1 chủng), vịt (2 chủng), và gà (4 chủng) trong đợt dịch 2003-2004 và lập cây phả hệ, Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự, 15 2004 [13] cho thấy các chủng virus H5N1 lưu hành ở Việt Nam đều giống nhau và có cùng nguồn gốc từ Trung Quốc và xuất phát từ một ổ dịch ban đầu. Một nghiên cứu khác của Nguyễn Tiến Dũng, 2004 [12] trên đàn gia cầm của tỉnh Thái Bình và Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy ngoài virus cúm H5N1, đàn gia cầm còn nhiễm các loại virus typ A có kháng nguyên H3, H4, H6, H9, H11và H12 với tỉ lệ nhiễm khác nhau. Một nghiên cứu khác của Viện Thú y về sự lưu hành của virus trong đàn chim di cư qua việc phân tích 320 mẫu phân chim tại một số địa phương trong đó có Vườn Quốc gia Xuân Thủy, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định bằng phương pháp RT -PCR, kết quả không phát hiện thấy virus cúm. Viện Thú y đã nghiên cứu thử nghiệm vaccine H5N2 của Intervet (Hà Lan); H5N2 và H5N1 của Trung Quốc. Kết quả cho thấy vaccine tiêm cho đàn gia cầm đều đạt yêu cầu về độ tinh khiết, độ an toàn và hiệu lực theo đúng tiêu chuẩn của nhà sản xuất. Đặc biệt vaccine H5N1 của Trung Quốc có thể tiêm cho đàn vịt có huyết thanh dương tính vẫn đạt tỉ lệ bảo hộ tốt và an toàn. Bụi và những giọt nước nhỏ trong không khí thường mang nhiều loại vi sinh vật, cả vi sinh vật vô hại và vi sinh vật gây bệnh, đáng chú ý là vi khuẩn Salmonella sp, E. Coli, Clostridium sp. Ngoài ra còn có cả các loại độc tố và bào tử của nấm mốc (Đỗ Ngọc Hoè, 1996 [19]). Khí hậu của nước ta rất thuận lợi cho vi khuẩn gây bệnh và nấm mốc phát triển. Nhiều vi sinh vật gây bệnh cũng có thể tồn tại rất lâu ở môi trường ngoài cơ thể như trong phân, đất, nước, chất độn chuồng… đặc biệt là các bào tử vi khuẩn, nấm, oocyte cầu trùng và trứng ký sinh trùng (Nguyễn Thị Hoa Lý, Hồ kim Hoa, 2005 [20]). Bệnh xảy ra ở vịt mọi lứa tuổi, tuy nhiên vịt từ 15 ngày tuổi trở đi bị nhiễm nhiều nhất (Nguyễn Xuân Bình, 2006 [6]). Ở vịt bị nhiễm bệnh, virus có trong máu, chất tiết và các cơ quan phủ tạng. Tại Việt Nam đã nghiên cứu sự nhân lên của virus ở cơ thể vịt bị gây nhiễm nhân tạo (Trần Minh Châu, 1987 [9]). Vịt bệnh mang virus rất lâu và có thể tái phát bệnh ở thể ẩn tính. Nông nghiệp Việt Nam, 2009 đã đưa ra tiêu chuẩn an toàn sinh học cho 1 trạm ấp trứng như sau: nếu trứng bẩn phải tiến hành rửa bằng Formol 0,9% hoặc thuốc sát trùng. Nếu trứng không quá bẩn thì không cần rửa nhưng trước khi chuyển về kho bảo quản phải được xông, sát trùng bằng Formol+ thuốc tím với tỷ lệ 17,5g thuốc tím + 35ml Formol/1m3 buồng xông, thời gian xông 15 phút. Sau đó nếu chưa đưa vào ấp ngay thì phải chuyển vào kho bảo quản. Trứng được xông sát trùng cho tỷ lệ nở/phôi cao hơn không xông sát trùng là 2 - 3%. 16 Máy ấp sử dụng phương pháp ấp đơn kỳ thì sau mỗi đợt ấp phải rửa sạch. Khi ấp đa kỳ tối đa có trứng của 4 lứa tuổi khác nhau. Máy nở và dụng cụ sau mỗi đợt nở xong phải rửa và sát trùng. Toàn bộ khu trạm ấp trong và ngoài thường xuyên phun sát trùng định kỳ 1 tuần/lần. Bố trí phương tiện vận chuyển nội bộ riêng trong trại; các xe vận chuyển trước khi vào trại phải được phun xịt khử trùng bằng hóa chất. Tại khoản 2, điều 2 vệ sinh thú y cơ sở ấp thuộc quyết định số 17/QĐBNN ngày 27/02/2007 [27] của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về điều kiện ấp trứng có nêu rõ: Trứng ấp phải có nguồn gốc từ cơ sở sản xuất trứng giống có khai báo, đăng ký của cơ quan thú y. Trong điểm 4.4 tiêu chuẩn TCN 878-2006 [31], quy định rất chi tiết về tiêu chuẩn vệ sinh an toàn sinh học cho cơ sở ấp trứng gia cầm. Phương pháp sản xuất dung dịch hoạt hoá điện hoá (Electrochemical activation ECA) được nhà bác học người Nga Bakhir V.M tìm ra từ năm 1972 và cho đến nay được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới trong các ngành y tế, nông nghiệp, dịch vụ sinh hoạt với vai trò là chất khử trùng ưu việt: hiệu quả khử trùng cao, thân thiện với môi trường, giá rẻ (Nguyễn Hoài Châu, 2005 [8]). 1.2.3. C¸c gi¶i ph¸p xö lý chÊt th¶i ®¶m b¶o vÖ sinh m«i tr−êng Ở Việt Nam, xử lý phân bằng phương pháp truyền thống cũng đã được áp dụng từ rất lâu đời ở những vùng chuyên canh như vùng đồng bằng Bắc Bộ (Lê Văn Căn, 1976 [7]). Hiện tại ở Việt Nam có 3 phương pháp ủ phân bao gồm: phương pháp ủ nóng, phương pháp ủ nguội và ủ nóng trước ủ nguội sau. Võ thị Hạnh và cộng sự, 2004 [17] đã tiến hành nghiên cứu và ứng dụng chế phẩm BIO-F để xử lý phân chuồng, biến chất thải này thành thứ phân bón hữu cơ vi sinh. Chế phẩm BIO-F là loại chế phẩm vi sinh do nhóm tác giả phân lập và tuyển chọn bao gồm: xạ khuẩn Stretomyces sp., nấm mốc Trichoderma sp và vi khuẩn Bacillus sp. Những vi sinh vật trên có tác dụng phân huỷ nhanh các hợp chất hữu cơ trong phân lợn, gà và bò (protein và celloluse), gây mất mùi hôi. Trước đó chế phẩm BIO-F đã được sử dụng để sản xuất thành công phân bón hữu cơ vi sinh từ bùn đáy ao, vỏ cafe và xử lý rác thải sinh hoạt. Trịnh Quang Tuyên và CS, 2007 [38] nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học EM thứ cấp, EM Bokashi, compost maker để xử lý phân lợn thành phân hữu cơ, sản phẩm sau xử lý đều hết mùi hôi, tiêu diệt được trứng vi khuẩn và giun sán. Hiện nay công nghệ vi sinh đã và đang được áp dụng với quy mô lớn mang tính chất thương mại đối với ngành hàng phân bón. Các loại vi sinh vật đa chức năng (vi sinh vật phân giải xellulose, vi sinh vật phân giải lân, vi sinh 17 vật cố định đạm) đã được sử dụng theo hướng thương mại trong sản xuất hữu cơ vi sinh phục vụ sản xuất nông nghiệp an toàn (Phạm Văn Toản, 2000). Nguyễn Thị Ngọc Liên, 2005 [18] nghiên cứu đánh giá một số chỉ tiêu vệ sinh chuồng nuôi và sử dụng chế phẩm EM trong chăn nuôi vịt tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên cho thấy khi sử dụng EM phun vào chất độn chuồng nuôi vịt đẻ đã làm giảm đáng kể vi sinh vật gây hại và mùi hôi. Sử dụng EM bổ sung vào nước uống cho vịt nuôi vỗ béo làm tăng khả năng tăng trọng. Viện sinh học nông nghiệp- Đại học nông nghiệp Hà Nội [41] nghiên cứu chế phẩm EMINA dùng trong chăn nuôi. EMINA là chế phẩm vi sinh hữu hiệu gồm: vi khuẩn quang hợp, lactic, Bacillus subtilic, B mesentericus, B. Megaterium, xạ khuẩn nấm men. Các vi sinh vật hữu hiệu này được phân lập từ tự nhiên hoàn toàn không độc với người, động vật và môi trường. EMINA có thể dùng bổ sung vào thức ăn, nước uống cho gia súc, phòng và trị được bệnh tiêu hoá cho vật nuôi. EMINA còn có tác dụng khử mùi, phân giải xellulose nên dùng để phun trực tiếp vào chuồng nuôi, đổ vào hố ga và xử lý phân. 1.2.4. Mô hình chăn nuôi vịt an toàn sinh học Theo Www. dost.Bentre.gov.vn ngày 24/8/2007 cho biết Trung tâm khuyến nông Quốc gia đã chuyển giao mô hình chăn nuôi vịt an toàn sinh học cho 9 hộ ở Mỹ Thạnh - Phong Mỹ - Giồng Chôm và xã Tân Xuân- An Phú Trung- Ba Tri. Kết quả cho thấy với mô hình 2000 con/hộ (có sự hỗ trợ 6.150đồng/con bao gồm cả giống, thức ăn, thuốc thú y và được tập huấn về kỹ thuật chăn nuôi, thú y, an toàn sinh học) đã giúp người dân ý thức được cách thức chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, hạn chế thả rông để dễ dàng khống chế khi có dịch xẩy ra, đồng thời nâng cao thu nhập. Theo Www. khuyennongvn.gov.vn ngày 19/4/2008 [43] gia đình ông Lê Đình Đời ấp Mỹ Hoà - Tháp Mười- Đồng Tháp có truyền thống nuôi vịt thả đồng cho biết nuôi vịt chạy đồng vất vả, với 1000con vịt nuôi thịt chạy đồng phải cần 3 người, tỷ lệ nuôi sống thấp, hao hụt do thất lạc, chết bởi thuốc trừ sâu và chi phí thả đồng là 220 - 250.000đồng/ha thời gian nuôi 2,5 tháng. Trong khi nuôi tập chung đảm bảo an toàn sinh học chỉ cần 1 người nuôi tỷ lệ nuôi sống cao (95%), sau 2 tháng thu lời 15 triệu đồng. Cũng như vậy ông Nguyễn Cử tại xã Nhị Mỹ- Cao Lãnh sau 17 năm nuôi vịt chạy đồng đã chuyển hướng chăn nuôi sang nuôi tập trung với quy mô 1000 vịt thịt, sau 70 ngày đạt 3,3 kg lãi 20 triệu đồng. Theo Http;//niemgiam nongnghiep.vn ngày 28/3/2010 [15] ông Phan Thanh Bình ở Núi Voi- Tịnh Biên- An Giang với 2 ha đất đã nuôi vịt theo hướng an toàn sinh học với 3000 con vịt đẻ cùng với 1 lò ấp trứng đã thu được 10.000- 12.000đồng/con vịt con và thu cá trên ao nuôi vịt đã có lời 700 triệu đồng/năm. 18
- Xem thêm -