Tài liệu Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp môi trường qua thực tiễn Hải Phòng

  • Số trang: 120 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 65 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐỖ CHÍ HIẾU HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG QUA THỰC TIỄN HẢI PHÒNG Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ MÃ SỐ: 60105 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: T.S VŨ QUANG HÀ NỘI- NĂM 2005 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN PHẦN MỞ ĐẦU Trang 1. Tính cấp thiết của đề tài 1 1 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2 4. Mục tiêu nghiên cứu 3 5. Phương pháp nghiên cứu 4 6. Bố cục của Luận văn 5 Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Tranh chấp môi trường và pháp luật về giải quyết tranh chấp môi trường; Chương 2: Thực trạng việc áp dụng pháp luật và một số vấn đề thực tiễn đặt ra trong công tác giải quyết tranh chấp môi trường tại Hải Phòng; Chương 3: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp môi trường. Chương 1: TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG 1.1. TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG 1.1.1. Khái niệm tranh chấp môi trường 7 7 7 1.1.2. Bản chất pháp lý và các đặc điểm của tranh chấp môi trường 16 1.1.2.1. Bản chất pháp lý của tranh chấp môi trường. 16 1.1.2.2. Các đặc điểm của tranh chấp môi trường 20 1.1.3. Phân loại các tranh chấp môi trường 23 1.2. PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG 1.2.1. Khái niệm pháp luật giải quyết tranh chấp môi trường 25 25 1.2.2. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp môi trường 26 1.2.3. Các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp môi trường 1.2.3.1. Các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh 30 trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về môi trường (nhóm 1). 30 1.2.3.2. Các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các tổ chức và cá nhân với nhau nhằm bảo vệ môi trường chung cũng như bảo vệ quyền và lợi ích của chính 33 mình (nhóm 2) 1.2.4. Kinh nghiệm của một số nước trong giải quyết tranh chấp môi 40 trường Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN ĐẶT RA TRONG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG TẠI HẢI PHÒNG 44 2.1. Tình hình môi trường Hải Phòng những năm qua và công tác tổ chức thực hiện luật bảo vệ môi trường ở Hải Phòng 44 2.2. Một số vụ tranh chấp môi trường điển hình thời gian qua tại Hải Phòng 54 2.3. Thực trạng việc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp môi trường tại Hải Phòng 62 2.4. Một số vấn đề thực tiễn đặt ra trong công tác giải quyết tranh chấp môi trường tại Hải Phòng 77 Chương 3: MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG QUA THỰC TIỄN HẢI PHÒNG 88 3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp môi trường 3.2. Quan điểm hoàn thiện 88 92 3.3. Một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp môi trường KẾT LUẬN Danh mục tài liệu tham khảo 99 110 112 PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, mối quan tâm đến chất lượng cuộc sống đang dần được thay đổi. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, bên cạnh những ưu điểm về mặt kinh tế như lợi nhuận, khuyến khích tính cạnh tranh… thì cũng có mặt trái của nó đó là sự tác động và ảnh hưởng xấu tới môi trường. Trong chiến lược về môi trường của Đảng và Nhà nước ta đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, cũng đã khẳng định quan điểm phát triển bền vững, tức là phát triển kinh tế- xã hội có gắn kết chặt chẽ với bảo vệ môi trường. Ngăn chặn các hành vi gây ô nhiễm môi trường, khắc phục suy thoái và sự cố môi trường, nâng cao chất lượng của môi trường sống chính là mục tiêu, nhiệm vụ của bảo vệ môi trường, trong đó hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp môi trường có ý nghĩa và tầm quan trong đặc biệt. Tuy nhiên, trong tiến trình CNH, HĐH và quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của đất nước nói chung và của Hải Phòng nói riêng, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các tranh chấp về môi trường nảy sinh từ những mâu thuẫn, xung đột đang có chiều hướng gia tăng. Bên cạnh đó, cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp môi trường vẫn còn nhiều bất cập. Chính thực tế này dẫn đến việc giải quyết tranh chấp môi trường bị kéo dài, không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên cũng như trong việc phục hồi chất lượng môi trường bị xuống cấp. Việc nghiên cứu đề tài nhằm phần tích, đánh giá thực trạng việc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp môi trường tại Hải Phòng, từ đó đưa ra các ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp môi trường. 1 2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Có thể nói vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường trong mấy năm gần đây mới được đề cập nhiều, đặc biệt vấn đề tranh chấp môi trường và giải quyết tranh chấp môi trường là vấn đề hoàn toàn mới ở Việt Nam. Do vậy, từ phương diện lý luận, vấn đề này cũng mới được các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau như khoa học pháp lý, khoa học kinh tế môi trường, khoa học quản lý về môi trường bước đầu nghiên cứu. Từ góc độ pháp lý liên quan đến giải quyết tranh chấp môi trường thì hệ thống các văn bản pháp luật cũng như cơ chế pháp lý về giải quyết tranh chấp môi trường vẫn còn thiếu và chưa hoàn thiện. Vì vậy, tại thời điểm này, việc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về tranh chấp môi trường và cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường để từ đó hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp môi trường là một việc làm hết sức khó khăn. Do vậy, đây là công trình khoa học cấp luận văn thạc sỹ đầu tiên của Khoa Luật đến thời điểm này nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về pháp luật liên quan đến việc giải quyết tranh chấp môi trường. Các ý kiến nêu ra trong luận văn là những luận cứ khoa học của chính tác giả. Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập cũng như giúp cho việc giải quyết tranh chấp môi trường trong thực tế có hiệu quả. 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật cũng như các cơ chế pháp lý liên quan đến hoạt động giải quyết tranh chấp môi trường nói chung và thực tiễn của việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh 2 chấp môi trường tại Thành phố Hải Phòng, đồng thời có xem xét đối chiếu với kinh nghiệm của một số nước trong khu vực hiện nay. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ của nội dung một luận văn thạc sỹ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật của Việt Nam hiện hành liên quan đến hoạt động giải quyết tranh chấp môi trường. Trên cơ sở những quy định chung đó, đề tài nghiên cứu thực trạng việc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp môi trường tại thành phố Hải Phòng. Đồng thời phân tích, đánh giá những vấn đề thực tiễn đặt ra trong công tác giải quyết tranh chấp môi trường tại Hải Phòng, để từ đó có kiến nghị hoàn thiện không chỉ ở địa bàn Hải Phòng mà có thể coi đó là những bài học kinh nghiệm quý báu khi xem xét áp dụng giải quyết các tranh chấp môi trường trên phạm vi toàn quốc. Đề tài chỉ xem xét các tranh chấp môi trường phi hình sự liên quan đến hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho quyền, lợi ích của các chủ thể về môi trường mà không có dấu hiệu của tội phạm (Theo Bộ luật hình sự 1999 và chương XVII- chương các tội phạm về môi trường nói riêng). Bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ quyền của con người được sống trong môi trường trong lành không chỉ là trách nhiệm của riêng quốc gia nào, của địa phương nào mà vấn đề mang tính toàn cầu. Tuy nhiên, đề tài không xem xét các tranh chấp môi trường giữa Việt Nam với các nước khác mà chỉ tập trung xem xét các tranh chấp môi trường xảy ra tại thành phố Hải Phòng. 4. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Việc nghiên cứu đề tài: "Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp môi trường qua thực tiễn Hải Phòng" nhằm xém xét các biểu hiện cụ thể của tranh chấp môi trường tại thành phố Hải Phòng, từ đó phân tích đánh giá cơ chế pháp lý để giải quyết các tranh chấp môi trường tại Hải Phòng. Tìm ra những 3 mặt được, chưa được cần khắc phục để có hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp môi trường, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia khác trong lĩnh vực này. Kết quả đạt được của Luận văn: Thứ nhất: Luận văn làm rõ được khái niệm tranh chấp môi trường, trong đó cần phân tích được đặc điểm của tranh chấp môi trường và từ đó phân biệt được tranh chấp môi trường với các tranh chấp khác. Phân tích và chỉ ra bản chất pháp lý cũng như các dạng của tranh chấp môi trường. Thứ hai: Trên cơ sở xem xét những vấn đề chung về tranh chấp môi trường, Luận văn làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp môi trường, trong đó phân tích được các nguyên tắc giải quyết tranh chấp môi trường và cơ chế pháp lý giải quyết các loại tranh chấp môi trường. Thứ ba: Luận văn phân tích được thực trạng của việc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp môi trường tại thành phố Hải Phòng, trong đó đưa ra và phân tích được các vụ việc điển hình cũng như những vấn đề thực tiễn đặt ra trong công tác giải quyết tranh chấp môi trường tại Hải Phòng. Thứ tư: Trên cơ sở xem xét những vấn đề lý luận chung và thực trạng của việc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp môi trường tại Hải Phòng, thấy được những tồn tại cần khắc phục, từ đó đề tài đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp môi trường. 5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề tài, tác giả quán triệt quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về Nhà nước và pháp luật cũng như đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế. 4 Trên cơ sở đối tượng và phạm vi nghiên cứu ở trên, phương pháp luận được sử dụng là phương pháp duy vật biện chứng. Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, so sánh, tổng hợp, điều tra xã hội học cũng được vận dụng để làm sáng tỏ những vấn đề được nêu ra. 6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương. Chương 1: Tranh chấp môi trường và pháp luật về giải quyết tranh chấp môi trường. Trong chương này, tác giả trình bày khái quát các nguyên nhân làm nảy sinh các tranh chấp môi trường, phân tích bản chất pháp lý, các đặc điểm của tranh chấp môi trường, thấy được sự khác nhau giữa tranh chấp môi trường với các loại tranh chấp khác, chỉ ra các dạng (phân loại) tranh chấp môi trường. Trong chương này, tác giả cũng trình bày quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp môi trường, trong đó phân tích được các nguyên tắc giải quyết tranh chấp môi trường, cơ chế pháp lý hiện hành về giải quyết tranh chấp môi trường có tham khảo kinh nghiệm của một số nước trong khu vực. Chương 2: Thực trạng của việc áp dụng pháp luật và một số vấn đề thực tiễn đặt ra trong công tác giải quyết tranh chấp môi trường tại Hải Phòng. Trong chương này, tác giả đưa ra và phân tích được các vụ việc tranh chấp môi trường điển hình thời gian qua ở Hải Phòng. Phân tích được thực trạng của việc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp môi trường tại Hải Phòng và chỉ ra những tồn tại cần khắc phục và những vấn đề mà thực tiễn giải quyết tranh chấp môi trường đặt ra. 5 Chương 3: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp môi trường. Trong chương này, tác giả phân tích sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp môi trường. Trên cơ sở chương 2, tác giả trình bày một số ý kiến hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp môi trường. Chương 1 TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG 1.1. TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG 1.1.1. Khái niệm về tranh chấp môi trường 6 Trên thế giới, tranh chấp liên quan đến môi trường không phải là hiện tượng xã hội mới nảy sinh, nó đã xuất hiện từ rất sớm và liên quan tới nhiều quốc gia khác nhau. Điều này cũng có thể lý giải vì xét về nguyên nhân khách quan thì các nước trên thế giới xảy ra tranh chấp đã có một nền sản xuất công nghiệp lớn và phát triển. Về chủ quan thì con người đã ý thức được vấn đề bảo vệ môi trường và quyền của con người được sống trong môi trường trong lành. Chúng ta có thể điểm qua một số vụ tranh chấp môi trường điển hình giữa các nước trong thời gian qua. Vụ thứ nhất: một vụ kiện nổi tiếng giữa hai quốc gia là Mỹ và Canađa (gần biên giới Mỹ), trong quá trình hoạt động đã thải một lượng khí thải rất lớn với hàm lượng độc hại cao vào bầu khí quyển. Khí thải đã bay sang Mỹ làm ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tại Tiểu bang Oasinhtơn (Mỹ) gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản và làm thương tổn đến sức khoẻ của cư dân trong vùng. Trọng tài quốc tế đã ra bản phán quyết yêu cầu Canađa phải kịp thời ngăn chặn các ảnh hưởng xấu của khí thải tới các quốc gia khác và bồi thường cho Mỹ những thiệt hại do khí thải gây ra. Kết quả giải quyết vụ kiện đã trở thành "thông lệ" để xem xét, giải quyết các tranh chấp quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đồng thời là cơ sở khoa học cho việc hình thành nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền". [49] Vụ thứ hai: là vụ kiện của hai quốc gia là Australia và New Zealand đối với Pháp khi Pháp tiến hành thử vũ khí hạt nhân vào năm 1973, làm bụi phóng xạ bay sang các quốc gia khác, gây ảnh hưởng đáng kể đến tính mạng, sức khoẻ và tài sản của công dân hai quốc gia trên. [49] Vụ thứ ba: năm 1998, một con tàu của công ty nhựa Formosa, Đài Loan chở 3000 tấn chất thải độc hại có chứa thuỷ ngân đến đổ bất hợp pháp tại một bãi chôn lấp chất thải ở Sihanouk Ville của Campuchia, làm một số người dân tiếp xúc với rác thải bị tử vong. Campuchia đã mở phiên toà xét xử, phạt tội các chủ tàu 5 năm tù và phạt tiền 0,5 triệu USD.[2] 7 Ngoài ra còn rất nhiều vụ việc có ảnh hưởng tới môi trường xảy ra trên thế giới và tại các nước Châu Á- Thái Bình Dương. Đối với Việt Nam, vấn đề tranh chấp môi trường xuất hiện muộn hơn so với các nước trên thế giới. Trước năm 1986, có thể nói các tranh chấp môi trường dưới các dạng khác nhau dường như chưa xuất hiện trên thực tế, thuật ngữ tranh chấp môi trường cũng chưa được các nhà khoa học gọi tên và đề cập tới trong bất kỳ một tài liệu khoa học nào. Ở Việt Nam, các tranh chấp môi trường xuất hiện muộn hơn vì các lý do: Thứ nhất: trước năm 1986, nhu cầu khai thác các tài nguyên thiên nhiên, các thành phần môi trường phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng chưa nhiều, do vậy các hành vi gây suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên và huỷ hoại cho môi trường ít xảy ra. Nếu có thì chỉ xảy ra trên phạm vi hẹp, mức độ ảnh hưởng không đáng kể đến tính mạng, sức khoẻ của con người. Hơn nữa thời kì này, sự tác động xấu của thiên nhiên và môi trường đến sức khoẻ con người chưa thể hiện nhiều và mức độ chưa cao do chất lượng môi trường sống còn tương đối tốt. Thứ hai: thời kì này, đất nước ta còn nghèo, do vậy mối quan tâm lớn nhất của Đảng và Nhà nước ta là tâp trung phát triển kinh tế, đó cũng là mối quan tâm của từng cá nhân, từng gia đình so với đòi hỏi về chất lượng môi trường sống. Thứ ba: chế độ sở hữu các nguồn tài nguyên, các thành phần môi trường chủ yếu thuộc về Nhà nước mà chưa được giao cho các cá nhân, tổ chức sử dụng ổn định lâu dài. Tình hình này dẫn tới việc những thiệt hại do một số hành vi huỷ hoại môi trường như phá rừng, khai thác bừa bãi nguồn lợi thuỷ sản …ở nơi này, nơi kia đều thuộc về Nhà nước và ít liên quan đến lợi ích riêng của các cá nhân, tổ chức. Kết quả của việc không phân định rõ quyền sở 8 hữu các nguồn tài nguyên, các thành phần môi trường đã dẫn tới sự thiếu trách nhiệm và thiếu sự phản ứng quyết liệt từ phía người dân đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường. Thứ tư : thời kì này, hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường cũng như hệ thống các cơ quan tư pháp chưa được thiết lập hoàn chỉnh, bên cạnh đó các văn bản pháp luật quy định về vấn đề này còn thiếu… Đây chính là trở ngại lớn cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi có thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây ra. Từ năm 1986 trở lại đây, thực hiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã có bước phát triển vượt bậc về mọi mặt. Kinh tế thị trường bên cạnh những ưu điểm như thúc đẩy tăng trưởng, tính cạnh tranh…thì cũng có mặt trái của nó là tác động xấu đến môi trường. Nghị quyết số 41- NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đã khẳng định: "Môi trường nước ta vẫn bị xuống cấp nhanh, có nơi, có lúc đã đến mức báo động: Đất đai bị xói mòn, thoái hoá; Chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh; Không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng; Khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; Tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có quy hoạch; Đa dạng sinh học bị đe doạ nghiêm trọng; Điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không bảo đảm. Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ, quá trình đô thị hoá, sự gia tăng dân số trong khi mật độ dân số đã quá cao, tình trạng đói nghèo chưa được khắc phục tại một số vùng nông thôn, miền núi; Các thảm hoạ do thiên tai và những diễn biến xấu về khí hậu toàn cầu đang tăng, gây áp lực lớn lên tài nguyên và môi trường"[3, 1]. Tuy nhiên, hiện nay, mối quan tâm đến chất lượng môi trường 9 sống của con người đang được nâng cao. Người dân một mặt tham gia tích cực vào hoạt động bảo vệ môi trường, làm sạch môi trường, mặt khác người dân cũng tỏ thái độ phản ứng gay gắt và quyết liệt hơn đối với các hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường. Những yêu cầu của người dân thông qua các đơn kiến nghị, khởi kiện tại các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với các hành vi vi phạm pháp luật mỗi ngày một nhiều và đa dạng hơn. Những yêu cầu của người dân không chỉ dừng lại ở việc đề nghị các cơ quan quản lý Nhà nước xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật môi trường, buộc người gây ô nhiễm phải chấm dứt ngay các hành vi gây ô nhiễm hoặc phải chuyển đi nơi khác mà còn đòi hỏi người gây ô nhiễm phải có biện pháp làm sạch, khôi phục lại môi trường đã bị phá huỷ và phải bồi thường các thiệt hại về người và tài sản gây ra đối với họ. Những người dân không chỉ yêu cầu đối với những thiệt hại gây ra do các dự án đang hoạt động mà đối với các dự án trước khi đi vào hoạt động có khả năng gây ô nhiễm, gây tác động xấu đến môi trường không được tiến hành, triển khai các hoạt động ở gần nơi dân cư sinh sống, nếu những dự án này vẫn được triển khai thì chủ dự án, chủ công trình hoặc cơ quan có thẩm quyền cấp phép phải trả trước cho dân một khoản tiền (tiền bù đắp cho những thiệt hại do chất lượng môi trường suy giảm do công trình, dự án gây ra) hoặc một khoản tiền đủ để họ di dời đi nơi khác có chất lượng môi trường được dảm bảo hơn. Chúng ta có thể xem xét và phân tích các ví dụ sau để minh hoạ cho khẳng định trên: Ví dụ 1: Vụ đền bù thiệt hại do ô nhiễm nước, gây chết cá ở Tây Ninh: ngày 14/02/1998 cá trên rạch Tây Ninh bị chết hàng loạt. Ngày 16/02/1998 Sở KHCN & MT Tây Ninh tổ chức khảo sát dọc theo rạch và cùng chính quyền địa phương và nhân dân ghi nhận thời điểm cá bị chết nhiều nhất và lấy các mẫu nước tại các vị trí 10 này. Ngày 17/02/1998 cá cảnh nuôi lồng trên sông Vàm Cỏ Tây (là nơi rạch Tây Ninh đổ nước vào) lại bị chết hàng loạt. Ngày 18/02/1998 Sở KHCN& MT, chính quyền địa phương lập biên bản xác định số lượng cá chết cụ thể tại từng điểm, tiếp tục lấy mẫu nước sông tại nhiều điểm trên khu vực cá bị chết. Sau khi có kết quả phân tích mẫu nước, đã tiến hành thanh tra tình hình kiểm soát ô nhiễm tại công ty đường Bourbon và 9 cơ sở sản xuất bột mì có nguồn phát thải vào sông Vàm Cỏ Tây. Từ kết quả thanh tra và sau khi đã loại trừ nguyên nhân dịch bệnh của cá đã nhận định nguyên nhân gây ô nhiễm rạch Tây Ninh và sông Vàm Cỏ Tây dẫn tới cá chết là do sự cố của công ty đường gây ra là chính. Cũng qua phân tích thành phần mẫu nước tại các điểm cá chết, nhận định có thành phần thành nước thải của 9 cơ sở chế biến bột mì. Thông qua số liệu phân tích thành phần nước thải và tổng sản lượng thải của công ty, thành phần nước sông Vàm Cỏ Tây, tốc độ dòng chảy và thời gian lan truyền của nước thải, thời điểm xảy ra sự cố của công ty (sau khi loại trừ các nguyên nhân khác như dịch bệnh) đã buộc công ty đường Bourbon thừa nhận là bên chủ yếu gây ra ô nhiễm tại các vị trí và các ngày nói trên. Đồng thời 9 cơ sở chế biến bột mì cũng được mời họp để xem xét các kết quả phân tích và họ đều thừa nhận có góp phần làm ô nhiễm nước sông, dẫn tới cá chết hàng loạt. Các hộ dân bị thiệt hại đã được thông báo kết quả xác định nguyên nhâ n ô nhiễm. Họ đã thống kê và đòi bồi thường thiệt hại do cá cảnh nuôi lồng bị chết là 125 triêụ đồng. Cuối cùng, trên cơ sở hoà giải, dưới sự hướng dẫn của sở KHCN &MT, công ty đường chịu trách nhiệm bồi thường 50 triệu đồng, các hộ chế biến bột mì cũng có phần trách nhiệm trong việc làm ô nhiễm sông và chấp nhận bồi thường 7 triệu đồng. [7, 102] Ví dụ 2: Hiện tượng nhân dân 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội yêu cầu UBND thành phố Hà Nội phải trả trước cho họ một khoản tiền dưới dạng tiền bù đắp chất lượng môi trường sống bị giảm sút hay còn gọi là tiền bù đắp những ảnh hưởng về môi trường do việc triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Sơn tại khu vực mà họ đang sinh sống (căn cứ theo Quyết Định 695/QĐ- TTg ngày 10/8/1998 của Thủ 11 tướng Chính phủ về việc thu hồi đất 130.607 m 2 tại hai xã Nam Sơn và Hồng Kỳ giao cho Ban quản lý dự án công trình công cộng, sở giao thông công chính xây dựng khu chôn lấp, xử lý rác thải sinh hoạt).[7, 76] Ví dụ 3: Ban Giám đốc vườn Quốc gia Cúc Phương đề nghị Chính phủ và các cơ quan hữu quan xem xét lại quyết định phê duyệt đề án xây dựng xa lộ Bắc Nam (giai đoạn 1), trong đó có đoạn đường cắt ngang qua vùng đệm của Vườn Quốc gia (6 km). Bên khiếu nại cho rằng việc xây dựng đoạn đường giao thông này sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các yếu tố môi trường, phá vỡ sự cân bằng của hệ sinh thái khu vực này. Đây chính là phản ánh của người dân đối với các quyết định hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có liên quan tới lợi ích về mặt môi trường.[7] Như vậy, qua các hiện tượng mới nảy sinh ở trên, chúng ta có thể thấy những xung đột, những mâu thuẫn, những bất đồng về quyền và lợi ích giữa các chủ thể có liên quan tới môi trường được biểu hiện rất đa dạng. Cũng giống như các tranh chấp khác, tranh chấp môi trường cũng xuất phát từ chỗ tranh chấp giữa ai với ai?, do nguyên nhân nào làm phát sinh tranh chấp đó? Và tranh chấp về mục đích gì? Trước hết chúng ta tìm hiểu khái niệm về tranh chấp, theo như một số từ điển đã định nghĩa "tranh chấp là giành nhau, giằng co một cái không rõ thuộc về bên nào; đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên"[39, 898]. Cũng có thể định nghĩa "tranh chấp là những mâu thuẫn, bất hoà về quyền và nghĩa vụ hợp pháp giữa các chủ thể tham gia vào một quan hệ pháp luật, trong đó có tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng…". Tranh chấp môi trường bên cạnh những điểm chung của tranh chấp, còn có nhiều điểm khác biệt. Trong các văn bản pháp luật về môi trường như Luật bảo vệ môi trường năm 1993; Nghị định số 175/CP ngày 18/10/1993 hướng dẫn thi hành luật bảo vệ môi trường năm 1993; Nghị định 12 số 26/CP, ngày 26/3/1996 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường và Nghị định số 121/CP, ngày 12/05/2003 cũng quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; trong Dự thảo luật bảo vệ môi trường sửa đổi ngày 10/01/2005 cũng chưa có định nghĩa chính thức về tranh chấp môi trường. Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau xoay quanh vấn đề này: Theo các tác giả thuộc Bộ môn luật môi trường, trường đại học luật Hà Nội thì "Tranh chấp môi trường là những mâu thuẫn, những bất đồng ý kiến của các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật môi trường khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm"[16, 195]; Theo quan điểm này, tác giả đã xác định được đối tượng của tranh chấp có liên quan đến các quyền và lợi ích về mặt môi trường. Tuy nhiên, nếu cho rằng tranh chấp môi trường chỉ nảy sinh khi các quyền và lợi ích về môi trường bị xâm hại (có nghĩa là khi môi trường đã bị ô nhiễm, suy thoái ở các mức độ nhất định) thì quan điểm này đã bỏ qua một dạng tranh chấp đã xảy ra trong thực tế (được nêu ra trong các ví dụ trên), dạng tranh chấp này liên quan đến quan hệ pháp luật về phòng ngừa sự xâm hại đến môi trường. Thực tế cho thấy trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, xung đột mâu thuẫn giữa các bên có thể xảy ra ngay từ khi chưa có sự xâm hại, song có cơ sở cho rằng sự xâm hại đó chắc chắn sẽ xảy ra nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Theo nhóm nghiên cứu thuộc Vụ dân sự- kinh tế Bộ Tư pháp thì "Tranh chấp về môi trường là thể hiện cụ thể của việc tranh chấp dân sự ngoài hợp đồng trong lĩnh vực sử dụng các thành phần môi trường". Quan điểm này cũng đã xác định được đối tượng của tranh chấp có liên quan đến các quyền và lợi ích về mặt môi trường. Tuy nhiên, quan điểm thứ hai mới chỉ nêu một dạng cụ thể của tranh chấp môi trường, đó là tranh chấp dân sự ngoài hợp đồng trong lĩnh vực sử dụng các thành phần môi trường mà chưa bao quát hết 13 được các dạng khác của tranh chấp trong lĩnh vực này. Chúng ta thấy trên thực tế, tranh chấp môi trường còn được thể hiện dưới các dạng của tranh chấp khác, đó là tranh chấp kinh tế có nội dung môi trường (đối tượng của hợp đồng kinh tế là các thành phần môi trường được khai thác, sử dụng) như tranh chấp nảy sinh từ hợp đồng khai thác, kinh doanh động thực vật rừng; Hợp đồng khai thác, kinh doanh nguồn lợi thuỷ sản; Hợp đồng xuất nhập khẩu công nghệ, thiết bị đã qua sử dụng… Các tranh chấp trong lĩnh vực này thường nảy sinh khi một trong các bên không tuân thủ luật bảo vệ môi trường như khai thác các thành phần môi trường một cách quá mức hoặc không đúng phương pháp, quy cách…. Tranh chấp môi trường cũng có thể tồn tại là tranh chấp hành chính về môi trường, đó là các tranh chấp có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường. Tranh chấp môi trường cũng có thể là tranh chấp quốc tế (Tranh chấp giữa các quốc gia) về môi trường. Cũng có quan điểm cho rằng tranh chấp môi trường phải được hiểu là tranh chấp về các thành phần môi trường, tranh chấp về các yếu tố tạo nên môi trường, cụ thể hơn là tranh chấp về quyền sở hữu hay quyền sử dụng các thành phần môi trường. Nếu tiếp cận theo hướng này, tức là chúng ta đã đồng nhất quyền sở hữu, quyền sử dụng các thành phần môi trường, các nguồn tài nguyên với quyền bảo vệ chúng. Như vậy, chúng ta sẽ không thấy hết được những lợi ích mà các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật môi trường hướng tới, đó không chỉ là những lợi ích về mặt kinh tế như sở hữu, khai thác và sử dụng các thành phần môi trường mà còn phải quan tâm tới việc khai thác sử dụng chúng như thế nào để bảo đảm cho chúng không bị thay đổi về tính chất, suy giảm về số lượng, phá vỡ sự cân bằng sinh thái trong tự nhiên… hay nói một cách khác người ta còn phải quan tâm tới việc bảo vệ chúng như thế nào để bảo đảm chất lượng của môi trường sống. Như vậy việc khai thác, sử dụng 14 các thành phần môi trường phải phù hợp với tiêu chuẩn, quy định mà Nhà nước mà cộng đồng đặt ra. Bên cạnh đó, quan điểm này cũng nhấn mạnh tranh chấp môi trường là tranh chấp về quyền sở hữu hay quyền sử dụng các thành phần môi trường. Tuy nhiên quan điểm này sẽ không lí giải được trong trường hợp một thành phần môi trường nào đó không thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của riêng ai, ví dụ như cảnh quan thiên nhiên, âm thanh, không khí, đất đai chưa giao cho ai sử dụng… nhưng bị ô nhiễm do hành vi vi phạm của một chủ thế nào đó và chủ thể bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ tài sản trong trường hợp này có rất nhiều và lúc đó có làm nảy sinh tranh chấp môi trường hay không! Có quan điểm cho rằng tranh chấp môi trường được hiểu là tranh chấp trong việc đòi bồi thường những thiệt hại về môi trường do người có hành vi vi phạm pháp luật môi trường, làm ô nhiễm, làm suy thoái các thành phần môi trườn gây thiệt hại cho người khác. Như vậy quan điểm này cho rằng tranh chấp môi trường chỉ nảy sinh khi hành vi vi phạm pháp luật môi trường đã gây thiệt hại trên thực tế. Thiệt hại gây ra trên thực tế sẽ là căn cứ đầu tiên để xác định trách nhiệm phải phục hồi lợi ích bị tổn thất của bên gây thiệt hại cho bên bị thiệt hại. Tuy nhiên như vậy chúng ta sẽ không thấy được hết các lợi ích mà các bên tham gia quan hệ pháp luật môi trường hướng tới. Họ không chỉ quan tâm tới lợi ích cụ thể, trước mắt bị thiệt hại và đòi phải được bù đắp, được bồi thường mà họ còn quan tâm đến những lợi ích mà họ cho rằng sẽ có nguy cơ bị mất, bị suy giảm trong tương lai và họ đòi hỏi những người có khả năng gây hại phải có biện pháp loại trừ, hạn chế các thiệt hại có thể xảy ra ngay từ giai đoạn đầu của dự án hoặc họ đòi được bù đắp, được chia sẻ những thiệt thòi về quyền lợi môi trường mà họ phải gánh chịu. Việc triển khai dự án sẽ làm ảnh hưởng đến quyền được sống trong môi trường trong lành của họ. 15 Như vậy từ việc phân tích những mặt hạn chế của các quan điểm trên, chúng ta cần thống nhất rằng nói tới tranh chấp môi trường là phải nói tới sự xung đột, sự bất đồng, mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên có liên quan đến môi trường khi có hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại. Do đó ở mức độ chung nhất, có thể định nghĩa: tranh chấp môi trường là những mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật môi trường khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc có nguy cơ bị xâm phạm. 1.1.2. Bản chất pháp lí và các đặc điểm của tranh chấp môi trường. 1.1.2.1. Bản chất pháp lí của tranh chấp môi trường. Như đã trình bày đã trình bày ở Mục 1, muốn tìm hiểu bản chất pháp lí của các tranh chấp môi trường, chúng ta cần phải tìm hiểu tính chất của các mối quan hệ pháp luật môi trường mà các chủ thể tham gia khi nảy sinh tranh chấp. Do quan hệ pháp luật môi trường được hình thành chủ yếu từ hai nhóm quan hệ xã hội có tính chất khác nhau (nhóm quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quuyền với các tổ chức, cá nhân công dân phát sinh từ các hoạt động quản lý Nhà nước về môi trường và nhóm quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân, công dân với nhau nhằm bảo vệ môi trường chung cũng như bảo vệ quyền và lợi ích của chính mình). Từ đó, các tranh chấp môi trường nảy sinh từ các mối quan hệ nêu trên sẽ có bản chất pháp lý không giống nhau. Việc tìm hiểu bản chất pháp lý của các loại tranh chấp môi trường sẽ giúp chúng ta đưa ra cơ chế pháp lý thích hợp để giải quyết các loại tranh chấp này. Nhóm 1: Tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về môi trường. 16 Các tranh chấp thuộc nhóm này thường nảy sinh khi các đương sự cho rằng quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính do các cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan quản lý môi trường hoặc cán bộ quản lý Nhà nước về môi trường áp dụng đã hoặc sẽ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Xét về bản chất, các tranh chấp này là một dạng cụ thể của tranh chấp hành chính- tranh chấp hành chính trong lĩnh vực quản lý môi trường . Chúng ta đều biết, các cơ quan quản lý Nhà nước nói chung và các cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường nói riêng, trong quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình đều phải ban hành các quyết định hành chính hoặc thực hiện các hành vi hành chính nhất định có liên quan tới môi trường và trong nhiều trường hợp, nó đụng chạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ. Theo khoản 10 Điều 2 của Luật khiếu nại, tố cáo ngày 11/12/1998 thì "Quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính Nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính". Cũng theo khoản 10 Điều 2 thì: "Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nướ khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật". Hiện nay cũng có hai quan điểm khác nhau về có hay không có tranh chấp hành chính. Quan điểm thứ nhất cho rằng không có tranh chấp hành chính vì khi nói đến tranh chấp là nói đến sự xung đột giữa các bên, trong khi bản thân quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ không bình đẳng (Quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý, trong đó chủ thể quản lý là người đại diện cho Nhà nước, thực hiện quyền lực của Nhà nước giao phó). Tính chất của quan hệ luôn mang tính mệnh lệnh, bắt buộc, nếu có sự phản ứng thì đó là sự phản ứng của một bên (bên bị quản lý) và không coi đó là thái 17
- Xem thêm -