Tài liệu Hoàn thiện nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá ở chi nhánh tracimexco hà nội

  • Số trang: 40 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 92 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34345 tài liệu

Mô tả:

LỜI NÓI ĐẦU Nƣớc ta đang trên con đƣờng xây dựng và phát triển đất nƣớc, để bắt kịp với công nghệ tiến tiến của thế giới đòi hỏi nƣớc ta phải nhập khẩu những thiết bị tiên tiến, những dây truyền sản suất hiện đại, đồng bộ để đáp ứng đƣợc nhu cầu sản xuất trong nƣớc. Nhập khẩu thiết bị máy móc với những nguồn lực sẵn có trong nƣớc để sản xuất sẽ tạo công ăn việc làm cho ngƣời dân, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc và xuất khẩu đƣa nền kinh tế việt nam từng bƣớc pháp triển vững chắc. Để hoạt động nhập khẩu đƣợc tiến hành một cách thuận lợi và thành công thì nghiệp vụ nhập khẩu của các cán bộ nhập khẩu đóng vai trò quan trọng, nó quyết định sự thành công trong mỗi hợp đồng nhập khẩu. Tracimexco Hà nội với đội ngũ lãnh đạo năng động, linh hoạt và tập thể cán bộ nhân viên đã đạt đựơc những thành tựu trong kinh doanh đặc biệt là kinh doanh nhập khẩu máy móc thiết bị ngành giao thông. Có đƣợc những thành công đó là nhờ chi nhánh đã biết chú trọng đến nghiệp vụ nhập khẩu của các cán bộ nhập khẩu phòng kinh doanh. Thực tập tại chi nhánh Tracimexco Hà nội – một công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu và đầu tƣ, với tham vọng nghiên cứu nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá để từ đó hoàn thiện nghiệp vụ và có những hợp đồng đem lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp. Bởi vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu là „Hoàn thiện nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá ở chi nhánh Tracimexco Hà nội‟. Đề tài này gồm các phần sau: Chƣơng 1: Cơ sở hoàn thiện nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá ở chi nhánh Tracimexco Hà nội Chƣơng 2: Thực trạng nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá của chi nhánh Tracimexco Hà nội Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và biện pháp hoàn thiện nghiệp vụ ở chi nhánh Tracimexco Hà nội CHƢƠNG 1: CƠ SỞ HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ Ở CHI NHÁNH CÔNG TY XNK VÀ HỢP TÁC ĐẦU TƢ GTVT HÀ NỘI 1.1. NỘI DUNG NGHIỆP VỤ N.KHẨU HÀNG HOÁ Ở DOANH NGHIỆP. 1.1.1. Nghiệp vụ đàm phán ký hợp đồng nhập khẩu Đàm phán kinh doanh là sự bàn bạc, thoả thuận giữa hai hay nhiều bên để cùng nhau nhất trí hoặc thoả hiệp giải quyết các vấn đề kinh doanh có liên quan đến các bên. Trong quá trình đàm phán, để đạt đƣợc mục tiêu đề ra thì tất cả các khâu từ chuẩn bị đàm phán đến ký hợp đồng nhập khẩu phải đƣợc chuẩn bị chu đáo, thống nhất. 1.1.1.1 Chuẩn bị đàm phán Chuẩn bị đàm phán kinh doanh là một việc rất khó khăn, phức tạp nhƣng quan trọng.Có thể nói khâu chuẩn bị chu đáo quyết định đến 50%kết quả cuộc đàm phán. vì thế đòi hỏi các thành viên tham gia đàm phán phải có tinh thần trách nhiệm và trình độ hiểu biết. Có 2 quy tắc cần nhớ trong quá trình chuẩn bị đàm phán kinh doanh. Quy tắc 1: Tạo điều kiện đủ thời gian cần thiết cho việc chuẩn bị đàm phán kinh doanh Quy tắc 2: làm việc có phƣơng pháp và theo kế hoạch. Mỗi cuộc đàm phán có những nội dung, yêu cầu và tính chất riêng nhƣng nhìn chung để tiến hành một cuộc đàm phán cần chuẩn bị những công việc cụ thể sau:  Các công việc có liên quan đến việc đề ra sáng kiến tổ chức và lập kế hoạch đàm phán.  Các công việc cụ thể chuẩn bị cho đàm phán ( chuẩn bị chi tiết)  Công việc soạn thảo, biên tập tài liệu có liên quan tới cuộc đàm phán  Công việc luyện tập nhằm đề phòng, xử lý các tình huống có thể xảy ra trong quá trình đàm phán.  Phân tích sơ bộ, đề ra mục tiêu, xác định chủ đề, dự kiến thành viên tham gia đàm phán. Lập kế hoach chi tiết cho việc chuẩn bị đàm phán là hành động cụ thể của khâu chuẩn bị đàm phán. Trong phần này cần vạch rõ khối lƣợng công việc cần 2 chuẩn bị, chất lƣợng, thời gian, số lƣợng thành viên cần thiết cho công việc chuẩn bị. Các kế hoạch ở trên đƣợc lập trên cơ sở phán đoán, nhận xét, đánh giá đòi hỏi chúng ta phải có đầu óc tƣởng tƣợng, tƣ duy phân tích tổng hợp. * Thu thập và xử lý tài liệu ban đầu Công tác thu thập và xử lý tài liệu ban đầu: là công việc khó khăn và chiếm nhiều thời gian nhất, nhƣng là một trong những thao tác quan trọng của khâu chuẩn bị. việc thu thập và xử lý tài liệu đƣợc tiến hành theo các bƣớc sau + Xác định nguồn thông tin ( báo cáo tổng kết, sơ kết, chuyên đề, các công trình nghiên cứu, các bài báo, tạp chí, số liệu thống kê, các mối quan hệ cá nhân trên thực tế...). + Đánh giá sơ bộ về mức độ thu thập tài liệu ( khối lƣợng, chất lƣợng..) + Tiến hành thu thập thông tin. Chú ý sau khi thu thập thông tin nào đó cần có ý kiến nhận xét, đánh giá ngay. Điều này có lợi cho các thao tác tiếp theo của công việc chuẩn bị đàm phán. Khối lƣợng và chất lƣợng thông tin phụ thuộc vào mức đọ am hiểu thông tin nói chung, phƣơng pháp thu thập thông tin, trình độ kiến thức chuyên môn của ngƣời thu thập thông tin, sự nhanh trí, sáng tạo, tính kiên trì và tinh thần tận tuỵ với công việc của cán bộ thừa hành. Thái độ thờ ơ trong khi thu thập thông tin sẽ làm giảm hiệu quả khâu chuẩn bị. Lựa chọn và hệ thống hoá tài liệu: Thực chất đây là sự tiếp tục quá trình thu thập tài liệu. từ khối lƣợng thông tin, tài liệu thu thập đƣợc, chọn lọc những gì cần thiết, có ý nghĩa phục vụ cho cuộc đàm phán. Sau khi chọn lọc cần hệ thống hoá tài liệu theo từng nhóm vấn đề. Phân tích tài liệu thu thập đựơc: Thao tác này cho phép xác định mối liên hệ giữa các hiện tƣợng, sự kiện bằng cách hệ thống hoá tài liệu, lựa chọn và chuẩn bị sẵn lý lẽ, lập luận phù hợp, rút ra các kết luận cụ thể. Để đạt đƣợc mục tiêu cần tập trung vào phân tích và đƣa ra một số phán đoán: Đối tác đàm phán với ta là ai, đối chiếu, so sánh những gì mà ta định thông báo, giải thích với mục tiêu mong muốn đạt đƣợc trong cuộc đàm phán. * Chuẩn bị kế hoạch cụ thể tiến hành đàm phán Đây là thao tác kết hợp tài liệu thu đƣợc và ý kiến cá nhân với yêu cầu, nhiệm vụ này đặt ra vào một thể thống nhất, có logic chắt chẽ. Thao tác này nhằm lập phƣơng án cuối cùng về cấu trúc một cuộc đàm phán. Các bƣớc cụ thể nhƣ sau: 3  Định giới hạn mỗi phần của cấu trúc đàm phán.  Bổ sung nội dung cụ thể cho mỗi phần của cấu trúc đàm phán  Xoá bỏ ranh giới giả tạo giữa các giai đoạn của quá trình đàm phán.  Viết báo cáo sơ bộ về kết quả chuẩn bị. Trong báo cáo ghi rõ các phạm trù, các khái niệm then chốt, ghi rõ kế hoạch cụ thể tiến hành đàm phán nhƣ thế nào. Chú ý cần ghi chép tất cả những điểm quan trọng bằng văn bản. Nên ghi nguyên văn những cách nói, câu nói hay nhất cho bài phát biểu chuẩn bị sẵn, nhấn mạnh các vấn đề quan trọng bằng các ký hiệu, gạch dƣới, tô màu... * Chuẩn bị về ngôn ngữ : Chuẩn bị ngôn ngữ chính cho cuộc đàm phán là ngôn ngữ gì? mọi ngƣời trong đoàn có thể giao tiếp trực tiếp với đối tác bằng ngôn ngữ đó hay không? có cần phiên dich hay không, nếu cần thì ai sẽ là ngƣời phiên dịch.. * Chuẩn bị về thông tin Thông tin về hàng hoá kinh doanh: là cần phải nghiên cứu, tìm hiểu những mặt hàng dự định kinh doanh về tên gọi, chủng loại, giá trị, công dụng, tính chất cơ lý hoá và những yêu cầu của thị trƣờng đối với những mặt hàng đó nhƣ quy cách, phẩm chất, bao bì, cách lựa chọn, phân loại. Thông tin về tình hình sản xuất mặt hàng đó nhƣ tính thời vụ, khả năng nguyên vật liệu, về trình độ tay nghề của công nhân.. Thông tin về chu kỳ sống sản phẩm: chu kỳ sống của sản phẩm dài hay ngắn. Thông tin về giá cả của các công ty cạnh tranh. Thông tin về tỷ suất ngoại tệ hàng xuất khẩu và tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩ Thông tin về thị trƣờng bao gồm: Những thông tin về đất nƣớc, con ngƣời, chính trị, xã hội, diện tích, dân số. Những thông tin kinh tế cơ bản nhƣ đồng tiền trong nƣớc, tỷ giá, những thông tin về cơ sở hạ tầng nhƣ cầu cảng, sân bay, nhừng thông tin về chính sách ngoại thƣơng, ngân hàng, hệ thống tín dụng. Thông tin về đối tác bao gồm tìm hiểu tiềm lực của đối tác về lịch sử của công ty, ảnh hƣởng của công ty trong xã hội, tình hình tài chính , về số lƣợng, chất lƣợng chủng loại mà công ty đó kinh doanh và định hƣớng phát triển của công ty đó trong tƣơng lai. Tìm hiểu nhu cầu và ý định của đối tác để từ đó trả lời câu hỏi” vì sao họ muốn hợp tác với ta, nguyện vọng hợp tác có trân thành không?, họ có nhiều đối tác không”. Tìm hiểu lực lƣợng đàm phán của họ, đàm phán của họ gồm 4 có những ai, địa vị, sở thích của từng ngƣời, ai là ngƣời có quyền đƣa ra quyết định- tìm hiểu thật kỹ ngƣời này. * Chuẩn bị về năng lực của các thành viên trong đoàn đàm phán. Để trở thành một nhà đàm phán giỏi thì cần phải: Chuẩn bị kiến thức: Bởi một nhà đàm phán giỏi là một nhà thƣơng mại trong nƣớc và quốc tế, họ là một luật gia, họ là một nhà ngoại giao, nhà tâm lý. Họ phải là ngƣời biết cách sử dụng ngôn ngữ đặc biệt là tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ. Họ phải có những kiến thức về kỹ thuật, về văn hoá vì khi đàm phán phải tiếp xúc với những ngƣời thuộc những nền văn hoá khác nhau.  Chuẩn bị về phẩm chất, tâm lý: Chuyên gia đàm phán cần có tƣ duy nhạy bén biết suy nghĩ và hành động đúng, biết kiềm chế cảm xúc, tránh hấp tấp.  Chuẩn bị về phƣơng tiện hỗ trợ.  Có kỹ năng đàm phán tốt: bao gồm các kỹ năng sau:  Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ tốt: Biết cách sử dụng ngôn ngữ, biết cách trình bày lƣu loát, dễ hiểu.  Kỹ năng giao tiếp tốt bao gồm kỹ năng lắng nghe, kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng diễn thuyết..  Phải biết cách giỏi thoả hiệp và thuyết phục đối tác  Kỹ năng biết tạo lợi thế cạnh tranh một cách công khai. * Chuẩn bị về thời gian và địa điểm   Chuẩn bị về thời gian: trong thƣơng mại thời gian là hết sức quý báu vì vậy trƣớc khi đàm phán cần phải thống nhất về lịch làm việc và có thể xây dựng luôn biện pháp dụ phòng. Chuẩn bị về địa điểm: Quan điểm chung là địa điểm đàm phán phải tạo tâm lý thoải mái cho cả hai bên. 1.1.1.2. Xây dựng kế hoạch, phương án đàm phán kinh doanh Việc xây dựng kế hoạch đàm phán có vai trò và ý nghĩa đặc biệt, nhất là đối với những vấn đề phức tạp đòi hỏi phải có tranh luận. Xây dựng kế hoạch đàm phán có nghĩa là vạch ra một sơ đồ có tính khái quát logic áp dụng cho mọi trƣờng hợp, dụa vào đó mà có thể tổ chức và thực hiện các cuộc đàm phán cụ thể nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã định. 5 Trong quá trình xây dựng kế hoạch đàm phán cần hết sức tỉ mỉ, chính xác, rõ ràng, xác định rõ những việc phải làm, biện pháp tiến hành trong quá trình đàm phán. Việc xây dựng kế hoạch đàm phán cần thực hiện các thao tác sau:  Đề ra và kiểm tra các dự đoán về cuộc đàm phán.  Xác định những nhiệm vụ cơ bản, trƣớc mắt của việc đàm phán.  Tìm kiếm phƣơng pháp, bƣớc đi thích hợp nhằm giải quyết nhiệm vụ đó  Phân tích yếu tố, khả năng bên trong, bên ngoài ( chủ quan, khách quan) của việc thực hiện kế hoạch đàm phán.  Xác định những nhiệm vụ ngắn hạn, trung hạn cho cuộc đàm phán và mối liên quan trong việc thực hiện các nhiệm vụ.  Đề xuất biện pháp thực hiện các nhiệm vụ kể trên ( bao gồm lập trƣơng trình và kế hoạch cho từng giai đoạn), phát hiện xử lý kịp thời những bế tắc xuất hiện trong quá trình đàm phán Qua các thao tác phân kế hoạch tổng quát ta sẽ đề ra đƣợc chƣơng trình làm việc cụ thể có sự điều chỉnh cần thiết các chi tiết trong kế hoạch nhằm thực hiện đàm phán đạt kết quả. Mục tiêu của việc xây dựng kế hoạch chi tiết đàm phán là: Cho phép chỉ ra những nhiệm vụ cụ thể, số lƣợng, chất lƣợng công việc, các thao tác phải làm trƣớc khi tiến hành đàm phán, tạo điều kiện thay đổi kịp thời những chi tiết cần thiết cho cuộc đàm phán, xây dựng các phƣơng án khác nhau, tạo điều kiện tối ƣu cho việc ra quyết định.  Xác định và khơi thông những khâu bế tắc, loại trừ khó khăn trong quá trình đàm phán, phối hợp với các hành động, thao tác, biện pháp bố trí chúng theo thời gian đàm phán cho phù hợp với quan điểm chuyên môn, nghề nghiệp.  Cho phép định rõ trách nhiệm, quyền hạn của từng cá nhân, kiểm tra việc thực hiện trách nhiệm và quyền hạn đó; kích thích động viên tinh thần sáng tạo của các thành viên trong việc chuẩn bị đàm phán. Xây dựng chiến lƣợc đàm phán cần có những trọng điểm sau:  Nên mở đầu đàm phán nhƣ thế náo?  Nên đƣa ra những câu hỏi nào trong buổi mở đầu  Đối tác có thể hỏi những câu hỏi nào?  Ta đã có đủ dữ liệu và thông tin để trả lời chƣa? nếu chƣa thì lấy thông tin ở đâu 6  Nếu đàm phán theo nhóm thì cần phải cân nhắc thêm những vấn đề nhƣ: ai là ngƣời dẫn dắt cuộc đàm phán, ai sẽ kiểm tra cơ sở lập luận, ai sẽ là ngƣời đặt câu hỏi, ai sẽ là ngƣời trả lời câu hỏi của đối tác, ai sẽ là ngƣời đóng vai trò làm giảm căng thẳng trong đàm phán. 1.1.1.3. Phương thức đàm phán. * Đàm phán trực tiếp: Là hình thức đàm phán mà ở đó hai bên trực tiếp gặp gỡ mặt đối mặt để thoả thuận với nhau về các điều khoản của hợp đồng - Ƣu điểm: + Nắm đƣợc thái độ, tâm lý và phản ứng của nhau một cách trực tiếp thông qua cử chỉ, vẻ mặt, điệu bộ. + Trực tiếp bàn bạc sao cho dễ hiểu nhau hơn từ đó cùng nhau giải quyết những vấn đề bất đồng hoặc chƣa hiểu nhau. - Nhƣợc điểm: + Đi lại tốn kém, dễ lộ bí mật + Chỉ phù hợp với những hợp đồng lớn, phức tạp. * Đàm phán qua thư từ, điện tín (đàm phán tin cậy) - Ƣu điểm:  Tiết kiệm đƣợc chi phí đi lại  Nắm đƣợc cơ hội kinh doanh nhanh chóng  Có thể giữ bí mật, đem ra bàn bạc tập thể  Có thể cùng một lúc giao dịch với nhiều đối tác khác nhau. - Nhƣợc điểm: Không hiểu hết ý nhau * Đàm phán qua điện thoại ( đàm phán nhỏ, bổ sung)  Hạn chế sử dụng vì dễ bị từ chối, dễ bỏ qua một số chi tiết, không nắm đƣợc thái độ, đối tác, ngƣời đƣợc gọi ở thế bị động.  Chỉ sử dụng trong công ty nhỏ, đối tác truyền thống, đàm phán bổ sung một số chi tiết. * Đàm phán qua mạng. Đây là kiểu đàm phán có rất nhiều ƣu điểm, nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm đƣợc chi phí, có thể xem hình ảnh của hàng hoá trong quá trình đàm phán...Nhƣng cũng có nhƣợc điểm là không đoán đƣợc tâm lý của đối thủ, phải có 7 kiến thức về mạng, công nghệ thông tin và cơ sở hạ tầng phải tốt. Tuy nhiên đây là phƣơng thức đàm phán đang đƣợc khuyến khích áp dụng và phát triển. 1.1.1.4 Ký kết hợp đồng nhập khẩu. Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn tới việc ký kết hợp đồng nhập khẩu. ở các nƣớc phƣơng tây hợp đồng có thể lập dƣới hình thức văn bản hoặc hình thức miệng, hoặc hình thức mặc nhiên ( Tacit agreement), ở nƣớc ta hợp đồng đƣợc ký kết dƣới hình thức văn bản. Hợp đồng dƣới hình thức văn bản có thể đƣợc lập bằng nhiều cách nhƣ: Hợp đồng gồm một văn bản trong đó ghi rõ nội dung mua bán, điều kiện giao dịch đã thoả thuận và có chữ ký của 2 bên. Hợp đồng gồm nhiều văn bản nhƣ những điện báo, thƣ từ giao dịch ví dụ nhƣ hợp đồng gồm 2 văn bản nhƣ đơn chào hàng cố định của ngƣời bán và chấp nhận mua của ngƣời mua hoặc đơn hàng của ngƣời mua và chấp nhận của ngƣời bán. Hình thức văn bản của hợp đồng là bắt buộc đối với các nƣớc, đây là hình thức tốt nhất bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên.Ngoài ra hình thức văn bản còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc ký kết và thực hiện hợp dồng. Khi ký kết hợp đồng, các bên cần chú ý một số dặc điểm sau: Cần có sự thoả thuận, thống nhất với nhau tất cả mọi điều khoản cần thiết trƣớc khi ký kết. Một khi đã ký kết thì việc thay đổi một điều khoanr nào đó sẽ rất khó khăn và bất lợi. Văn bản hợp đồng thƣờng do một bên dự thảo, trƣớc khi ký kết bên kia xem xét kỹ lƣỡng, đối chiếu với những thoả thuận đã đạt đƣợc trong đàm phán tránh việc đối phƣơng có thể thêm vào hợp đồng một cách khéo léo những điểm chƣa thoả thuận và bỏ qua không ghi vào những điều đã thống nhất. Hợp đồng này cần đƣợc trình bày rõ ràng, sáng sủa, cách trình bày phải phản ánh đúng nội dung đã thoả thuận không để tình trạng mập mờ có thể suy luận ra nhiều cách. Những điều khoản trong hợp đồng phải xuất phát từ những đặc điểm của hàng hoá định mua bán , từ những điều kiện hoàn cảch tự nhiên, xã hội ..của nƣớc ngƣời bán, ngƣời mua, từ đặc điểm và quan hệ giữu hai bên. Trong hợp đồng không đƣợc có những điều khoản trái với luật lệ ở nƣớc ngƣời bán hoặc ở nƣớc ngƣơì mua. Ngƣời đứng ra ký kết hợp đồng phải đúng là ngƣời có thẩm quyền ký kết 8 Ngôn ngữ dùng để xây dựng hợp đồng nên là thứ ngôn ngữ mà hai bên cùng thông thạo. Một hợp đồng mua bán ngoại thƣơng thƣòng gồm các phần sau:  Số hợp đồng  Ngày và nơi ký hợp đồng  Tên và địa chỉ của các bên ký  Các điều khoản của hợp đồng nhƣ:  Tên hàng- quy cách phẩm chất- số lƣợng – bao bì , ký mã hiệu  Giá cả- đơn giá, tổng giá  Thời hạn và địa điểm giao hàng - điều kiện giao nhân  Điều kiện thanh toán  Điều kiện khiếu nại trọng tài  Điều kiện bất khả kháng  Điều kiện cấm tái xuất - Chữ ký của hai bên Với những hợp đồng phức tạp nhiều mặt hàng thì có thêm các phụ kiện là bộ phận không thể tách rời của hợp đồng. 1.1.2. Nghiệp vụ thuê tàu và mua bảo hiểm hàng hoá. 1.1.2.1. Thuê tàu lưu cước. Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thƣơng việc thuê tàu chở hàng dựa vào các căn cứ sau đây:  Những điều khoản hợp đồng mua bán  Đặc điểm hàng hoá mua bán  Điều kiện vận tải Đối với thuê tàu biển có hai loại tàu vận chuyển: Tàu chợ: Là tàu chạy theo tuyến nhất định ghé vào cảng quy định theo lịch trình định trƣớc. Tàu thƣờng chỉ chở các loại hàng hoá bao gói đóng kiện. Tàu chợ có giá cƣớc đơn giản, doanh nghiệp chỉ cần liên hệ qua đại diện hãng tàu sắp xếp lịch vận chuyển. Ngƣời thuê tàu phải chấp nhận biểu giá và không thuận tiện nếu cảng chở hàng không có lịch trình của tàu. 9 Tàu chuyến: Là tàu vận chuyển trên biển trong khu vực nhất định và theo lịch trình của ngƣời thuê tàu. Theo phƣơng thức này ngƣời mua có thể bốc xếp dỡ hàng hoá ở bất cứ cảng náo với giá cƣớc thoả thuận, việc vận chuyển nhanh do không phải ghé vào các cảng không cần thiết. Nhƣng việc ký hợp đồng thuê tàu chuyến đòi hỏi ngƣời đi thuê tàu phải có kinh nghiệm, hiểu biết về lĩnh vực này, về giá cả, sự biến động và uy tín của hãng. Ở Việt nam thuê tàu vận chuyển hàng hoá thƣờng các doanh nghiệp uỷ thác cho các công ty vận chuyển quốc tế nhƣ SDV, Tracimexco, Vosa, Weixin ...Tuy nhiên việc này cũng làm tăng chi phí nhập khẩu nhƣng doanh nghiệp yên tâm về hàng hoá của mình đƣợc bảo quản đúng theo yêu cầu, hàng về đúng thời hạn.. 1.1.2.2. Mua bảo hiểm hàng hoá Chuyên chở hàng hoá từ doanh nghiệp xuất khẩu sang doanh nghiệp nhập khẩu có thể xảy ra nhiều rủi ro tổn thất bởi vậy trong kinh doanh thƣơng mại quốc tế bảo hiểm hàng hoá đƣờng biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất Các đơn vị kinh doanh ngoại thƣơng khi mua bảo hiểm đều mua tại Tổng công ty bảo hiểm Việt nam ( Bảo Việt). Hợp đồng bảo hiểm có thể chia làm hai loại: Hợp đồng bảo hiểm bao ( Open policy) : Đơn vị mua bảo hiểm ký hợp đồng từ đầu năm, còn đến khi giao hàng xuống tàu xong chủ hàng chỉ gửi đến Bảo Việt một thông báo bằng văn bản goị là „ Giấy báo bắt đầu vận chuyển‟, hình thức hợp đồng bảo hiểm này thƣờng áp dụng đối với các tổ chức buôn bán ngoại thƣong thƣờng xuyên, nhiều lần trong một năm. Hợp đồng bảo hiểm chuyến ( Voyage policy) Khi mua bảo hiểm chủ hàng gửi đến Bảo Việt một văn bản gọi là „ Giấy yêu cầu bảo hiểm‟. Trên cơ sở giấy yêu cầu này, chủ hàng và Bảo Việt đàm phán ký kết hợp đồng bảo hiểm. Hình thức này thƣờng áp dụng với các đợt mua hàng riêng lẻ. Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm thƣờng nắm vững các điều kiện bảo hiểm.  Bảo hiểm mọi rủi ro ( Điều kiện A)  Bảo hiểm có bồi thƣờng tổn thất riêng ( Điều kiện B)  Bảo hiểm miễn bồi thƣờng tổn thất riêng ( Điều kiện C) Ngoài ra còn có một số điều kiện bảo hiểm dặc biệt nhƣ: Bảo hiểm chiến tranh, bảo hiểm đình công, bạo động Dƣới đây là mẫu giấy yêu cầu bảo hiểm hàng hoá 10 1.1.3. Nghiệp vụ làm thủ tục hải quan Hàng hoá vận chuyển qua biên giới để xuất khẩu hoặc nhập khẩu đều phải làm thủ tục hải quan. Thủ tục hải quan là một công cụ để quản lý hành vi buôn bán theo pháp luật của nhà nƣớc: để ngăn chặn xuất nhập khẩu lậu qua biên giới, để kiểm tra giấy tời có sai sót hoặc giả mạo không, để thống kê về hàng xuất nhập khẩu. Việc làm thủ tục hải quan bao gồm 3 bƣớc chủ yếu sau: 1.1.3.1 Khai báo hải quan Chủ hàng phải kê khai lên tờ khai( Custom declaration) để cơ quan hải quan kiểm tra các thủ tục giấy tờ. Việc kê khai hải quan phải trung thực, chính xác. Nội dung của kê khai bao gồm: Loại hàng hoá ( hàng mậu dịch, phi mậu dịch, hàng trao đổi tiểu ngạch qua biên giới, hàng tạm nhập tái xuất) Số lƣợng, khối lƣợng Giá trị hàng hoá Phƣơng tiện vận tải Xuất hoặc nhập khẩu với nƣớc nào. Sau đây là mẫu tờ khai hàng hoá xuất/ nhập khẩu phi mậu dịch, mậu dịch 11 1.1.3.2 Xuất trình hàng hoá Hàng hoá nhập khẩu phải đƣợc sắp xếp theo trật tự thuận tiện cho việc kiểm soát. Đối với hàng hoá có khối lƣợng ít, ngƣời ta vận chuyển đến kho hải quan kiểm lƣợng và nộp thuế ( nếu có). Đối với hàng nhập khẩu có khối lƣợng lớn, việc kiểm tra hàng hoá và giấy tờ của hải quan có thể diễn ra ở 3 nơi: Tại nơi đóng gói bao kiện: Nhân viên hải quan có thể kiểm tra theo nghiệp vụ của mình và nội dung hàng hoá đƣợc niêm phong kẹp chì. Tại nơi giao nhận hàng hoá cuối cùng: Nhân viên hải quan kiểm tra niêm phong kẹp chì và nội dung hàng hoá theo nghiệp vụ của mình Tại cửa khẩu: Nhân viên hải quan kiểm tra hàng hoá và tờ khai tại cửa khẩu nhập hàng hoá. 1.1.3.3 Thực hiện các quyết định của hải quan Sau khi kiểm tra giấy tờ và hàng hoá, hải quan sẽ ra các quyết định: Cho hàng qua biên giới ( thông quan) Cho hàng hoá qua biên giới có điều kiện ( ví dụ : phải sửa chữa, khắc phục lại khuyết tật, phải bao bì lại..) Cho hàng qua biên giới sau khi chủ hàng đã nộp thuế xuất nhập khẩu Không đƣợc phép xuất nhập khẩu Trách nhiệm của chủ hàng là phải nghiêm túc thực hiện các quyết định trên, nếu vi phạm sẽ buộc vào tội hình sự 1.1.4. Nghiệp vụ nhận hàng và vận chuyển Theo quy định của Nhà nƣớc các cơ quan vận tải ( ga, cảng) có trách nhiệm tiếp nhận hàng hoá nhập khẩu trên các phƣơng tiện vận tải từ nƣớc ngoài vào, bảo 12 quản hàng hoá đó trong quá trình xếp dỡ, lƣu kho, lƣu bãi và giao cho đơn vị dặt hàng theo lệnh giao hàng của đơn vị ngoại thƣơng đã nhập hàng đó. Đơn vị kinh doanh nhập khẩu phải: Ký kết hợp đồng uỷ thác cho cơ quan vận tải (ga, cảng) về việc giao nhận hàng Xác nhận với cơ quan vận tải kế hoạch tiếp nhận hàng xuất nhập khẩu hàng năm, hàng quý, lịch tàu, cơ cấu mặt hàng, điều kiện kỹ thuật khi bốc dỡ, vận chuyển, vận tải Thông báo cho các đơn vị trong nƣớc đặt mua hàng nhập khẩu ( nếu hàng nhập khẩu cho một đơn vị trong nƣớc), dự kiến ngày hàng về, ngày thực tế tàu chở hàng về đến cảng hoặc nhày toa xe chở hàng vào sân ga giao nhận Thanh toán cho cơ quan vận tải các khoản chi phí về giao nhận, bốc xếp bảo quản và vận chuyển hàng nhập khẩu Theo dõi việc giao nhận, đôn đốc cơ quan vận tải lập biên bản ( nếu cần ) về hàng hoá và giải quyết trong phạm vi của mình những vấn đề xảy ra trong quá trình giao nhận. Đơn vị nhập khẩu với tƣ cách một bên đứng tên trên vận đơn phải lập thƣ dự kháng nếu nghi ngờ hoạc thực sự hàng hoá có tổn thất, thiếu hụt hay không đồng bộ theo hợp đồng..v.v. 1.2.ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CHI NHÁNH CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VÀ HỢP TÁC ĐẦU TƢ GIAO THÔNG VẬN TẢI HÀ NỘI – TRACIMEXCO HÀ NỘI. 1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh Tracimexco Hà nội Trong quá trình phát triển nền kinh tế của một quốc gia, vấn đề đầu tiên tạo cơ sở tiền đề cho quá trình phát triển đó là cơ sở hạ tầng, khi có cơ sở hạ tầng vững chắc các ngành nghề trong nền kinh tế sẽ đƣợc đầu tƣ và phát triển, chính cơ sở lý luận đó ngành giao thông vận tải có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế thị trƣờng. Và Công ty XNK và hợp tác đầu tƣ giao thông vận tải ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội trong quá trình phát triển nền kinh tế đất nƣớc. Trƣớc hết, để tìm hiểu Công ty Tracimexco Hà nội, ta cần tìm hiểu khái quát về Công ty XNK và hợp tác đầu tƣ giao thông vận tải (Tracimexco). Tiền thân của Công ty là Cục tƣ vấn đầu tƣ và dịch vụ hợp tác quốc tế giao thông vận tải thành lập tháng 8/1988, đến năm 1991 đổi tên thành Công ty (Tổng Công ty tƣ vấn đầu tƣ và dịch vụ hợp tác quốc tế). Sau một thời gian phát triển, năm 1992 Công ty Tracimexco ra đời dƣới sự hợp nhất của hai Công ty Tracimex 13 và Viettraximex. Và là một doanh nghiệp Nhà nƣớc trực thuộc Bộ giao thông vận tải. Bƣớc vào những năm của thời kỳ đổi mới (công nghiệp hoá, hiện đại hóa) Tracimexco đạt đƣợc kết quả to lớn, góp phần cho công cuộc xây dựng đất nƣớc. Với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là kinh doanh XNK vật tƣ, thiết bị phƣơng tiện ngành giao thông vận tải, Công ty đã chiếm vị trí quan trọng trong ngành giao thông vận tải, do vậy Công ty đã có mặt ở nhiều nơi, có nhiều chi nhánh, xí nghiệp. Tracimexco Hà nội là một trong những chi nhánh của Tracimexco ở miền Bắc và đƣợc thành lập qua 3 lần đổi tên: Theo quyết định số 814 QĐ/TCCB- LĐ ngày 2/6/1994 của Bộ trƣởng Bộ giao thông vận tải: “chuyển toàn bộ phần còn lại của Tổng Công ty tƣ vấn đầu tƣ và dịch vụ hợp tác quốc tế - Interco” thành “Xí nghiệp dịch vụ đầu tƣ thƣơng mại ITS” trực thuộc Công ty XNK và hợp tác quốc tế (Tracimex), tên giao dịch là Tracimex-ITS. Ngày 26/1/1996, theo quyết định số 140 QĐ/ TCCLB- LĐ của Bộ trƣởng Bộ giao thông vận tải đổi tên “Xí nghiệp dịch vụ đầu tƣ và thƣơng mại” thành “Xí nghiệp sản xuất kinh doanh vật tƣ thiết bị - Tramed Hà nội”, trực thuộc Công ty XNK và hợp tác đầu tƣ giao thông vận tải (Tracimexco). Đến ngày 15/4/1997 theo quyết định số 908 QĐ/ TCCLB-LĐ của Bộ trƣởng Bộ giao thông vận tải đổi tên “Xí nghiệp sản xuất kinh doanh vật tƣ thiết bị” thành “Chi nhánh Tracimexco Hà nội” trực thuộc Công ty XNK và hợp tác đầu tƣ giao thông vận tải. Chi nhánh là một đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập có tƣ cách pháp nhân có tài khoản riêng ở ngân hàng có con dấu riêng, hoạt động tuân thủ pháp luật Việt Nam, quản lý theo chế độ một thủ trƣởng và theo phƣơng thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, quản lý đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích tập thể và lợi ích ngƣời lao động trực tiếp. Với nguyên tắc hoạt động trên, ngày nay Tracimexco Hà nội đang vững bƣớc trên con đƣờng của mình. 1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chi nhánh. 1.2.2.1 Chức năng. Là một chi nhánh của Công ty XNK và hợp tác đầu tƣ giao thông vận tải (một Công ty lớn của Bộ giao thông vận tải) Tracimexco Hà nội có những chức năng sau: Thông qua các hoạt động kinh doanh XNK, liên doanh, hợp tác với nƣớc ngoài để thực hiện chức năng chính là nhập khẩu vật tƣ máy móc thiết bị phục vụ ngành giao thông vận tải, tổ chức quá trình lƣu thông hàng hóa từ nƣớc ngoài tới các tổ chức cá nhân tiêu dùng nội địa, đáp ứng yêu cầu của các ngành trong nền 14 kinh tế quốc dân và góp phần tạo công ăn việc làm, cũng nhƣ tăng tích lũy cho ngân sách Nhà nƣớc (thông qua nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nƣớc). 1.2.2.2 Nhiệm vụ. Bao gồm những nhiệm vụ chủ yếu sau:  Xuất nhập khẩu và kinh doanh vật tƣ, thiết bị phƣơng tiện giao thông vận tải và các sản phẩm nông lâm ngƣ nghiệp khác.  Lắp ráp, phục hồi, tân trang thiết bị, phƣơng tiện giao thông vận tải.  Vận tải đƣờng biển, đƣờng bộ.  Dịch vụ đại lý vận chuyển hàng hóa quốc tế và đại lý hàng hải.  Dịch vụ tƣ vấn gọi vốn nƣớc ngoài để phục vụ xây dựng cơ sở vật chất ngành giao thông vận tải.  Hợp tác xuất khẩu lao động.  Sản xuất kinh doanh XNK vật liệu xây dựng, trang trí nội thất và chuyển giao công nghệ mới xây dựng công trình giao thông vận tải bằng vật liệu xây dựng mới.  Dịch vụ du lịch- kinh doanh khách sạn.  Dịch vụ thông tin thƣơng mại và hợp tác quốc tế giao thông vận tải. Với các nhiệm vụ trên, Tracimexco Hà nội quản lý và sử dụng nguồn vốn kinh doanh nhà nƣớc giao khai thác và tự tạo nguồn bằng mọi cách, hình thức hợp lý để sản xuất kinh doanh, đồng thời tự đảm bảo, trang trải về mặt tài chính, tự tạo điều kiện để thúc đẩy kinh doanh phát triển nhằm tạo hiệu quả cao. 1.2.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy của chi nhánh. 1.2.3.1. Tổ chức bộ máy quản lý Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý GIÁM ĐỐC Phòng Kinh doanh XN khẩu Phòng tài chính kế toán Phòng tổ chức hành chính 15 Phòng vận tải và giao nhận hàng hoá Trung tâm dịch vụ thƣơng mại và vận tải Qua sơ đồ trên ta thấy hiện nay chi nhánh đang hoạt động với cơ cấu tổ chức nhƣ sau: Đứng đầu là giám đốc chi nhánh Tracimexco Hà nội, là ngƣời lãnh đạo cao nhất, chịu trách nhiệm điều hành chung về mọi hoạt động của Công ty. Là ngƣời đại diện cho mọi quyền lợi và nghĩa vụ của chi nhánh trƣớc pháp luật và cơ quan chủ quản. Do vậy, Giám đốc phải xác định mục tiêu, nhiệm vụ và phải xác định đƣợc phƣơng hƣớng, cách thực hiện thành công mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra tạo điều kiện để các phòng ban chức năng, các cửa hàng, trung tâm trực thuộc Chi nhánh thực hiện tốt nhiệm vụ, chức năng của mình. 1.2.3.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban. * Phòng hành chính tổng hợp: Giúp giám đốc Công ty quản lý các mặt công tác nhƣ chỉ huy điều hành quản lý các mặt thuộc tổ chức nhân sự, thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nƣớc đối với ngƣời lao động, làm tốt công tác bảo vệ ngƣời lao động. Tham mƣu quản lý chỉ đạo nghiệp vụ, các mặt công tác tổ chức cán bộ nhân sự lao động tiền lƣơng, đào tạo thi đua khen thƣởng, kỷ luật * Phòng tài chính kế toán: Giúp ban giám đốc thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế, thống kê tài chính, thông tin kinh tế trong Công ty, lập và thực hiện các kế hoạch tài chính và các báo cáo tài chính. Tham mƣu quản lý, chỉ đạo nghiệp vụ về công tác tài chính kế toán, thống kê của Công ty, chức năng nhiệm vụ của phòng tài chính kế toán: Phân phối và điều hoà vốn, phục vụ cho sản xuất và kinh doanh của Công ty. Bố trí vốn cho XNK, cung ứng vật tƣ, XDCB, sửa chữa công trình cho Công ty. Tham mƣu cho giám đốc ban hành, theo dõi và thực hiện các quy chế pháp lý về kinh tế tài chính, quyết toán và phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, xử lý những tồn tại trong sản xuất kinh doanh về mặt tài chính. Đề xuất, kiến nghị, bổ sung sửa chữa những bất hợp lý trong chi phí lƣu thông, giá cả hàng hoá Công ty đang thực hiện. Chịu trách nhiệm công tác thống kê của Công ty về doanh số mua vào, bán ra giá trị hàng tồn kho Giải quyết công nợ mua bán hàng hoá và các khách hàng khác của Công ty, quản lý tài sản của Công ty 16 Tham gia dự án về ký kết hợp đồng kinh doanh * Phòng kinh doanh: Chức năng, nhiệm vụ của phòng kinh doanh bao gồm:  Tham mƣu cho lãnh đạo về quản lý nghiệp vụ kinh doanh, XNK và thị trƣờng, xây dựng kế hoạch XNK  Tổng hợp và lập các kế hoạch của Công ty trình lên cấp trên  Lo các thủ tục hạn ngạch xuất khẩu, giấy phép và các thủ tục xuất khẩu, tham mƣu cho lãnh đạo Công ty ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu  Trực tiếp quản lý mặt hàng kinh doanh, tìm biện pháp giải quyết hàng tồn, hƣớng dẫn và kiểm tra việc quản lý kho cùng phòng tài chính đánh giá tài sản  Quan hệ với các Bộ, Nhà nƣớc để Công ty tham gia các dự án * Phòng vận tải và giao nhận hàng hóa: Quản lý và thực hiện toàn bộ công tác vận tải hàng hóa, làm thủ tục xuất nhập khẩu nội địa của chi nhánh. Tiếp thị và mở rộng bạn hàng trong công tác vận tải và giao nhận hàng hóa nội địa và quốc tế. Quản lý hai đại lý vận tải quốc tế là SDV/TTA Pháp và LOHIG Úc theo sự ủy quyền của giám đốc chi nhánh. * Trung tâm dịch vụ thương mại và vận tải (Hải Phòng): Là trung tâm kinh doanh của chi nhánh đại diện tại Hải Phòng, hoạt động sản xuất kinh doanh theo ủy quyền của giám đốc chi nhánh với mọi chức năng ngành nghề đƣợc giao Ngoài ra chi nhánh còn liên doanh liên kết sản xuất và lắp ráp ô tô tại Bắc cạn, có đại lý bán và giới thiệu sản phẩm tại Hà nội, Nam Định, Hà tây. Liên doanh với Thái lan để sản xuất bê tông tƣơi. Chi nhánh luôn chú trọng công tác đào tạo và nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên, khuyến khích ngƣời lao động tham gia phát minh sáng kiến trong công tác. Với tổng số 62 cán bộ nhân viên hầu hết tất cả đều có trình độ từ cao đẳng trở lên, trong đó nhiều ngƣời có trình độ trên đại học, thành thạo ngoại ngữ. Hầu hết những ngƣời có trình độ cao đẳng đều đƣợc cơ quan tạo điều kiện đi học tiếp để nâng cao nghiệp vụ. 17 Bảng 1: Bảng trình độ cán bộ công nhân viên chi nhánh TRacimexco Hà nội ( đơn vị: ngƣời) Tổng số Trình độ cao đẳng Trình độ đại học Trình độ sau đại học 62 18 35 9 Qua bảng trên ta thấy nguồn lực của chi nhánh đều là những nhân viên có trình độ chuyên môn cao, một số ngƣời thông thạo từ một đến hai ngoại ngữ nhất là ở phồng kinh doanh tất cả các cán bộ ở phòng ngoài việc nắm vững chuyên môn còn phải thông thạo ít nhất một ngoại ngữ. Chính vì có trong tay một đội ngũ nhân viên có trình độ, nhiệt tình với công việc nên chi nhánh ngày càng phát triển CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CỦA CHI NHÁNH TRACIMEXCO HÀ NỘI 18 2.1.THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CỦA CHI NHÁNH TRACIMEXCO HÀ NỘI. 2.1.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của chi nhánh trong những năm qua (2002-2004). 2.1.1.1. Những kết quả Công ty đã đạt được trong ba năm qua . Mỗi một doanh nghiệp muốn hình thành, vận hành và phát triển thì điều kiện đầu tiên doanh nghiệp đó phải có một số vốn kinh doanh nhất định. Công ty xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tƣ giao thông vận tải Hà nội trong hai năm qua đã gặt hái đƣợc những thành tựu đáng kể. Do đó trƣớc khi xem xét tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty chúng ta hãy xem xét về tài sản, vốn và nguồn vốn đảm bảo cho Công ty hoạt động trong hai năm 2002-2003 nhƣ thế nào. Qua bảng tài sản và nguồn vốn ta thấy: Bảng 1. Khái quát tài sản và nguồn vốn của Công ty Đơn vị: Triệu đồng Năm 2002 TT Năm 2003 Năm 2004 Chỉ tiêu Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) I Tài sản 27.328 100 34.537 100 42.572 100 1 TSLĐ 18.824 68,9 25.256 73,1 31.423 73.81 2 TSCĐ 8.504 31,1 9.281 26,9 11.423 26.19 II Nguồn vồn 27.328 100 34.537 100 42.572 100 1 Nợ phải trả 20.152 73.74 24.752 71.15 29.687 69.73 2 Vốn CSH 7.176 26.26 9.785 28.85 12.885 30.27 (Số liệu từ báo cáo tài chính) Qua bảng số liệu trên, ta thấy năm 2002, tài sản lƣu động chiếm 68,9% trong tổng tài sản, tài sản cố định chiếm 31,1% trong tổng tài sản. Điều này cho thấy Công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh là chính. Ta có thể thấy rằng so với năm 2002 thì năm 2003 có sự tăng lên cả về tài sản và nguồn vốn. So sánh giữa 2 năm 2003 và 2004 thì thấy rằng: Tổng tài sản của Công ty năm 2004 so với năm 2003 tăng 8.035 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 23,26%. Tỷ lệ tăng nhƣ vậy cho thấy tình hình tài sản của Công ty đã có sự thay đổi và có những 19 bƣớc phát triển đi lên. Tài sản lƣu động của Công ty năm 2004 tăng 6.167 triệu đồng so với năm 2003 tƣơng ứng với 24.42%, nhƣng tài sản cố định lại tăng ít, chỉ có 2.142 triệu đồng so với năm 2003 Cơ cấu nguồn vốn cũng có sự thay đổi. Nợ phải trả năm 2003 tăng 4600 triệu đồng so với năm 2002 với tỷ lệ tăng là 22,83%. Nguồn vốn chủ sở hữu năm 2003 tăng 2.609 triệu đồng, tƣơng ứng với 36.36%. Điều này chứng tỏ rằng Công ty đã có những khoản vay dài hạn và ngắn hạn tăng lên so với năm 2002, đặc biệt là Công ty đã có nhiều cố gắng tăng nguồn vốn chủ sở hữu. Trong nguồn vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn còn thấp (26.26% năm 2002 và 28.85% năm 2003). Nhƣng vốn chủ sở hữu năm 2004 so với năm 2003 tăng đáng kể với tỷ lệ là 31.68%. Điều này có tác dụng tích cực đối với Chi nhánh trong việc chủ động trong sử dụng vốn mặt khác giảm lãi suất vay vốn. Từ bảng trên, ta nhận thấy tổng nguồn vốn của Chi nhánh đang có xu hƣớng tăng lên. Nhƣ vậy chi nhánh đã tìm đƣợc hƣớng đi đúng và có một vị trí trên thị trƣờng. Tuy nhiên để đánh giá hiệu quả đồng vốn kinh doanh của chi nhánh, chúng ta phải xem xét kết quả sản xuất kinh doanh của chi nhánh. 2.1.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trƣờng, để tồn tại và phát triển doanh nghiệp chỉ có sự lựa chọn duy nhất là sản xuất hoạt động kinh doanh phải có hiệu quả thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận đạt đƣợc. Không nằm ngoài quy luật đó, mọi cố gắng nỗ lực của Công ty trong những năm qua là vì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Muốn tối đa hoá lợi nhuận thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải rất phong phú và đa dạng. Các doanh nghiệp không chỉ tiến hành sản xuất kinh doanh các loại hàng hoá theo đúng ngành nghề đã đăng ký mà còn có thể tiến hành các hoạt động khác(hoạt động tài chính, hoạt động bất thƣờng). Để thấy đƣợc tình hình thực hiện lợi nhuận của chi nhánh ta xem xét bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. 3 bảng kq Từ kết quả hoạt động kinh doanh của 3 năm : 2002; 2003; 2004 ta thấy doanh thu của chi nhánh tăng trƣởng ổn định. Năm 2002 tổng doanh thu là 32,207,025,957 đồng, lợi nhuận sau thuế là 676,188,365 đồng. Năm 2003 tổng doanh thu là 34,247,811,304 đồng, lợi nhuận sau thuế là 519,137,411 đồng. Năm 2004 tổng doanh thu là 34,586,371,818 đồng, lợi nhuận sau thuế là 965,380,026 đồng. Năm 2003 tổng doanh thu của chi nhánh cao hơn năm 2002 là 2,040,785,347 đồng nhƣng lợi nhuận sau thuế lại giảm 157,050,954 đồng vì các khoản giảm trừ nhƣ giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại của năm 2003 cao hơn năm 2002, chi 20
- Xem thêm -