Tài liệu Hoàn thiện kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty than hà tu

  • Số trang: 82 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 60 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34345 tài liệu

Mô tả:

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Con ngời luôn là nguồn lực quan trọng hàng đầu, quyết định sự thành bại của mỗi tổ chức.Một doanh nghiệp có thể có một dự án, một kế hoạch kinh doanh tốt đến đâu, công nghệ hiện đại đến đâu…nhng nếu không có một nguồn nhân lực đủ về số lợng và chất lợng để triển khai thì cũng khó có thể thành công. Yếu tố nhân lực lại càng trở nên quan trọng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cạnh tranh khốc liệt và mang tính quốc tế sâu sắc nh hiện nay. Trong bối cảnh đó, việc thu hút, duy trì, phát triển nguồn nhân lực đợc xem là một trong những nhiệm vụ sống còn có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Để có đợc đội ngũ ngời lao động có chất lợng cao – Tài sản vô giá của mỗi doanh nghiêp lại là vấn đề không hề đơn giản bởi nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó có yếu tố tiền lương. Đây là vừa là yếu tố duy trì, vùa là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị quản lý tốt đội ngũ ngời lao động trong doanh nghiệp. Đến lợt nó, tiền lương lại là một vấn đề không hề đơn giản bởi trong quan hệ giữa doanh nghiệp và ngời lao động luôn tồn tại mâu thuẫn thông qua vấn đề tiền lương. Đứng dới giác độ doanh nghiệp thì tiền lương đợc coi là một khoản chi phí, còn đối với ngời lao động thì tiền lương lại chính là khoản thu nhập chính giúp họ tái sản xuất sức lao động. Vì thế giải quyết tốt mâu thuẫn cố hữu này đã và đang trở thành bài toán đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp, tổ chức. Với chức năng ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp và cung cấp thông tin cho quá trình quản lý, kế toán nói chung, kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương nói riêng đã trở thành một công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp giải quyết tố vấn đề tiền lương, đảm bảo vừa có một đội ngũ ngời lao động có chất lợng cao trong dài hạn, vừa đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh, đáp ứng yêu cầu của hội nhập và phát triển. Là một doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh than trong nền kinh tế thị trường, Công ty than Hà Tu cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó. Xuất phát từ thực tiễn đó, sau một thời gian thực tập, khảo sát thực tiễn tại Công ty than Hà Tu một cách nghiêm túc, tôi đã chọn đề tài: “ Hoàn thiện kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty than Hà Tu” cho chuyên đề tốt nghiệp đại học chuyên ngành kế toán tổng hợp của mình. Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề đợc bố cục làm 3 chương: - Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong các doanh nghiệp sản xuất - Chương 2: Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty than Hà Tu - Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty than Hà Tu CHƢƠNG1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƢƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƢƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1. Bản chất và vai trò của tiền lƣơng 1.1.1. Khái niệm về tiền lương Tiền lương là một phạm trù kinh tế phức tạp mang tính lịch sử và có ý nghĩa chính trị xã hội to lớn. Ngợc lại bản thân tiền lương cũng chịu sự tác động mạnh mẽ của xã hội, của t tởng chính trị. Cụ thể là trong xã hội t bản chủ nghĩa tiền lương là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động. Trong xã hội, xã hội chủ nghĩa tiền lương không phải là giá cả sức lao động mà là một phần giá trị vật chất trong tổng sản phẩm xã hội dùng để phân phối cho ngời lao động theo nguyên tắc "làm theo năng lực, hởng theo lao động". Tiền lương mang một ý nghĩa tích cực tạo ra sự công bằng trong phân phối thu nhập quốc dân. Trong giai đoạn hiện nay, tiền lương tuân thủ theo quy luật cung cầu của thị trường sức lao động, chịu sự điều tiết của Nhà nớc, hình thành thông qua sự thoả thuận giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động dựa trên số lợng và chất lợng lao động. Tiền lương là một phần giá trị mới sáng tạo ra của doanh nghiệp dùng để trả cho ngời lao động. Tiền lương trong cơ chế mới tuân thủ theo quy luật cung cầu của thị trường sức lao động, chịu sự điều tiết của Nhà nớc, hình thành thông qua sự thoả thuận giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động. Tiền lương là một phần giá trị mới sáng tạo ra của doanh nghiệp dùng để trả công cho ngời lao động. Nh vậy, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp trả cho ngời lao động theo thời gian, khối lợng công việc và chất lợng lao động mà ngời lao động đã cống hiến cho doanh nghiệp. Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của ngời lao động, các doanh nghiệp sử dụng tiền lương làm đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần tích cực lao động, là nhân tố để thúc đẩy tăng năng suất lao động. Đối với các doanh nghiệp, tiền lương phải trả cho ngời lao động là một yếu tố cấu thành nên giá trị sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sáng tạo ra. Do vậy, các doanh nghiệp phải sử dụng sức lao động có hiệu quả để tiết kiệm chi phí tiền lương. 1.1.2. Chức năng của tiền lương - Chức năng tái sản xuất sức lao động: Đây đợc xem là chức năng quan trong hàng đầu của tiền lương. Theo chức năng này, tiền lương mà ngời lao động nhận đợc phải đảm bảo đủ chi phí để tái sản xuất sức lao động, đảm bảo cho họ có thể làm việc lâu dài. Đây là yêu cầu thấp nhất của tiền lương, phải nuôi sống ngời lao động và duy trì sức lao động của họ. - Chức năng kích thích lao động: Xuất phát từ việc tiền lương chính là một khoản thu nhập của dngời lao động, giúp họ đáp ứng các nhu cầu về vật chất và tinh thần. Do vậy, vì tiền lương mà ngời lao động phải có trách nhiệm với công việc. Tiền lương phải tạo ra niềm say mê nghề nghiệp, làm cho ngời lao động không ngừng bồi dỡng, nâng cao trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao năng suất và chất lợng lao động. - Chức năng điều phối lao động tiền lương: Trong nhiều trường hợp, với tiền lương thoả đáng, ngời lao động có thể tự nguyện nhận mọi công việc đợc giao, dù ở đâu làm việc gì, công việc dù có độc hại, nguy hiểm, bất cứ lức nào thậm chí ngoài giờ làm việc. - Chức năng quản lý:Thông qua việc trả lương mà ngời quản lý có thể kiểm tra, theo dõi, giám sát ngời lao động làm việc theo sự chỉ đạo của mình, đảm bảo tiền lương chi ra phải đem lại kết quả, hiệu quả rõ rệt. Hiệu quả của tiền lương không chỉ đợc tính theo tháng mà còn đợc tính theo ngày, trong từng bộ phận và trong toàn doanh nghiệp. 1.2.Phân loại tiền lƣơng và các hình thức trả lƣơng trong doanh nghiệp 1.2.1.Phân loại tiền lương * Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế + Tiền lương danh nghĩa: là chỉ số lợng tiền tệ mà ngời sử dụng lao động trả cho ngời lao động căn cứ vào hợp đồng lao động thoả thuận giữa hai bên trong việc thuê lao động. Trên thực tế mọi mức lương trả cho ngời lao động đều là tiền lương danh nghĩa. + Tiền lương thực tế: là số lợng t liệu sinh hoạt và dịch vụ mà ngời lao động có thể mua đợc bằng tiền lương của mình sau khi đã đóng các khoản thuế theo qui định của Nhà nớc. Chỉ số tiền lương thực tế tỷ lệ nghịch với chỉ số tiền lương danh nghĩa tại thời điểm xác định. Ta có công thức: Tiền lƣơng danh nghĩa Chỉ số giá cả hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ Qua công thức trên ta thấy chỉ số tiền lương thực tế thay đổi tỷ lệ thuận với chỉ số tiền lương danh nghĩa và tỷ lệ nghịc với chỉ số giá cả Điều mà ngời lao động quan tâm là làm thế nào để tăng đợc số tiền lương thực tế. Xét trên mặt lý thuyết có thể xảy ra trường hợp sau: - Trường hợp 1: chỉ số tiền lương danh nghĩa tăng và chỉ số giá cả giảm. - Trường hợp 2: chỉ số tiền lương danh nghĩa tăng và chỉ số giá cả không thay đổi. - Trường hợp 3: chỉ số tiền lương danh nghĩa không thay đổi và chỉ số giá cả giảm. - Trường hợp 4: chỉ số tiền lương danh nghĩa và chỉ số giá cả cùng tăng nhng tốc độ tăng của giá cả nhỏ hơn tốc độ tăng của tiền lương danh nghĩa. Luật hoá mức lương tối thiểu nhằm hạn chế sự giãn cách quá lớn giữa tiền lương thực tế và tiền lương danh nghĩa là hình thức can thiệp của Chính phủ. Mặt khác tiền lương tối thiểu cũng ảnh hởng trở lại đối với hành vi và động cơ của doanh nghiệp khi các đại lợng nh: mức sản lợng, mức thuê lao động, mức lương, mức lợi nhuận có thể đạt đợc trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó. Tóm lại: tiền lương phụ thuộc vào cơ chế chính sách phân phối các hình thức trả lương của doanh nghiệp và sự điều tiết bằng các chính sách của Chính phủ đối với doanh nghiệp, bản chất của tiền lương là một yếu tố đầu vào của chi phí sản xuất kinh doanh. * Về phơng diện hạch toán bao gồm tiền lương chính và lương phụ. - Tiền lương chính: là tiền lương trả cho ngời lao động trong thời gian làm việc thực tế có thể làm việc bao gồm cả tiền lương cấp bậc, tiền thởng và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương (phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực) - Tiền lương phụ: là tiền lương trả cho ngời lao động trong thời gian thực tế không làm việc nhng đợc hởng theo chế độ quy định của nhà nớc nh: nghỉ phép, nghỉ hè, nghỉ tết, nghỉ chủ nhật, hội họp... Cách phân loại này không những giúp cho việc tính toán, phân bổ chi phí tiền lương đợc chính xác mà còn cung cấp thông tin cho việc phân tích chi phí tiền lương 1.2.2. Các hình thức trả lương Việc vận dụng hình thức tiền lương thích hợp nhằm quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích chung của xã hội với lợi ích của doanh nghiệp và ngời lao động. Lựa chọn hình thức tiền lương đúng đắn còn có tác dụng đòn bẩy kinh tế, khuyến khích ngời lao động chấp hành tốt kỷ luật lao động, nâng cao năng suất lao động giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm đợc chi phí nhân công để hạ giá thành sản phẩm. Trong các doanh nghiệp ở nớc ta hiện nay, các hình thức tiền lương chủ yếu đợc áp dụng là: 1.2.2.1. Hình thức trả lương theo thời gian Hình thức tiền lương theo thời gian thực hiện việc tính trả lương cho ngời lao động theo thời gian làm việc, theo ngành nghề và trình độ thành thạo nghiệp vụ, kỹ thuật, chuyên môn của ngời lao động. Tuỳ theo tính chất lao động khác nhau mà mỗi ngành nghề cụ thể có một thang lương riêng: Thang lương nhân viên cơ khí, thang lương công nhân lái xe, thang lương nhân viên đánh máy,…Trong mỗi thang lương lại tuỳ theo trình độ thành thạo nghiệp vụ, kỹ thuật, chuyên môn mà lại chia làm nhiều bậc lương, mỗi bậc lương có một mức tiền lương nhất định. Đơn vị để tính tiền lương thời gian là lương tháng, lương ngày, hoặc lương giờ. * Lương tháng: đợc quy định sẵn đối với từng bậc lương trong các thang lương. Lương tháng thờng đợc áp dụng để trả lương cho công nhân làm công tác quản lý kinh tế, quản lý hành chính và các nhân viên thuộc các ngành hoạt động không có tính chất sản xuất. Mức lương tháng đợc tính nh sau: Mức lƣơng = Lƣơng cơ bản + Phụ cấp (nếu có) * Lương ngày: là tiền lương trả cho ngời lao động theo mức lương ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng. Mức lương ngày thờng đợc tính bằng cách lấy mức lương tháng chia (:) cho số ngày làm việc trong tháng theo chế độ (22 ngày) và nhân (x) với số ngày làm việc thực tế trong tháng. Cụ thể: Lương cơ bản x hệ số lương Số ngày làm việc theo chế độ (22ngày) Lương ngày thờng đợc áp dụng để trả lương cho lao động trực tiếp hởng lương thời gian, tính trả lương cho ngời lao động trong những ngày hội họp, học tập, hoặc làm nghĩa vụ khác và làm căn cứ để tính trợ cấp BHXH. * Mức lương giờ: tính bằng cách lấy mức lương ngày chia (:) cho số giờ làm việc trong ngày theo chế độ (8 giờ) và nhân với số giờ là việc thực tế trong ngày. Cụ thể: Mức lƣơng ngày 8 giờ làm việc Lương giờ thờng đợc áp dụng để trả lương cho ngời lao động trực tiếp trong thời gian làm việc không hởng lương theo sản phẩm. Nhìn chung hình thức tiền lương theo thời gian có mặt hạn chế là mang tính bình quân, nhiều khi không phù hợp với kết quả lao động thực tế của ngời lao động. Để khắc phục nhợc điểm này ngời ta áp dụng một hình thức trả lương mới đó là trả lương theo thời gian có thởng. * Trả lương theo thời gian có thởng Thực chất của hình thức này là sự kết hợp giữa hình thức trả lương theo thời gian với hình thức tiền thởng khi ngời lao động vợt mức chỉ tiêu về số lợng và chất lợng lao động. Mức lương theo thời gian có thởng đợc tính bằng cách lấy mức tiền lương theo thời gian cộng với mức tiền thởng. 1.2.2.2. Hình thức trả lương theo sản phẩm Hình thức tiền lương theo sản phẩm thực hiện việc tính trả lương cho ngời lao động theo số lợng và chất lợng sản phẩm hoặc công việc đã hoàn thành. Đây là hình thức tiền lương phù hợp với nguyên tắc phân phối theo lao động, gắn chặt năng suất lao động với thù lao lao động, có tác dụng khuyến khích ngời lao động nâng cao năng suất lao động góp phần tăng thêm sản phẩm cho xã hội. Trong việc trả lương theo sản phẩm thì điều kiện quan trọng nhất là phải xây dựng đợc các định mức kinh tế- kỹ thuật để làm cơ sở cho việc xây dựng đơn giá tiền lương đối với từng loại sản phẩm, từng công việc một cách hợp lý. Hình thức tiền lương theo sản phẩm còn tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể ở từng doanh nghiệp mà vận dụng theo hình thức cụ thể sau đây: * Hình thức tiền lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân Với hình thức này, tiền lương phải trả cho ngời lao động đợc tính trực tiếp theo số lợng sản phẩm hoàn thành. Đây là hình thức đợc các doanh nghiệp sử dụng để tính lương phải trả cho lao động trực tiếp. Ta có công thức tính: ĐG = L x Tđm Trong đó : ĐG : Đơn giá tiền lương L : Lương cấp bậc công nhân Tđm : Lương thời gian định mức L = ĐG x Q Q : Mức sản lợng thực tế Ưu điểm: Mối quan hệ giữa tiền lương của công nhân nhận đợc và kết quả lao động thể hiện rõ ràng, ngời công nhân có thể xác định ngay tiền lương của mình. Nhợc điểm: Ngời lao động ít quan tâm đến máy móc thiết bị, chạy theo số lợng ít quan tâm đến chất lợng, tinh thần tập thể, tơng trợ lẫn nhau kém, hay có tình trạng giấu nghề, giấu kinh nghiệm. *Trả lương theo sản phẩm tập thể Đợc áp dụng đối với công việc cần một tập thể công nhân thực hiện nh lắp ráp thiết bị, sản xuất ở các bộ phận, làm việc theo dây truyền. Căn cứ vào số lớng sản phẩm một công việc đã hoàn thành và đơn giá tiền lương của một đơn vị sản phẩm hay một đơn vị công việc. ĐG = ∑ Li x Ti (i = 1,n) Trong đó : ĐG: đơn giá tiền lương trả cho tập thể ∑ Li: tổng tiền lương tính theo cấp bậc công việc của cả tổ( Li là cấp bậc của công nhân thứ i;n là số công nhân trong tổ). Tiền lương thực tế đợc tính: L1 = ĐG x Q1 Trong đó: L1: tiền lương thực tế tổ nhận đợc Q1: sản lợng thực tế tổ đã hoàn thành Trong chế độ này, vấn đề cần chú ý khi áp dụng là phải phân phối tiền lương cho các thành viên trong tổ, nhóm một hợp lý, phù hợp với cấp bậc lương thời gian lao động của họ. Ưu điểm: khuyến khích nhân viên trong tổ nâng cao trách nhiệm trớc tập thể tạo nên mối quan hệ than ái giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành công việc. Nhợc điểm: là kết quả của mỗi công nhân không trực tiếp quyết định tiền lương của họ. Do đó không khuyến khích công nhân nâng cao năng suất lao động cá nhân. Mặt khác do phân phối tiền lương cha tính đến tình hình thực tế của công nhân về sức khoẻ, sự cố gắng trong lao động, cha thể hiện nguyên tắc phân phối theo số lợng, chất lợng lao động. * Trả lương theo sản phẩm gián tiếp Hình thức này thờng đợc áp dụng để dtrả lương cho lao động gián tiếp ở các bộ phận sản xuất nh: lao động làm nhiệm vụ vận chuyển vật liệu, thành phẩm, bảo dỡng máy móc thiết bị…Tuy lao động của họ không trực tiếp tạo ra sản phẩm , nhng lại gián tiếp ảnh hởng đến năng suất của lao động trực tiếp, nên có thể căn cứ vào kết quả của lao động trực tiếp mà lao động gián tiếp phục vụ để tính lương sản phẩm cho lao động gián tiếp. Đơn giá tiền lương đợc tính theo công thức: L MxQ Trong đó: ĐGGT: Đơn giá tiền lương của công nhân gián tiếp L: lương cấp bậc của công nhân gián tiếp M : mức phục vụ của công nhân gián tiếp Q : mức sản lợng của công nhân trực tiếp. Tiền lương của công nhân gián tiếp: TLGT = ĐGGT x QL Trong đó: TLGT: tiền lương thực tế của công nhân gián tiếp. ĐGGT: đơn giá tiền lương gián tiếp QL: mức sản lợng hoàn thành thực tế của công nhân trực tiếp. Ưu điểm trong phơng pháp này là chế độ tiền lương khuyến khích công nhân gián tiếp phục vụ tốt hơn cho công nhân trực tiếp, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động cho công nhân trực tiếp. * Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến Theo hình thức này, ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp còn có một phần tiền thởng đợc tính trên cơ sở tăng đơn giá tiền lương ở các mức năng suất cao. Ta có công thức tính: dcd x tk d1 Trong đó: K: là tỷ lệ đơn giá hợp lí dcd: là tỷ trọng chi phí sản phẩm gián tiếp trong giá thành sản phẩm tk: là tỷ lệ số tiền tiết kiệm d1: là tỷ trọng tiền công Tiền công của công nhân nhận đợc tính theo công thức: S L = (P x Q1) + Pxk (Q1 - Q0) Trong đó: S L: là tổng tiền lương của công nhân hởng lương sản phẩm luỹ tiến Q0 : là sản lợng đạt mức khởi điểm Q1 : là sản lợng thực tế P : là đơn giá cố định tính theo sản phẩm Pxk : là tỷ lệ đơn giá cố định đợc nâng cao. Hình thức tiền lương này có tác dụng kích thích ngời lao động duy trì cờng độ lao động ở mức tối đa, nhng hình thức này sẽ làm tăng khoản mục chi phí nhân công trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp, cho nên nó chỉ đợc sử dụng trong một số trường hợp cần thiết nh cần hoàn thành gấp một đơn đặt hàng hoặc trả lương cho ngời lao động làm việc ở những khâu khó nhất để bảo đảm tính đồng bộ cho sản xuất. * Trả lương theo sản phẩm có thởng Theo hình thức này, ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp, ngời lao động còn đợc thởng trong sản xuất nh thởng về chất lợng sản phẩm tốt, thởng về tăng năng suất lao động, thởng về tiết kiệm vật t. Chế độ này bao gồm hai phần: + Phần trả lương theo sản phẩm theo đơn giá cố định và số lợng sản phẩm thực tế đã hoàn thành. + Phần tiền thởng đợc tính dựa vào mức độ hoàn thành và hoàn thành vợt mức các chỉ tiêu tiền thởng cả về số lợng và chất lợng sản phẩm. Tiền lương sản phẩm có thởng đợc tính theo công thức: TL (mxh) 100 Trong đó: TLTH: tiền lương sản phẩm có thởng. T: tiền lương trả theo sản phẩm với đơn giá cố định m: tỷ lệ % tiền thởng( tính theo tiền lương sản phẩm với đơn giá cố định) h : tỷ lệ % hoàn thành vợt mức số lợng đợc tính thởng Yêu cầu cơ bản khi áp dụng chế độ trả lương này là phải qui định, đúng đắn các chỉ tiêu, điều kiện tiền thởng, nguồn tiền thởng và tỷ lệ thởng bình quân. Tiền thởng do tiết kiệm chi phí sửa chữa gián tiếp cố định tăng năng suất lao động mà có. Tuy nhiên để giảm giá thành sản phẩm ngời ta không dùng hết số tiết kiệm này để làm tiền thởng mà chỉ sử dụng một phần và đặt ra là phải quy định đúng các chỉ tiêu thởng, điều kiện thởng, tỷ lệ thởng bình quân cho phù hợp. Ưu điểm: chế độ trả lương này khuyến khích ngời lao động quan tâm tới số lợng, chất lợng sản phẩm và khuyến khích họ quan tâm tới các chỉ tiêu khác nh mức độ hoàn thành kế hoạch sản xuất, tiết kiệ vật t nâng cao chất lọng sản phẩm. 1.2.2.3. Trả lương khoán theo công việc Chế độ này áp dụng cho toàn bộ khối lợng công việc mà ngời lao động phải hoàn thành trong một khoảng thời gian nhất định. Nh vậy đặc điểm lương khoán là ngoài quy định về số lợng còn quy định thời gian bắt đầu và kết thúc công việc. Trong các ngành cơ khí, nông nghiệp , xây dựng cơ bản thờng áp dụng chế độ này, còn trong công nghiệp áp dụng với những công việc đòi hỏi tính đột suất không theo trình tự cụ thể. Đối tợng của lương khoán có thể là cá nhân, tập thể ngời lao động có thể khoán theo từng công việc có khối lợng lớn. Tiền lương sẽ đợc trả theo số lợng mà công nhân hoàn thành đợc ghi trong phiếu giao khoán. Việc xác định đơn giá tuỳ theo từng đối tợng của lương khoán. Nếu đối tợng nhận khoán là cá nhân thì xác định đơn giá theo nh hình thức trả lương trả lương sản phẩm trực tiếp cá nhân. Hình thức này áp dụng cho những công việc lao động giản đơn, có tính chất đột suất nh bốc dỡ nguyên vật liệu, hàng hoá, sửa chữa nhà cửa…Trong trường hợp này, doanh nghiệp xác định mức tiền lương trả cho từng công việc mà ngời lao động phải hoàn thành. 1.2.2.4. Quỹ lương và các khoản trích theo lương *Quỹ lương Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương của doanh nghiệp trả cho tất cả các loại lao động thuộc doanh nghiệp quản lý và sử dụng. Thành phần quỹ lương bao gồm các khoản chủ yếu là tiền lương trả cho ngời lao động trong thời gian thực tế làm việc(theo thời gian, theo sản phẩm…), tiền lương trả cho ngời lao động trong thời gian ngừng việc, nghỉ phép hoặc đi học, các loại tiền thởng trong sản xuất, các khoản phụ cấp thờng xuyên(phụ cấp khu vực, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp học nghề, phụ cấp thâm niên, phụ cấp làm đêm, thêm giờ…). Về nguyên tắc quản lý tài chính, các doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ quỹ tiền lương, nh: chi quỹ lương theo đúng mục đích, gắn với kết quả sản xuất kinh doanh trên cơ sở các định mức lao động và đơn giá tiền lương hợp lý đợc cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Đối với doanh nghiệp kinh doanh cha có lãi, cha bảo toàn vốn thì tổng quỹ lương doanh nghiệp đợc phép chi không vợt quá tiền lương cơ bản tính theo số lợng lao động thực tế tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, hệ số và mức lương cấp bậc theo hợp đồng, mức phụ cấp lương theo quy định của nhà nớc. Đối với doanh nghiệp kinh doanh có lãi, đạt đợc tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nớc cao, đóng góp cho ngân sách nhà nớc lớn thì dợc phép chi quỹ lương theo hiệu quả đạt đợc của doanh nghiệp nhng phải đảm bảo các điều kiện sau: - Bảo toàn đợc vốn và không xin giảm khấu hao hoặc giảm các khoản phải nộp ngân sách nhà nớc. - Tốc độ tăng của quỹ tiền lương phải thấp hơn tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nớc cấp. * Quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ - Quỹ BHXH: Là quỹ dùng để trợ cấp cho ngời lao động có tham gia đóng góp quỹ trong các trường hợp họ bị mất khả năng lao động nh ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hu trí, mất sức… Theo chế độ tài chính hiện hành, quỹ BHXH đợc hình thành bằng cách tính trên tỷ lệ 20% trên tổng quỹ lương của doanh nghiệp. Ngời sử dụng lao động phải nộp 15% trên tổng quỹ lương tính vào chi phí sản xuất- kinh doanh, còn 5% trên tổng quỹ lương thì do ngời lao động trực tiếp đóng góp (trừ vào thu nhập của họ). Những khoản trợ cấp thực tế cho ngời lao động tại doanh nghiệp trong các trường hợp họ bị ốm đau, tai nạn lao động, nữ công nhân viên nghỉ đẻ hoặc thai sản,… đợc tính toán trên cơ sở mức lương ngày của họ, thời gian nghỉ (có chứng từ hợp lệ) và tỷ lệ trợ cấp BHXH. Khi ngời lao động đợc nghỉ hởng BHXH, kế toán phải lập phiếu nghỉ hởng BHXH cho từng ngời và lập bảng thanh toán BHXH để làm cơ sở thanh toán với cơ quan quản lý quỹ. Các doanh nghiệp phải nộp BHXH trích đợc trong kỳ vào quỹ tập trung do quỹ BHXH quản lý (qua tài khoản của họ ở kho bạc). - Quỹ BHYT: Là quỹ đợc sử dụng để trợ cấp cho những ngời có tham gia đóng góp quỹ trong các hoạt động khám, chữa bệnh. Theo chế độ hiện hành các doanh nghiệp phải thực hiện trích quỹ BHYT bằng 3% tổng quỹ lương, trong đó doanh nghiệp phải chịu 2% tính vào chi phí SX-KD, còn ngời lao động trực tiếp nộp 1% (trừ vào thu nhập của họ). Quỹ BHYT do cơ quan BHYT thống nhất quản lý và trợ cấp cho ngời lao động thông qua mạng lới y tế. Vì vậy, khi trích BHYT, các doanh nghiệp phải nộp cho BHYT (qua tài khoản của họ ở kho bạc) - Kinh phí công đoàn: Là nguồn tài trợ cho hoạt động công đoàn ở các cấp. Theo chế độ tài chính hiện hành, kinh phí công đoàn đợc trích theo tỷ lệ 2% trên tổng số tiền lương phải trả cho ngời lao động và doanh nghiệp phải chịu toàn bộ tính vào chi phí SX-KD. Thông thờng, khi trích đợc kinh phí công đoàn thì một nửa doanh nghiệp phải nộp cho công đoàn cấp trên, một nửa đợc sử dụng để chi tiêu cho hoạt động công đoàn tại đơn vị. - Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm: là quỹ dùng để trợ cấp cho ngời lao động phải nghỉ việc theo chế độ. Mức trích quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làmtheo quy định hiện hành nh sau: + Mức trích quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm từ 1% – 3% trên quỹ tiền lương làm cơ sở đóng BHXH của doanh nghiệp. + Mức trích cụ thể do doanh nghiệp tự quyết định tuỳ vào khả năng tài chính của doanh nghiệp hàng năm. + Khoản trích lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm đợc trích và hạch toán vào chi phí quản lý của doanh nghiệp trong kỳ của doanh nghiệp. + Trường hợp quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm không đủ để chi trợ cấp cho ngời lao động thôi việc, mất việc làm trong năm tài chính thì toàn bộ phần chênh lệch thiếu đợc hạch toán vào chi phí quản lý doanh nghiệp trong kỳ. Thời điểm trích lập quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm là thời điểm khoá sổ kế toán để lập báo cáo tài chính năm. 1.3. Phơng pháp hạch toán tổng hợp tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng trong các doanh nghiệp sản xuất 1.3.1. Hạch toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương 1.3.1.1. Hạch toán tổng hợp tiền lương * Tài khoản sử dụng: Tài khoản 334- “Phải trả công nhân viên” Nội dung của tài khoản này nh sau: + Bên nợ: - Phản ánh các khoản tiền lương, tiền thởng, BHXH và các khoản khác đã trả, đã ứng trớc cho ngời lao động. - Các khoản khấu trừ vào thu nhập của ngời lao động + Bên có: - Các khoản tiền lương, tiền thởng, BHXH và các khoản khác thực tế phải trả cho ngời lao động. Số d bên có: Các khoản tiền lương, tiền thởng còn phải trả cho ngời clao động. Trường hợp cá biệt, TK 334 có thể có số d bên Nợ phản ánh số tiền đã trả quá số tiền phải trả cho ngời lao động. TK334 có thể chi tiế theo nội dung từng khoản thu nhập phải trả cho ngời lao động, nhng tối thiểu cũng phải chi tiết thành 2 tài khoản cấp 2: TK 3341 “Thacnh toán lương”: Dùng để phản ánh các khoản thu nhập có tính chất lương mà doanh nghiệp phải trả cho ngời lao động. TK 3348 “ Các khoản khác”: Dùng để phản ánh các khoản thu nhập không có tính chất lương, nh trợ cấp quỹ BHXH, tiền thởng trích từ quỹ khen thởng… mà doanh nghiệp phải trả cho ngời lao động. * Trình tự hạch toán một số nghiệp vụ chủ yếu về tiền lương. Căn cứ vào bảng thanh toán tiền lương, bảng thanh toán tiền thởng(có tính chất lương), kế toán phân loại tiền lương và lập chứng từ phân bổ tiền lương, tiền thởng vào chi phí sản xuất- kinh doanh. Khi phân bổ tiền lương và các khoản có tính chất lương vào chi phí sản xuất- kinh doanh, kế toán ghi: Nợ TK 622- Phải trả cho lao động trực tiếp Nợ TK 627- Phải trả cho nhân viên phân xởng Nợ TK 641- Phải trả cho nhân viên bán hàng Nợ TK 642- Phải trả cho nhân viên QLDN v.v… Có TK 334- Tiền lương, tiền thởng, các khoản phụ cấp, trợ cấp có tính chất lương mà doanh nghiệp phải trả cho công nhân viên. Với cách ghi chép vào tài khoản nh trên thì tiền lương và các khoản phải trả cho CNV trong kỳ nào đợc tính vào chi phí của kỳ đó. Theo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí sản xuất và kết quả sản xuất thì cách làm này chỉ thích ứng với những doanh nghiệp có thể bố trí cho ngời lao động trực tiếp nghỉ phép tơng đối đều đặn giữa các kỳ hạch toán hoặc không có tính thời vụ. Trường hợp những doanh nghiệp sản xuất không có điều kiện để bố trí cho ngời lao động trực tiếp nghỉ phép đều đặn giữa các kỳ hạch toán hoặc có tính thời vụ thì kế toán phải dự toán tiền lương nghỉ phép hoặc ngừng sản xuất theo kế hoạch của họ để tiến hành trích trớc tính vào chi phí của các kỳ hạch toán theo số dự toán. Mục đích của việc làm này là không làm giá thành sản phẩm thay đổi đột ngột khi số lợng lao động trực tiếp nghỉ phép nhiều ở một kỳ hạch toán nào đó hoặc bù đắp tiền lương cho họ trong thời gian ngừng sản xuất có kế hoạch. Cách tính khoản tiền lương nghỉ phép năm của ngời lao động trực tiếp để trích trớc vào chi phí sản xuất nh sau: Mức trích trớc tiền Tiền lƣơng chính thực tế lƣơng phép kế hoạch của CNTT sản xuất = phải trả CNTT trong tháng x Tỷ lệ trích trớc Trong đó tỷ lệ trích trớc đợc tính nh sau: Tổng số lương phép KH năm của CNTT sản xuất Tổng số lƣơng chính KH năm của CNTT sản xuất Khi trích trớc tiền lương nghỉ phép hoặc ngừng sản xuất có kế hoạch của lao động trực tiếp, kế toán ghi: Nợ TK 622 Có TK 335 Khi có lao động trực tiếp nghỉ phép, hoặc do ngừng sản xuất có kế hoạch phản ánh tiền lương nghỉ phép thực tế phải trả cho họ, kế toán ghi: Nợ TK 335 Có TK 334 Phản ánh khoản phụ cấp, trợ cấp, tiền thởng có nguồn bù đắp riêng nh trợ cấp ốm đau từ quỹ BHXH, tiền thởng thi đua trích từ quỹ khen thởng … phải trả cho ngời lao động, kế toán ghi: Nợ TK 4311- Tiền thởng thi đua trích từ quỹ khen thởng Nợ TK 4312- Tiền trợ cấp trích từ quỹ phúc lợi Nợ TK 338 (3383)- Tiền trợ cấp từ quỹ BHXH Có TK 334 Phản ánh các khoản khấu trừ vào thu nhập của ngời lao động nh tiền tạm ứng thừa, BHXH, BHYT mà ngời lao động phải nộp, thuế thu nhập,… kế toán ghi: Nợ TK 334 Có TK 141- Tiền tạm ứng thừa Có TK 138- Tiền phạt, tiền bồi thờng phải thu Có TK 338- Thu họ các quỹ BHXH, BHYT (Phần ngời lao động phải đóng góp) Có TK 333- Thu hộ thuế thu nhập cá nhân cho nhà nớc v.v… Khi thanh toán cho ngời lao động, kế toán ghi: Nợ TK 334 Có TK 111- Trả bằng tiền mặt Có TK 112- Trả bằng chuyển khoản Nếu doanh nghiệp đã chuẩn bị đủ tiền để thanh toán với ngời lao động nhng vì một lý do nào đó, ngời lao động cha lĩnh thì kế toán lập danh sách để chuyển thành số giữ hộ: Nợ TK 334 Có TK 338 (3388) Khi thanh toán số tiền trên cho ngời lao động, kế toán ghi: Nợ TK 338 (3388) Có TK 111, 112 Hạch toán tổng hợp tiền lương và tình hình thanh toán với ngời lao động đợc thể hiện qua sơ đồ sau:
- Xem thêm -