Tài liệu Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành dịch vụ vận tải của công ty tnhh khai thác vận tải long biên

  • Số trang: 71 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 154 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH DỊCH VỤ VẬN TẢI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ THEO QUYẾT ĐỊNH 48/2006/QĐ-BTC 1.1. Đặc điểm chung của hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải có ảnh hưởng đến kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành dịch vụ vận tải Hiện nay, theo đà phát triển của nền kinh tế, ngành dịch vụ ở tất cả các lĩnh vực như quản lý và đã ngày càng khẳng định rõ vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế. Tính đến thời điểm hiện tại, xuất hiện rất nhiều các khái niệm khác nhau về dịch vụ, nhưng đơn giản nhất dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng là phi vật chất; là kết quả của hoạt động sinh ra do tiếp xúc giữa bên cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ bên cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Hoạt động kinh doanh dịch vụ rất đa dạng bao gồm các hoạt động kinh doanh bưu điện, giao thông, vận tải, du lịch, khách sạn, giải trí, dịch vụ tư vấn, dịch vụ công cộng, dịch vụ bảo vệ an ninh… Căn cứ vào tính chất của hoạt động dịch vụ, người ta chia làm 2 loại dịch vụ:  Dịch vụ có tính chất sản xuất như dịch vụ giao thông, vận tải, dịch vụ bưu điện, sửa chữa…  Dịch vụ thuần tuý không có tính chất sản xuất như dịch vụ hướng dẫn du lịch, giải trí… Trong đó, dịch vụ vận tải là ngành dịch vụ có tính chất sản xuất và là ngành sản xuất đặc biệt. Sản phẩm vận tải là quá trình di chuyển hàng hoá, hành khách từ nơi này đến nơi khác và được đo lường bằng các chỉ tiêu như tấn, kilomet (km) hàng hoá vận chuyển và người. Hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải có một số đặc điểm cơ bản như sau:  Doanh nghiệp vận tải quản lý quá trình sản xuất theo nhiều khâu khác nhau như giao dịch, hợp đồng vận chuyển hàng hoá hoặc vận chuyển hành khách, thanh toán hợp đồng, lập kế hoạch điều vận và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch điều vận.  Phương tiện vận tải là tài sản cố định chủ yếu và không thể thiếu trong quá trình thực hiện dịch vụ vận tải. Các phương tiện này bao gồm nhiều loại có tính năng, tác dụng, hiệu suất và mức độ tiêu hao nhiên liệu, năng lượng khác nhau. 1 Thang Long University Library  Việc khai thác vận chuyển phụ thuộc khá lớn vào cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu phà và điều kiện địa lý, khí hậu.  Ngành vận tải bao gồm nhiều loại hình hoạt động như vận tải ô tô, vận tải đường sắt, vận tải đường biển, đường sông, vận tải hàng không, vận tải thô sơ,… Từ những đặc điểm trên có thể thấy, sự phát triển của ngành dịch vụ vận tải phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của nền kinh tế cũng như nhu cầu hàng ngày của con người. Việc nghiên cứu, tìm hiểu các đặc điểm của ngành kinh doanh dịch vụ vận tải có ý nghĩa rất lớn đối với việc tổ chức quản lý hợp lý công tác kế toán, đặc biệt là kế toán chi phí, tính giá thành cũng như xác định kết quả kinh doanh dịch vụ. 1.2. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành dịch vụ vận tải 1.2.1. Vai trò của kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành dịch vụ vận tải Quản lý chi phí và tính giá thành dịch vụ là một trong những yêu cầu quan trọng để phục vụ công tác quản lý của mọi doanh nghiệp. Điều này tác động trực tiếp tới doanh thu, lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ đó, doanh nghiệp phải có những biện pháp để có thể giảm chi phí, giảm giá thành của dịch vụ nhưng đồng thời chất lượng của dịch vụ cũng phải được đảm bảo, phù hợp với thị trường. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có biện pháp quản lý chặt chẽ, tiết kiệm chi phí sản xuất, tránh hao hụt, mất mát, lãng phí. Một trong những công cụ quản lý hiệu quả đó là quản lý bằng công cụ kế toán, thông qua công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành dịch vụ. Bên cạnh đó, tài liệu về chi phí và tính giá thành còn là căn cứ quan trọng để đánh giá, phân tích tình hình trong kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Nó là một nguồn tài liệu giúp nhà quản lý có thể đưa ra các định mức chi phí, dự toán chi phí… từ đó đưa ra các quyết định phù hợp hơn cho từng giai đoạn kinh doanh. Như vậy, kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong hạch toán kinh tế. Đây chính là một trong những nguồn cung cấp các thông tin chính xác phục vụ cho yêu cầu quản lý doanh nghiệp. 1.2.2. Nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành dịch vụ vận tải Để đáp ứng được yêu cầu về quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế, kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ phải thực hiện các nhiệm vụ sau:  Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành dịch vụ phù hợp với đặc thù và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. 2  Lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí, phương pháp tính giá thành thích hợp.  Tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học hợp lý trên cơ sở phân công rõ ràng trách nhiệm từng nhân viên, từng bộ phận kế toán có liên quan đặc biệt đến bộ phận kế toán các yếu tố chi phí.  Tính toán và phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời tình hình phát sinh chi phí ở các bộ phận cũng như với toàn doanh nghiệp, gắn liền với các loại chi phí khác nhau của từng loại hình dịch vụ vận tải.  Kiểm tra chặt chẽ tình hình thực hiện các định mức tiêu hao, các dự toán chi phí nhằm phát hiện kịp thời hiện tượng lãng phí, sử dụng chi phí không đúng kế hoạch, sai mục đích.  Lập báo cáo chi phí, tổ chức phân tích chi phí và giá thành dịch vụ, cung cấp những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành dịch vụ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp ra được các quyết định một cách nhanh chóng, phù hợp với quá trình thực hiện dịch vụ. 1.3. Chi phí dịch vụ vận chuyển (chi phí vận tải) 1.3.1. Bản chất, nội dung kinh tế của chi phí vận tải Bất kỳ một doanh nghiệp nào, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải có đủ ba yếu tố đó là: tư liệu lao động, đối tượng lao động, sức lao động. Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp ba yếu tố đó để tạo ra các loại sản phẩm lao vụ và dịch vụ. Sự tiêu hao các yếu tố này trong quá trình sản xuất kinh doanh đã tạo ra các chi phí tương ứng, đó là các chi phí về tư liệu lao động, chi phí về đối tượng lao động, chi phí về lao động sống. Các loại chi phí này phát sinh một cách thường xuyên trong quá trình sản xuất kinh doanh, nó luôn vận động, thay đổi trong quá trình tái sản xuất. Tính đa dạng của nó luôn được biểu hiện cụ thể gắn liền với sự đa dạng, phức tạp của các loại hình sản xuất kinh doanh khác nhau, của các giai đoạn công nghệ sản xuất khác nhau và sự phát triển không ngừng của tiến bộ khoa học kỹ thuật. Vì vậy, để quản lý chi phí một cách có hiệu quả thì cần phải nắm vững được bản chất của chi phí. Chi phí luôn có tính chất cá biệt, bao gồm tất cả các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tồn tại và để tiến hành hoạt động của mình, bất kể chi phí đó cần thiết hay không cần thiết. Mặt khác, chi phí của doanh nghiệp luôn mang tính hai mặt, một mặt chi phí có tính khách quan, nó thể hiện sự chuyển dịch các hao phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra vào giá trị sử dụng được tạo ra, đây là sự chuyển dịch mang tính khách quan không lệ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Một mặt, hao phí về các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể lại mang tính chủ quan, 3 Thang Long University Library nó phụ thuộc vào phương pháp tính, trình độ quản lý và yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp. Hiện nay, chi phí SXKD của doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình hoạt động kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định. Theo đó, chi phí vận tải được hiểu là biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác chi ra cho quá trình cung cấp dịch vụ vận tải trong một thời kỳ nhất định. 1.3.2. Phân loại chi phí vận tải Chi phí trong các doanh nghiệp vận tải bao gồm nhiều loại khác nhau, mỗi loại chi phí có những tính chất khác nhau, mục đích công dụng khác nhau và yêu cầu quản lý cũng khác nhau. Để quản lý chi phí vận tải một cách chặt chẽ, tiết kiệm chi phí vận tải, hạ giá thành sản phẩm thì cần thiết phải nghiên cứu cách phân loại chi phí vận tải. Mỗi cách phân loại có nội dung, yêu cầu và mục đích quản lý khác nhau. Phân loại chi phí vận tải đúng đắn, khoa học, phù hợp với điều kiện quản lý kinh tế trong từng giai đoạn là vấn đề quan trọng cả về lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý chi phí và giá thành dịch vụ vận tải, phát huy được chức năng kiểm tra, giám sát và tổ chức thông tin cũng như cung cấp thông tin chính xác cho việc điều hành và quản lý sản xuất kinh doanh. 1.3.2.1. Phân loại theo hoạt động và tính chất kinh tế Căn cứ vào mục đích của từng loại hình hoạt động trong doanh nghiệp và căn cứ vào tính chất kinh tế của chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí vận tải được chia thành: Chi phí hoạt động chính:  Chi phí sản xuất gồm:  Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, dịch vụ, lao vụ. Đối với các doanh nghiệp vận tải, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm nhiên liệu (xăng, dầu Diezen, dầu nhớt),…  Chi phí nhân công trực tiếp: chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương và các khoản phải trả trực tiếp cho lái xe, phụ xe (đối với ngành vận tải đường bộ); cơ trưởng, cơ phó (đối với ngành hàng không); thuỷ thủ, thợ máy, thợ điện (đối với ngành vận tải biển); các khoản trích theo tiền lương của công nhân sản xuất như bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), kinh phí công đoàn (KPCĐ). 4  Chi phí sản xuất chung: chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất (đối với doanh nghiệp sản xuất); đội xe, tổ xe (đối với vận tải đường bộ)…Đối với ngành vận tải, chi phí sản xuất chung bao gồm chi phí khấu hao phương tiện vận tải (tàu, thuyền, ô tô, máy bay), các khoản chi phí khác như chi phí sửa chữa tàu; sửa chữa ô tô; bảo trì, bảo dưỡng máy bay; chi phí vật liệu (xăm, lốp, bình điện…), phụ tùng (hệ thống phun nhiên liệu, hệ thống phanh, hộp số…), chi phí khác có liên quan…  Chi phí ngoài sản xuất:  Chi phí bán hàng là: các khoản chi phí lưu thông phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ. Loại chi phí này đối với ngành vận tải bao gồm các khoản như chi phí hoa hồng giao dịch, chi phí bồi thường tổn thất trong quá trình vận chuyển đến KH, lương nhân viên vận chuyển, bốc dỡ…  Chi phí quản lý doanh nghiệp là: các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, khấu hao tài sản cố định dùng chung cho toàn doanh nghiệp, chi phí khánh tiết, hội nghị; tiền lương của cán bộ quản lý công ty,… Chi phí hoạt động khác:  Chi phí tài chính: là các khoản chi phí và các khoản lỗ liên quan đến các hoạt động về vốn như chi phí liên doanh, chi phí liên quan cho vay vốn, chi phí đầu tư tài chính, lỗ liên doanh,…  Chi phí khác là các khoản chi phí phát sinh do các sự kiện hay các nghiệp vụ bất thường mà doanh nghiệp không thể dự kiến trước được như: thanh lý, nhượng bán tài sản cố định (tàu, thuyền, ô tô tải, máy bay); chênh lệch lỗ do đánh giá lại TSCĐ, hàng hoá; tiền phạt vi phạm hợp đồng; bị phạt, truy nộp thuế… 1.3.2.2. Phân loại căn cứ vào mối quan hệ với doanh thu vận tải. Theo tiêu chuẩn phân loại này, chi phí vận tải được chia thành 2 loại:  Chi phí cố định (bất biến): là những khoản chi phí khi doanh thu vận tải tăng hay giảm thì số tiền chi phí không thay đổi hoặc tăng hay giảm không đáng kể. Nhưng số tiền chi phí tính cho một đồng doanh thu, tức là tỷ suất chi phí thì thay đổi theo chiều ngược lại (giảm hoặc tăng).  Chi phí cố định ở các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải bao gồm các khoản như: chi phí khấu hao tàu, thuyền, phương tiện và các tài sản cố định khác như thiết bị văn phòng; tiền thuê mặt bằng; tiền bảo hiểm tàu, ô tô… 5 Thang Long University Library  Chi phí biến đổi: là những khoản chi phí khi doanh thu vận tải tăng hay giảm thì số tiền chi phí cũng tăng hay giảm theo nhưng chi phí cho một đồng doanh thu, tức là tỷ suất chi phí thì hầu như không thay đổi.  Chi phí biến đổi ở các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải bao gồm các khoản như: chi phí lương của thuỷ thủ trên tàu, lái xe, phụ xe, cơ trưởng, cơ phó, chi phí nhiên liệu… Cách phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định điểm hoà vốn, phân tích dự toán chi phí. Ngoài ra giúp cho các nhà quản trị quản lý được chi phí của một đơn vị sản phẩm tốt hơn và tìm ra các biện pháp để hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ. 1.3.2.3. Phân loại theo phương pháp tập hợp và đối tượng chịu chi phí Theo cách phân loại này, chi phí vận tải được chia thành 2 loại chi phí: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.  Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan một cách trực tiếp đến việc hoàn thành sản phẩm vận tải, nó có thể hạch toán trực tiếp theo từng đối tượng chịu chi phí như: chi phí nhiên liệu, vật liệu…  Chi phí gián tiếp: là những khoản chi phí có liên quan đến nhiều sản phẩm vận tải. Các chi phí này khi phát sinh phải tập hợp lại để cuối kỳ phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí theo tiêu chuẩn phân bổ hợp lý. Các khoản chi phí như: chi phí khấu hao, chi phí sửa chữa tài sản cố định, chi phí đào tạo, bồi dưỡng… Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phương pháp tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm vận tải cho từng đối tượng một cách khoa học và hợp lý. 1.3.3. Đối tượng tập hợp chi phí vận tải Đối tượng tập hợp chi phí vận tải là phạm vi, giới hạn mà các loại chi phí vận tải cần được tập hợp. Như vậy, việc xác định đối tượng tập hợp chi phí vận tải chính là việc xác định nơi phát sinh chi phí và đối tượng chịu chi phí. Tùy theo đặc điểm của từng doanh nghiệp khác nhau mà đối tượng tập hợp chi phí vận tải là khác nhau, chẳng hạn như tập hợp theo đội xe, tổ xe, đầu xe, đơn hàng vận chuyển hay cả kỳ cung cấp dịch vụ. 1.3.4. Phương pháp tập hợp chi phí vận tải Phương pháp tập hợp chi phí là một phương pháp hay hệ thống các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại chi phí trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí. Phương pháp tập hợp chi phí bao gồm các phương pháp hạch toán chi phí theo sản phẩm, theo đơn đặt hàng, theo giai đoạn công nghệ, theo phân xưởng, 6 theo nhóm sản phẩm… Nội dung cơ bản của các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là căn cứ vào các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định để mở các sổ kế toán nhằm ghi chép, phản ánh các chi phí phát sinh theo đúng các đối tượng hoặc tính toán, phân bổ chi phí phát sinh cho các đối tượng đó. Kế toán sẽ áp dụng các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất một cách thích hợp tùy thuộc vào khả năng quy nạp của chi phí vào các đối tượng tập hợp chi phí. Thông thường tại các doanh nghiệp hiện nay có hai phương pháp tập hợp chi phí như sau: 1.3.4.1. Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp Phương pháp này áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát sinh có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán chi phí sản xuất riêng biệt. Do đó, có thể căn cứ vào các chứng từ ban đầu như phiếu xuất kho, bảng phân bổ vật liệu, công cụ, dụng cụ, bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương… kế toán sẽ hạch toán vào tài khoản phù hợp theo từng loại và chi tiết cho từng đối tượng riêng biệt. Theo phương pháp này chi phí sản xuất phát sinh được tính trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí nên đảm bảo độ chính xác cao. 1.3.4.2. Phương pháp phân bổ gián tiếp Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các chi phí gián tiếp, đó là các chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí mà kế toán không thể tập hợp trực tiếp các chi phí này cho từng đối tượng. Các chi phí này khi phát sinh được ghi chép trên chứng từ ban đầu và tập hợp vào tài khoản chung sau đó phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí theo các tiêu chuẩn phân bổ thích hợp. Việc phân bổ các chi phí này được thực hiện theo trình tự như sau:  Bước 1: Xác định hệ số phân bổ: Ti H = T Trong đó: H: Hệ số phân bổ chi phí Ti: Đại lượng của tiêu chuẩn dùng để phân bổ chi phí của đối tượng i T: Tổng tiêu chuẩn phân bổ của các đối tượng cần phân bổ chi phí  Bước 2: Xác định mức chi phí phân bổ cho từng đối tượng Ci = H x C Trong đó: Ci: Phần chi phí phân bổ cho đối tượng i C: Tổng chi phí cần phân bổ 7 Thang Long University Library 1.4. Kế toán tập hợp chi phí kinh doanh dịch vụ vận tải 1.4.1. Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành dịch vụ vận tải theo phương pháp kê khai thường xuyên (KKTX) Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản ánh tình hình hiện có, biến động tăng giảm hàng tồn kho nói chung và vật liệu, công cụ, dụng cụ nói riêng một cách thường xuyên lên trên các tài khoản phản ánh từng loại. Phương pháp này có độ chính xác cao và cung cấp thông tin về hàng tồn kho một cách kịp thời, cập nhật. Đây là phương pháp hạch toán hàng tồn kho được áp dụng phổ biến nhất trong các doanh nghiệp hiện nay. Theo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ áp dụng các chế độ kế toán theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC. Cũng theo quyết định này kế toán sử dụng tài khoản 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, để hạch toán các chi phí liên quan đến quá trình cung cấp dịch vụ, đồng thời kế toán cũng sử dụng tài khoản này để tính giá thành. Kết cấu tài khoản: Nợ TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Có - Tập hợp các chi phí trong kỳ (chi phí - Các khoản ghi giảm chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực - Tổng giá thành thực tế hay chi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn tiếp, CPSXC) thành Dư nợ: Chi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ dở dang chưa hoàn thành 1.4.1.1. Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 1.4.1.1.1. Nội dung và nguyên tắc hạch toán  Nội dung: Khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí về nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu (dầu, mỡ…)… được xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm hay thực hiện các dịch vụ.  Đối với ngành vận tải, chi phí NVL trực tiếp gồm chi phí xăng, dầu Diezen, dầu nhớt, chi phí săm lốp,…  Nguyên tắc hạch toán: 8  Nếu NVL xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt (đội xe, tổ xe, đội tàu, chuyến bay…) thì hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng đó.  Nếu NVL xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí thì phải phân bổ theo tiêu thức phù hợp: định mức tiêu hao, hệ số, trọng lượng, số lượng sản phẩm… Công thức phân bổ: Tổng tiêu thức phân bổ Chi phí NVL trực tiếp phân bổ cho của từng đối tượng * = từng đối tượng Tổng chi phí NVL trực tiếp cần phân Tổng tiêu thức phân bổ của tất cả các đối tượng bổ 1.4.1.1.2. Tài khoản sử dụng Để có thể quản lý và theo dõi các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang để hạch toán và được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất (phân xưởng, bộ phận sản xuất, sản phẩm, nhóm sản phẩm, đầu xe, đơn hàng vận chuyển…) 1.4.1.1.3. Chứng từ và trình tự hạch toán Chứng từ sử dụng:  Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho  Hoá đơn giá trị gia tăng  Bảng kê mua nguyên vật liệu  Bảng phân bổ nguyên vật liệu  Sổ chi tiết TK 154 - CPNVLTT Trình tự hạch toán như sau: 9 Thang Long University Library Sơ đồ 1.1. Sơ đồ hạch toán chi phí NVL trực tiếp (phương pháp KKTX) TK 152 TK 154 TK 152 Giá thực tế NVL Giá thực tế NVL dùng trực tiếp xuất dùng không hết nhập lại kho TK 331, 111, 112 Giá thực tế NVL dùng ngay TK 632 NVL sử dụng vượt định mức TK 133 Thuế GTGT được khấu trừ TK 138, 334 Giá trị NVL bị thiệt hại, bồi thường TK 336, 338 NVL vay mượn TK 111, 112 TK 411 NVL nhận từ vốn góp Giá trị bán phế liệu, thu hồi, ghi giảm CP 1.4.1.2. Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp 1.4.1.2.1. Nội dung và nguyên tắc hạch toán Chi phí nhân công trực tiếp là khoản thù lao phải trả cho các công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ. Đối với ngành vận tải, tiền lương chính, lương phụ của lái xe, phụ xe, lái tàu, cơ trưởng, cơ phó và các khoản phụ cấp khác có tính chất lương (phụ cấp khu vực, độc hại, phụ cấp làm đêm, phụ cấp làm thêm giờ, tiền ăn ca…). Ngoài ra, chi phí nhân công trực tiếp còn bao gồm các khoản đóng góp cho các quỹ như BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN do chủ sử dụng lao động chịu và được tính vào chi phí SXKD theo một tỷ lệ nhất định với số tiền lương phát 10 sinh của lái chính, hoặc các khoản trích trước lương theo đơn đặt hàng của lái phụ đối với các doanh nghiệp mang tính chất thời vụ. Chi phí nhân công trực tiếp thường được tính trực tiếp vào từng đối tượng chịu chi phí có liên quan. Trường hợp chi phí nhân công trực tiếp sản xuất nhưng có liên quan đến nhiều đối tượng mà không hạch toán trực tiếp được tiền lương, các khoản phụ cấp hoặc tiền lương chính trả theo thời gian mà người lao động thực hiện nhiều công tác khác nhau trong ngày... thì có thể tập trung sau đó chọn tiêu chuẩn phân bổ thích hợp để tính toán, phân bổ cho đối tượng chịu chi phí liên quan. Tiêu chuẩn để phân bổ chi phí nhân công trực tiếp sản xuất có thể là: định mức chi phí, giờ công định mức, giờ công kế hoạch, giờ công thực tế. 1.4.1.2.2. Tài khoản sử dụng Chi phí nhân công trực tiếp được kế toán theo dõi trên tài khoản 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. 1.4.1.2.3. Chứng từ và trình tự hạch toán Chứng từ sử dụng:  Bảng chấm công nhân viên  Bảng thanh toán tiền lương và trích các khoản trích theo lương  Sổ chi tiết TK 154 - CPNCTT Trình tự hạch toán như sau: 11 Thang Long University Library Sơ đồ 1.2. Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp (phương pháp KKTX) TK 334 TK 154 TK 632 Tiền lương phải trả cho Kết chuyển chi phí nhân công nhân trực tiếp công vượt trên định mức TK 338 Các khoản BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ của công nhân trực tiếp TK 335 Trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp Chi phí trích trước > Chi phí thực tế phát sinh 1.4.1.3. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung 1.4.1.3.1. Nội dung và nguyên tắc hạch toán Chi phí sản xuất chung là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ sau chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Đây là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất, đội xe, tổ xe của doanh nghiệp. Các CPSXC thường được theo dõi chi tiết theo từng phân xưởng, bộ phận sản xuất (DN sản xuất), đội xe, tổ xe, đơn hàng vận chuyển (DN vận tải)… Do CPSXC thường liên quan đến nhiều loại sản phẩm, dịch vụ trong phân xưởng (DN sản xuất); tổ xe, đội xe, đơn hàng vận chuyển (DN vận tải) nên việc phân bổ chi phí cho từng đối tượng theo tiêu thức phù hợp (sản phẩm, khối lượng vận tải hoàn 12 thành, định mức, lương công nhân thực tế nhận được, theo số giờ làm việc của công nhân…) là rất cần thiết. Chi phí sản xuất chung có thể chia làm 2 loại:  Chi phí sản xuất chung cố định (Định phí sản xuất chung): Là chi phí sản xuất gián tiếp thường không thay đổi như: chi phí khấu hao TSCĐ, phương tiện vận tải, chi phí bảo dưỡng, bảo hiểm phương tiện, chi phí hành chính trong các đội xe, tổ xe như chi phí lương nhân viên quản lý bãi xe, điều chuyển xe…  Chi phí sản xuất chung biến đổi (Biến phí sản xuất chung): Là chi phí sản xuất gián tiếp thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản xuất ra như: chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp (DN sản xuất); chi phí, lệ phí đường, cầu, phà; chi phí lương nhân viên bốc dỡ, vận chuyển (DN vận tải)… Công thức phân bổ CPSXC: CPSXC phân bổ cho từng đối tượng Tổng tiêu thức phân bổ của từng đối tượng = * Tổng tiêu thức phân bổ của tất cả các đối tượng Tổng CPSXC cần phân bổ 1.4.1.3.2. Tài khoản sử dụng Để hạch toán các chi phí sản xuất chung trong quá trình cung cấp, thực hiện dịch vụ kế toán sử dụng TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang để tập hợp và theo dõi chi tiết theo từng đối tượng tập hợp. 1.4.1.3.3. Chứng từ và trình tự hạch toán Chứng từ sử dụng:  Bảng thanh toán lương nhân viên  Phiếu xuất kho, bảng phân bổ NVL, công cụ - dụng cụ, bảng phân bổ khấu hao TSCĐ  Hoá đơn dịch vụ mua ngoài  Sổ chi tiết TK 154 - CPSXC Trình tự hạch toán như sau: 13 Thang Long University Library Sơ đồ 1.3. Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung (phương pháp KKTX) TK 334, 338 TK 154 TK 111, 112, 152 Chi phí lương nhân viên Các khoản thu hồi ghi giảm quản lý CPSXC TK 152, 153 Chi phí NVL, CCDC (phân bổ 1 lần) TK 632 Chi phí vượt định mức TK 214 Chi phí khấu hao TSCĐ TK 142, 242, 335 Chi phí theo kế hoạch hoặc phân bổ chi phí trả trước TK 111, 112, 331 Chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền TK 133 Thuế GTGT đầu vào 14 1.4.2. Kế toán tập hợp chi phí kinh doanh dịch vụ vận tải và tính giá thành theo phương pháp kiểm kê định kì (KKĐK) Đối với các doanh nghiệp có nhiều chủng loại vật tư hàng hóa có giá trị nhỏ, quy cách, mẫu mã khác nhau và được xuất thường xuyên thì phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp được dùng nhiều hơn vì có thể làm giảm khối lượng công việc hạch toán. Các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến hàng tồn kho không được ghi sổ liên tục khi doanh nghiệp lựa chọn phương pháp này. Do đó, cuối kỳ doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê tất cả các loại nguyên vật liệu, thành phẩm trong kho và tại các phân xưởng cùng với bộ phận sản xuất dở dang để xác định chi phí của sản phẩm hoàn thành và hàng đã bán. Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Do đặc điểm của phương pháp kiểm kê định kỳ nên chi phí vật liệu xuất dùng rất khó phân định được là xuất cho mục đích sản xuất, quản lý hay tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ. Vì vậy, để phục vụ cho việc tính giá thành dịch vụ, kế toán cần dựa vào mục đích sử dụng hay tỷ lệ định mức để phân bổ vật liệu xuất dùng cho từng mục đích. Để phản ánh các chi phí vật liệu đã xuất dùng cho cung cấp dịch vụ, kế toán sử dụng TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. Các chi phí được phản ánh trên TK 154 (đã được chi tiết theo từng đối tượng) không ghi theo từng chứng từ xuất dùng nguyên, vật liệu mà được ghi một lần vào cuối kỳ hạch toán, sau khi tiến hành kiểm kê và xác định được giá trị nguyên, vật liệu tồn kho và đang đi đường. Nội dung phản ánh của TK 154 giống như phương pháp kê khai thường xuyên. Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp Chi phí nhân công trực tiếp phát sinh trong kỳ theo phương pháp kiểm kê định kỳ được tập hợp và có tài khoản sử dụng giống như phương pháp kê khai thường xuyên. Cuối kỳ khi tính giá thành của sản phẩm, dịch vụ, lao vụ, kế toán thực hiện bút toán kết chuyển toàn bộ chi phí này vào TK 631 – Giá thành sản xuất và chi tiết theo từng đối tượng. Kế toán chi phí sản xuất chung Toàn bộ chi phí sản xuất chung được tập hợp vào TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang và được hạch toán tương tự như với doanh nghiệp áp dụng phương pháp KKTX. Đối với công cụ dụng cụ (TK 153), nguyên vật liệu (TK 152) xuất dùng chung tại phân xưởng (DN sản xuất); tổ xe, đội xe (DN vận tải), kế toán sẽ hạch toán như nguyên vật liệu chính theo phương pháp kiểm kê định kỳ nêu trên. Cuối kỳ toàn bộ chi phí phát sinh sẽ được kết chuyển vào TK 631 để tính giá thành. 15 Thang Long University Library Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành Đối với phương pháp kiểm kê định kì, kế toán sẽ sử dụng tài khoản 631 – Giá thành sản xuất để tính chi phí sản xuất và xác định giá thành. Tài khoản này cũng được hạch toán chi tiết theo từng địa điểm phát sinh chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất …) và theo nhóm, loại sản phẩm, chi tiết sản phẩm, dịch vụ… tương tự như TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. TK 631 – Giá thành sản xuất Nợ Có - Phản ánh trị giá sản phẩm, dich vụ dở - Kết chuyển giá trị sản phẩm, dịch vụ dở dang cuối kỳ. dang đầu kỳ và các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ liên quan tới chế tạo - Tổng giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành. sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ. Sơ đồ 1.4. Sơ đồ hạch toán tập hợp chi phí và tính giá thành (phương pháp KKĐK) TK 154 TK 631 Đầu kỳ kết chuyển giá trị sản TK 154 Cuối kỳ kết chuyển giá trị sản phẩm, dịch vụ dở dang đầu kỳ phẩm, dịch vụ dở dang cuối kỳ TK 111, 112, 331, 214… Chi phí khấu hao TSCĐ, chi TK 632 phí dịch vụ mua ngoài, chi phí Giá thành sản phẩm, khác bằng tiền dịch vụ hoàn thành TK 133 Thuế GTGT (nếu có) TK 334, 338 Tiền lương công nhân và các khoản trích theo lương TK 611 Cuối kỳ kết chuyển NVL xuất dùng trong kỳ 16 1.5. Kế toán tính giá thành dịch vụ vận tải 1.5.1. Bản chất, nội dung kinh tế của kế toán tính giá thành dịch vụ vận tải Giá thành sản phẩm dich vụ được xác định bao gồm những chi phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí khác được dùng để sản xuất hoàn thành một khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành nhất định. Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa mang tính chất khách quan vừa mang tính chủ quan. Trong hệ thống các chỉ tiêu quản lý của doanh nghiệp, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như tính đúng đắn của những giải pháp quản lý mà doanh nghiệp đã thực hiện để nhằm mục đích hạ thấp chi phí, tăng cao lợi nhuận. Giá thành dịch vụ vận tải là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh công tác quản lý của doanh nghiệp vận tải. Thông qua chỉ tiêu giá thành có thể xác định được hiệu quả của việc sử dụng nguồn nhân lực, vật lực trong doanh nghiệp cũng như đánh giá một cách có cơ sở các biện pháp tổ chức quản lý, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình hoàn thành các dịch vụ cho khách hàng. Giá thành vận tải là giới hạn bù đắp chi phí vận tải, là căn cứ để xác định khả năng bù đắp chi phí trong quá trình thực hiện dịch vụ vận tải. Giá thành vận tải còn là căn cứ để lập giá kinh doanh vận tải, là xuất phát điểm để xác định giá cước phí dịch vụ. 1.5.2. Phân loại giá thành dịch vụ vận tải Để đáp ứng nhu cầu quản lý, hạch toán và kế hoạch hóa giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hóa, giá thành cần được xem xét dưới nhiều góc độ, phạm vi tính toán khác nhau. Vì vậy, có rất nhiều cách phân loại giá thành để có thể phù hợp với từng doanh nghiệp. 1.5.2.1. Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành Theo cách phân loại này, giá thành được chia làm 3 loại:  Giá thành kế hoạch: là loại giá thành được xác định trước khi bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ, được tính toán dựa trên cơ sở chi phí kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Giá thành kế hoạch của sản phẩm, dịch vụ được coi là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và hạ giá thành của doanh nghiệp. 17 Thang Long University Library  Giá thành định mức: là loại giá thành cũng được xác định trước khi bắt đầu quá trình sản xuất. Giá thành định mức được tính toán trên cơ sở mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Giá thành định mức được coi là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước đo để xác định chính xác kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất, giúp cho doanh nghiệp đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế, kỹ thuật đã thực hiện, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.  Giá thành thực tế: Là loại giá thành được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm, được tính toán dựa trên cơ sở các chi phí phát sinh thực tế trong quá trình sản xuất. Giá thành thực tế là căn cứ để xác định giá trị sản phẩm cũng như giá bán sản phẩm. Mặt khác, đây còn chính là căn cứ để kiểm tra, đánh giá tình hình tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành cũng như xác định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 1.5.2.2. Phân loại giá thành theo phạm vi các chi phí cấu thành Chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành sản xuất và giá thành tiêu thụ khi phân loại theo phạm vi các chi phí cấu thành.  Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng): là chỉ tiêu phản ánh tất cả các chi phí phát sinh liên quan đến quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất, bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung không bao gồm chi phí quản lý kinh doanh được phân bổ cho dịch vụ đã hoàn thành.  Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ): là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (chi phí sản xuất, chi phí quản lý kinh doanh). Do vậy, giá thành toàn bộ còn được gọi là giá thành đầy đủ hay giá thành tiêu thụ của sản phẩm, dịch vụ. Giá thành tiêu thụ của dịch vụ vận tải được tính như sau: Giá thành tiêu thụ dịch vụ vận tải = Giá thành sản xuất của dịch vụ + Chi phí quản lý kinh doanh 1.5.3. Đối tượng tính giá thành dịch vụ vận tải Đối tượng tính giá thành dịch vụ vận tải là các loại sản phẩm của doanh nghiệp vận tải cần xác định được giá thành và giá thành đơn vị theo khoản mục chi phí trong giá thành được quy định. Trong ngành kinh doanh dịch vụ vận tải hiện nay, đối với vận tải hàng hoá (vật liệu xây dựng, bùn đất, đồ gia dụng, đồ nội thất, trang trí, bánh 18 kẹo, lương thực…) thường là đơn vị tấn/ kilomet (km) của hàng hoá vận chuyển; đối với vận tải hành khách thường là số người/ kilomet (km) hành khách vận chuyển. 1.5.4. Các phương pháp tính giá thành dịch vụ vận tải Tính giá thành sản phẩm, dịch vụ là phương pháp sử dụng chi phí sản xuất đã tập hợp để tính giá thành thực tế của sản phẩm hoàn thành. Thực chất của việc tính giá thành sản phẩm, dịch vụ là việc sử dụng các phương pháp tính toán, phân bổ các chi phí cấu thành trong sản phẩm, dịch vụ trên cơ sở chi phí đã tập hợp được. Vì vậy, tính giá thành sản phẩm, dịch vụ phải phụ thuộc vào đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành. Bên cạnh đó, để có thể tính giá thành một cách hợp lý chính xác, kế toán cần xác định được kỳ tính giá thành. Kỳ tính giá thành là thời kỳ mà bộ phận kế toán tính giá thành cần tiến hành công việc tính giá cho các đối tượng tính giá thành trên cơ sở chi phí sản xuất đã tập hợp được. Xác định kỳ tính giá thành cho từng đối tượng tính giá thành thích hợp sẽ giúp cho tổ chức công việc tính giá thành phẩm, dịch vụ khoa học, hợp lý, đảm bảo cung cấp số liệu về giá thành thực tế sản phẩm, dịch vụ trung thực, kịp thời. Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý của nhà quản lý và đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp, kế toán có thể chọn kỳ tính giá thành và phương pháp tính giá thành phù hợp và hiệu quả với tình hình hoạt động kinh doanh. Một số những phương pháp tính giá thành thường được áp dụng: Phương pháp trực tiếp (phương pháp giản đơn) Phương pháp này áp dụng trong các doanh nghiệp có quy trình sản xuất giản đơn, sản xuất ra một hoặc một vài sản phẩm nhưng sản xuất với số lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm dở dang không có hoặc có nhưng không đáng kể; trong các doanh nghiệp vận tải như vận tải ô tô, vận tải tàu thuỷ. Do số lượng mặt hàng ít nên việc hạch toán chi phí tại các doanh nghiệp này được tiến hành theo sản phẩm, dịch vụ. Mỗi sản phẩm, dịch vụ được mở một sổ (hoặc thẻ) hạch toán chi phí. Tổng giá thành dịch vụ hoàn thành và giá thành đơn vị được tính theo công thức: Giá thành dịch vụ = Chi phí nhiên liệu còn ở phương tiện + Chi phí vận tải phát sinh trong kỳ đầu kỳ - Chi phí nhiên liệu còn ở phương tiện cuối kỳ 19 Thang Long University Library Giá thành đơn vị Tổng giá thành dịch vụ = Khối lượng vận tải hoàn thành Nếu nhiên liệu tiêu hao được khoán cho lái xe, cuối kỳ không xác định giá trị nhiên liệu còn ở phương tiện thì giá thành vận tải là toàn bộ chi phí vận tải được tập hợp trong kỳ. Phương pháp tính giá thành định mức Phương pháp này được áp dụng đối với những doanh nghiệp đã có các định mức kinh tế kỹ thuật tương đối ổn định và hợp lý, chế độ quản lý theo định mức đã được thực hiện hoàn toàn và có nề nếp, trình độ tổ chức nghiệp vụ chuyên môn kế toán tương đối cao, đặc biệt là thực hiện tốt chế độ hạch toán ban đầu. Nội dung cơ bản của phương pháp tính giá thành định mức gồm:  Căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành và dự toán chi phí được duyệt để tính giá thành hoạt động vận tải.  Tổ chức hạch toán một cách riêng biệt số chi phí thực tế phát sinh phù hợp với định mức và số chi phí chênh lệch thoát ly định mức. Tập hợp riêng và thường xuyên phân tích nguyên nhân những khoản chi phí thoát ly định mức để có biện pháp khắc phục.  Khi có sự thay đổi định mức phải kịp thời tính toán lại giá thành định mức và số chi phí chênh lệch do thoát lý định mức. Công thức xác định giá thành định mức: Giá thành thực tế hoạt động vận tải Giá thành định Chênh lệch do = mức của hoạt + thay đổi định động vận tải mức 20 + Chênh lệch do thoát ly định mức
- Xem thêm -