Tài liệu Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ sửa chữa tại công ty toyota việt nam

  • Số trang: 74 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 64 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ 1.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ 1.1.1. Khái niệm hoạt động kinh doanh dịch vụ Dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán) có thể cung cấp cho bên kia (người mua) và chủ yếu là vô hình không mang tính sở hữu. Dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất. Hoạt động kinh doanh dịch vụ là việc thực hiện các quy trình nghiên cứu để tìm ra nhu cầu của từng đối tượng khác nhau, thiết lập gói dịch vụ cần thiết. 1.1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ Ngành dịch vụ là ngành đem lại hiệu quả kinh tế cao, thời gian thu hồi vốn nhanh Hoạt động kinh doanh dịch vụ mang tính không thường xuyên, phụ thuộc vào yếu tố khách quan của đối tượng nhiều hơn. Sản phẩm của hoạt động kinh doanh dịch vụ nói chung không có hình thái vật chất mà được thể hiện bằng lợi ích cho khách hàng thông qua việc thỏa mãn yêu cầu của khách hàng về chất lượng phục vụ và thường không có sản phẩm dở dang cuối kỳ Đối tượng của ngành dịch vụ luôn di động và rất phức tạp, số lượng dịch vụ, mức độ phức tạp và thời gian thực hiện dịch vụ là khác nhau. Qúa trình sản xuất và đáp ứng yêu cầu của khách hàng tại cùng 1 thời điểm. Về mặt tổ chức quản lý kinh doanh, các doanh nghiệp dịch vụ thường thực hiện quản lý hoạt động kinh doanh theo quy trình thực hiện dịch vụ hoặc theo từng đơn đặt hàng. Đặc điểm này cũng dẫn đến sự đa dạng trong công tác kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh. Các dịch vụ có thể do nhà sản xuất cung cấp hay thuê qua một trung gian chuyên kinh doanh dịch vụ đó. 1.2. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp dịch vụ 1.2.1. Chi phí sản xuất 1.2.1.1. Khái niệm Qúa trình sản xuất hàng hóa, dịch vụ là quá trình kết hợp của ba yếu tố: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và lao động sống. Đồng thời, quá trình sản xuất hàng hóa cũng chính là quá trình tiêu hao của chính bản than các yếu tố trên. Như vậy, để tiến hành sản xuất hàng hóa, người sản xuất phải bỏ chi phí về thu lao lao động, về tư liệu lao động và đối tượng lao động. Vì thế, sự hình thành lên các chi phí sản xuất để tạo ra 1 giá trị sản phẩm sản xuất là yếu tố khách quan, không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người sản xuất. Tóm lại: Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). 1.2.1.2. Phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nội dụng kinh tế khác nhau, mục đích và công dụng của chúng trong quá trình sản xuất cũng khác nhau. Vì vậy, để thuận lợi cho công tác quản lý chi phí sản xuất và kế toán tập hợp chi phí sản xuất cần phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất. Tuỳ vào mục đích và yêu cầu quản lý mà chi phí sản xuất được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Tuy nhiên, về mặt hạch toán, chi phí sản xuất thường được phân theo các tiêu thức sau:  Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí được phân theo nội dung và tính chất kinh tế. Theo cách phân loại này, những chi phí sản xuất nào giống nhau về tính chất và nội dung kinh tế thì được xếp vào một yếu tố chi phí, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực hoạt động sản xuất nào, ở đâu và mục đích hoặc tác dụng của chi phí đó là gì. Vì vậy, cách phân loại này còn gọi là phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố. Toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp được chia thành các yếu tố chi phí sau:  Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ,... sử dụng vào sản xuất - kinh doanh (loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng với nhiên liệu, động lực).  Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất - kinh doanh trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).  Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương: Phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả công nhân viên chức.  Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải tra công nhân viên chức.  Yếu tố khấu hao TSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất - kinh doanh.  Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất - kinh doanh. 2 Thang Long University Library  Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất - kinh doanh trong kỳ. Cách phân loại này có tác dụng đối với việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động và cho biết kết cấu tỷ trọng của từng yếu tố chi phí sản xuất để đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí và lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố trên Bảng thuyết minh báo cáo tài chính. Ngoài ra, cách phân loại này còn cung cấp thông tin làm cơ sở cho việc lập dự toán chi phí sản xuất cho kỳ sau.  Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí và mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với đối tượng chịu chi phí theo phương pháp tập hợp Theo cách phân loại này chi phí sản xuất chia làm hai loại:  Chi phí trực tiếp: là những khoản chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp đến việc sản xuất ra một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định. Kế toán có thể căn cứ vào số liệu của chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho những đối tượng chịu chi phí.  Chi phí gián tiếp: là những khoản chi phí có liên quan đến nhiều loại sản phẩm , dịch vụ. Kế toán phải tập hợp chung sau đó tiến hành phân bổ cho các đối tượng có liên quan theo một tiêu chuẩn thích hợp.  Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với khối lượng sản phẩm lao vụ sản phẩm sản xuất trong kỳ Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất chia làm ba loại:  Chi phí biến đổi (biến phí): là những chi phí có sự thay đổi về lượng tương đương tỉ lệ thuận lợi với sự thay đổi khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp.  Chi phí cố định (định phí): là những chi phí không thay đổi về tổng số khi có sự thay đổi khối lượng sản phẩm sản xuất trong mức độ nhất định như chi phí khấu hao TSCĐ theo phương pháp bình quân, chi phí điện thắp sáng…  Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố của chi phí bất biến và chi phí khả biến. Yếu tố bất biến của chi phí hỗn hợp thường phản ánh chi phí căn bản, tối thiểu để duy trì và luôn luôn ở tình trạng sẵn sàng phục vụ. Yếu tố khả biến thường phản ánh chi phí thực tế hoặc chi phí sử dụng quá định mức  Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung cấu thành chi phí Theo cách phân loại này thì chi phí sản xuất được chia làm 2 loại:  Chi phí đơn nhất: là chi phí do 1 yếu tố chi phí duy nhất cấu thành như chi phí nguyên vật liệu chính dùng trong sản xuất, tiền lương công nhân sản xuất chi phí khấu hao TSCĐ. 3  Chi phí tổng hợp: là những chi phí bao gồm nhiều yếu tố khác nhau nhưng do cùng 1 công dụng như chi phí sản xuất chung. 1.2.2. Giá thành sản phẩm 1.2.2.1. Khái niệm Sự vận động của quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp bao gồm 2 mặt đối lập nhau, nhưng có liên quan mật thiết hữu cơ với nhau. Trong đó, một mặt là các chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra, còn mặt khác là kết quả kinh doanh thu được từ những sản phẩm đã hoàn thành. Vậy giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan tới khối lượng công việc đã hoàn thành. Giá thành sản phẩm sản xuất là toàn bộ chi phí (phát sinh trong kỳ, kỳ trước chuyển sang, cả chi phí trích trước) chi ra tính bằng tiền để hoàn thành một khối lượng sản phẩm nhất định trong kỳ. Đây là một căn cứ quan trọng để định giá bán và xác định hiệu quả kinh tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 1.2.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế toán hoá giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Nhưng có hai cách phân loại giá thành chủ yếu sau:  Phân theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành: Theo cách phân loại này, giá thành được chia làm ba loại:  Giá thành kế hoạch: Giá thành kế hoạch là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Việc tính toán giá thành kế hoạch được tiến hành trước khi bắt đầu quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và do bộ phận kế hoạch thực hiện. Giá thành kế hoạch của sản phẩm là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ thấp giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.  Giá thành định mức: Giá thành định mức là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm. Giống như giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng được tính toán trước khi tiến hành quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong sản xuất.  Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ và sản phẩm thực 4 Thang Long University Library tế đã sản xuất ra trong kỳ. Khác với hai loại giá thành trên, giá thành thực tế chỉ có thể tính toán được sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc áp dụng các giải pháp kinh tế - tổ chức- kỹ thuật vào quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác định nguyên nhân vượt (hụt) định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ đó, điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.  Phân loại giá thành theo phạm vi phát sinh chi phí Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành sản phẩm được chia thành:  Giá thành sản xuất (Giá thành công xưởng): Giá thành sản xuất của sản phẩm bao gồm các chi phí sản xuất như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung tính cho những sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành. Giá thành sản xuất của sản phẩm được dùng để ghi sổ cho sản phẩm đã hoàn thành nhập kho hoặc giao cho khách hàng. Giá thành sản xuất của sản phẩm cũng là căn cứ để tính giá vốn hàng bán và lãi gộp của doanh nghiệp sản xuất.  Giá thành toàn bộ (Giá thành tiêu thụ):Giá thành toàn bộ của sản phẩm bao gồm giá thành sản xuất của sản phẩm cộng thêm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm hoàn thành và đã được tiêu thụ. Chỉ khi nào sản phẩm, lao vụ, dịch vụ được tiêu thụ thì mới xác định được giá thành toàn bộ. Giá thành toàn bộ của sản phẩm là căn cứ để tính toán, xác định lãi trước thuế lợi tức của doanh nghiệp. Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh (lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. 1.2.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá trình sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và giống nhau về chất. Chúng đều là các hao phí về lao động và các khoản chi tiêu khác của doanh nghiệp. Tuy vậy chúng vẫn có sự khác nhau trên các phương diện sau: Về mặt phạm vi: Chi phí sản xuất bao gồm cả chi phí chi sản xuất sản phẩm và chi phí cho quản lý doanh nghiệp và tiêu thụ sản phẩm. Còn giá thành sản phẩm chỉ bao gồm chi phí sản xuất ra sản phẩm bao gồm chi phí sản xuất trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Mặt khác chi phí sản xuất chỉ tính những chi phí phát sinh trong mỗi kỳ nhất định (tháng, quý, năm) không tính đến chi phí liên quan đến số lượng sản phẩm 5 đã hoàn thành hay chưa. Còn giá thành sản phẩm là giới hạn số chi phí sản xuất liên quan đến khối lượng sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành. Về mặt lượng: Nói đến chi phí sản xuất là xét đến các hao phí trong một thời kỳ còn giá thành sản phẩm liên quan đến chi phí của cả kỳ trước chuyển sang và số chi phí kỳ này chuyển sang kỳ sau. Sự khác nhau về mặt lượng và mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thể hiện ở công thức tính giá thành sản phẩm tổng quát sau: Tổng giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất dở = + dang đầu kỳ Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ - Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ Như vậy, chi phí sản xuất là cơ sở để xây dựng giá thành sản phẩm còn giá thành là cơ sở để xây dựng giá bán. Trong trường hợp không có CPSX dở dang đầu kỳ và cuối kỳ hay CPSX dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau thì tổng giá thành dịch vụ hoàn thành sẽ bằng với chi phí phát sinh trong kỳ. 1.3. Nội dung kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp dịch vụ 1.3.1. Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp dịch vụ. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp dịch vụ là theo hợp đồng dịch vụ theo nhu cầu của khách hàng. Để xác định đúng đắn đối tượng kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp, trước hết phải căn cứ vào các yếu tố tính chất sản xuất và quy trình công nghệ sản xuất, đặc điểm tổ chức sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý, đơn vị tính giá thành trong doanh nghiệp. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là các loại chi phí được tập hợp trong một thời gian nhất định nhằm phục vụ cho việc kiểm tra phân tích chi phí và tính giá thành dịch vụ. Giới hạn tập hợp chi phí sản xuất có thể là nơi gây ra chi phí và đối tượng chịu chi phí. Trong các doanh nghiệp dịch vụ, mỗi dịch vụ phục vụ một nhu cầu khác nhau, sản phẩm dịch vụ mang tính đơn chiếc, mỗi dịch vụ có dự toán thực hiện riêng nên đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là hợp đồng hoặc có thể là đơn đặt hàng, bộ phận thực hiện hay từng giai đoạn công việc. Hạch toán chi phí sản xuất dịch vụ theo đúng đối tượng đã được qui định hợp lý có tác dụng phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm kịp thời. 6 Thang Long University Library Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là phương pháp kê khai thường xuyên. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phương pháp sử dụng để tập hợp và phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giới hạn của mỗi đối tượng kế toán chi phí. Trong các doanh nghiệp dịch vụ chủ yếu dùng các phương pháp tập hợp chi phí sau:  Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo hợp đồng: Chi phí sản xuất liên quan tới hợp đồng.  Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng: Các chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến đơn đặt hàng nào sẽ được tập hợp và phân bổ cho đơn đặt hàng đó.  Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn vị hoặc khu vực thực hiện dịch vụ: Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp dịch vụ thực hiện khoán. Đối tượng hạch toán chi phí là các bộ phận, đơn vị thực hiện như tổ đội sản xuất hay khu vực thực hiện hợp đồng. Trong từng đơn vị thực hiện lại được tập hợp theo từng đối tượng tập hợp như hợp đồng dịch vụ. Trong các doanh nghiệp dịch vụ, mỗi đối tượng có thể áp dụng một hoặc một số phương pháp hạch toán trên. Nhưng trên thực tế, có một số chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng, do đó phải tiến hành phân bổ các khoản chi phí này một cách chính xác và hợp lý cho từng đối tượng. 1.3.2. Chứng từ và tài khoản sử dụng 1.3.2.1. Chứng từ sử dụng  Giấy đề nghị xuất vật tư  Phiếu xuất kho  Bảng thanh toán lương  Bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương  Hóa đơn GTGT  Bảng tính và phân bổ khấu hao 1.3.2.2. Tài khoản sử dụng  TK 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Để theo dõi các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng TK 621- "Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp". Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí nguyên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm, thực hiện lao vụ, dịch vụ.. và được mở chi tiết theo từng đối tượng tập hợp chi phí. Nội dung của TK 621 như sau: 7 Nợ TK 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Có - Trị giá NVL sử dụng trực tiếp để sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc tiến hành - Trị giá NVL sử dụng không hết lao vụ, dịch vụ - Kết chuyển chi phí vật liệu trực tiếp vào TK 154- Chi phí sản xuất nhập lại kho kinh doanh dở dang - Kết chuyển chi phí NVL vượt mức vào TK 632-GVHB  TK 622- Chi phí nhân công trực tiếp: Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK622 - " Chi phí nhân công trực tiếp ".Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí nhân công trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất, tiến hành lao vụ dịch vụ. Tài khoản này cuối kỳ không có số dư và được mở chi tiết theo từng đối tượng hạch toán chi phí. TK622 có kết cấu như sau: Nợ TK 622- Chi phí nhân công trực tiếp - Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp sản xuất sản phẩm, tiến hành lao vụ, dịch vụ Có - Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp sản xuất vào TK 154- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang - Kết chuyển chi phí nhân công vượt mức vào TK 632- GVHB  TK 627- Chi phí sản xuất chung TK- Chi phí sản xuất chung: Tài khoản này được dùng để phản ánh chi phí phục vụ sản xuất kinh doanh chung phát sinh ở phân xưởng, bộ phận..phục vụ sản xuất, thực hiện dịch vụ. TK 627 không có số dư được mở 6 TK cấp 2 để tập hợp theo yếu tố chi phí:  TK 6271- Chi phí nhân viên phân xưởng.  TK 6272- Chi phí vật liệu  TK 6273- Chi phí dụng cụ sản xuất 8 Thang Long University Library  TK 6274- Chi phí khấu hao TSCĐ  TK 6277- Chi phí dịch vụ mua ngoài  TK 7278- Chi phí khác bằng tiền TK 627 có kết cấu: Nợ TK 627- Chi phí sản xuất chung Có - Tập hợp chi phí sản xuất chung phát - Các khoản làm giảm chi phí sản sinh trong kỳ xuất chung - Chi phí sản xuất chung cố định không được phân bổ, kết chuyển vào TK 632 - Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất chung vào TK 154  TK 154- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang:  Các chi phí sản xuất kể trên cuối cùng được tổng hợp vào bên Nợ TK154 "Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang". Tài khoản này được mở chi tiết cho từng hợp đối tượng tập hợp chi phí. Kết cấu của TK154: Nợ TK 154- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Có - Kết chuyển chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ - Giá trị phế liệu thu hồi (nếu có) - Giá trị vật liệu thuê ngoài, chế biến - Giá thành sản phẩm, dịch vụ hoàn thành - Các khoản giảm chi phí (nếu có) - Chi phí thuê ngoài chế biến - Giá trị thực tế vật liệu thuê ngoài chế biến hoàn thành SDCK: Chi phí sản xuất kinh doanh còn dang dở đầu kỳ và cuối kỳ TK 631- Giá thành sản phẩm dịch vụ hoàn thành:  Kế toán sử dụng TK 631 - "Giá thành sản xuất" để tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Tài khoản này có kết cấu như sau: 9  Kết cấu của TK631: Nợ TK 631- Giá thành sản xuất Có - Giá trị sản phẩm đầu kỳ kết chuyển - Kết chuyển giá trị sản phẩm dở - Các CPSX phát sinh trong kỳ liên quan tới chế tạo sản phẩm hay tiến dang cuối kỳ hành lao vụ, dịch vụ 1.3.3. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất tại doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên 1.3.3.1. Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Chi phí NVL trực tiếp bao gồm các khoản chi phí về NVL chính, NVL phụ, nửa thành phẩm mua ngoài..sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ.. Chi phí NVL trực tiếp thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Chi phí này thường được uản lý theo các định mức chi phí do doanh nghiệp xây dựng. Chi phí NVL trực tiếp được xác định căn cứ vào công thức sau: Chi phí NVL trực tiếp tồn cuối kỳ Trị giá NVL = trực tiếp còn lại đầu kỳ Trị giá NVL nhập trong kỳ + - Trị giá NVL xuất dùng trong kỳ Trong trường hợp NVL được sử dụng để sản xuất, chế tạo, tiến hành nhiều sản phẩm hay thực hiện nhiều dịch vụ cùng lúc thì không thể tập hợp trực tiếp được thì ta cần phân bổ cho từng đối tượng. Để phân bổ cho các đối tượng, ta cần xác định các tiêu thức phân bổ sao cho hợp lý. Các tiêu thức thường được sử dụng là theo định mức tiêu hao, theo hệ số, theo số lượng... Công thức phân bổ như sau: Chi phí NVL phân bổ cho từng đối tượng Tổng chi phí NVL cần phân bổ = Tổng tiêu thức phân bổ của tất cả các đối tượng x Tổng TTPB của từng đối tượng 10 Thang Long University Library  Phƣơng pháp kế toán Sơ đồ 1.1. Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp TK 152 TK 621 Xuất kho NVL trực tiếp để thực hiện dịch vụ TK 152 Nhập kho NVL xuất dùng không hết, phế liệu thu hồi TK 111, 112, 331… TK 154 Mua NVL chuyển thẳng để thực hiện dịch vụ Kết chuyển chi phí NVL trực tiếp trong kỳ TK 133 Thuế GTGT TK 411 TK 632 Nhận cấp phát NVL để thực hiện dịch vụ Kết chuyển chi phí NVL vượt mức TK 336, 338 NVL đi vay mượn xuất dùng để thực hiện DV 1.3.3.2. Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ, bao gồm: tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp có tính chất lương và các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) của công nhân trực tiếp tiến hành lao vụ, dịch vụ. Chi phí về tiền lương được xác định cụ thể tùy thuộc vào hình thức tiền lương sản phẩm, dịch vụ hay tiền lương thời gian mà doanh nghiệp áp dụng. Số tiền lương phải trả cho công nhân được xác định trên bảng tính và thanh toán lương, được tổng hợp và phân bổ cho từng đối tượng. Giống như chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp thường là các khoản chi phí trực tiếp nên nó được tập hợp trực tiếp vào 11 các đối tượng. Trong trường hợp không tập hợp trực tiếp được thì sẽ được phân bổ theo tiêu thức như: tiền lương định mức (kế hoạch), giờ công định mức, giờ công thực tế, khối lượng sản phẩm, dịch vụ sản xuất ra... Một số doanh nghiệp có thể tiến hành trích trước tiền lương nghỉ phép theo kế hoặc của công nhân sản xuất, tiến hành lao vụ, dịch vụ. Nếu doanh nghiệp bố trí cho công nhân nghỉ đều đặn trong năm thì tiền lương nghỉ phép được tính trực tiếp vào chi phí sản xuất. Nếu doanh nghiệp không bố trí cho công nhân nghỉ phép đều đặn trong năm, để đảm bảo cho giá thành sản phẩm, dịch vụ không bị tăng đột biến, khoản tiền lương này sẽ tính vào chi phí sản xuất kinh doanh thông qua phương pháp trích trước theo kế hoạch. Cuối năm, doanh nghiệp sẽ tiến hành điều chỉnh số trích trước theo kế hoạch cho phù hợp với số tiền thực tế lương nghỉ phép.  Phƣơng pháp kế toán Sơ đồ 1.2. Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp TK 334 TK 622 Tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp tiến hành DV TK 154 Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí nhân công trực tiếp trong kỳ. TK 335 TK 632 Trích trước lươnglương nghỉ Trích trướctiềntiền Kết Kết chuyển chuyểnchi chiphí phí phép của công nhân nhân trực nghỉ phép của công tiếp sản trực tiếpxuất. tiến hành DV nhân nhân công côngtrực trựctiếp tiếp vượt vượt mức. mức. TK 338 Các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp tiến hành DV 1.3.3.3. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung Chi phí sản xuất chung là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất, tiến hành lao vụ, dịch vụ sau chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Đây là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng (tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng như quản đốc, phó quản đốc, ...), chi phí nguyên vật liệu dùng cho phân xưởng, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao 12 Thang Long University Library TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí sản xuất chung khác bằng tiền dùng cho việc tiến hành lao vụ, dịch vụ.  Phƣơng pháp kế toán Sơ đồ 1.3. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung TK 334, 338 TK 627 Chi phí nhân viên TK 111, 112, 152, 138… Các khoản ghi giảm chi phí TK 152, 153 TK 632 Chi phí NVL, CCDC Kết chuyển CPSXC không TK 142, 242, 335 phân bổ vào giá thành Phân bổ chi phí trả trước, hoặc trích trước chi phí TK 154 Kết chuyển hoặc phân bổ CPSXC TK 214 Chi phí khấu hao TSCĐ TK 111, 112, 331... Chi phí dịch vụ mua ngoài TK 133 Thuế GTGT 1.3.3.4. Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí thực tế phát sinh được tập hợp theo từng khoản mục chi phí, cuối kỳ kế toán phải tổng hợp chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm, dịch vụ. 13 Sơ đồ 1.4. Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất K 621 TK 154 TK 632 Kết chuyển chi phí NVL trực tiếp. Dịch vụ hoàn thành bán trực tiếp. TK 622 Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp. TK 627 TK 152 Kết chuyển chi phí sản xuất chung. Phế liệu thu hồi sau dịch vụ 1.3.4. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất tại doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ Phương pháp này áp dụng với các doanh nghiệp có tần suất hàng tồn kho liên tục. Khác với phương pháp KKTX, doanh nghiệp sử dụng phương pháp KKĐK không ghi sổ liên tục các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến hàng tồn kho mà đến cuối kỳ mới kiểm kê tất cả NVL, thành phẩm hay dịch vụ trong kho và tạ phân xưởng để xác định chi phí NVL xuất dùng của sản phẩm, dịch vụ hoàn thành, của hàng đã bán. Vì thế, hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp này cũng có những sự khác biệt nhất định. Theo phương pháp này, việc tổ chức khoản mục chi phí vẫn giống như phương pháp KKTX, được thực hiện trên các TK 621, TK 622, TK 627. Còn tài khoản dùng để tập hợp chi phí sản xuất là TK 631 : “Giá thành sản phẩm”. Tìa khoản 154 chỉ dùng để phản ánh sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ căn cứ vào kết quả kiểm kê đánh giá sản phẩm dở dang. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vẫn được phản ánh trên TK 621. Tuy nhiên, khoản chi phí này không ghi theo chứng từ xuất mà nó sẽ được ghi một lần vào cuối kỳ hạch toán, sau khi kiểm kê và xác định được giá trị NVL tồn kho. Công thức tính toán như sau: Giá trị NVL xuất dùng để tiến hành lao vụ, dịch vụ = Giá trị NVL + tồn đầu kỳ Giá trị NVL nhập trong kỳ - Giá trị NVL tồn cuối kỳ 14 Thang Long University Library Sơ đồ 1.5. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phƣơng pháp KKĐK Kết chuyển giá trị SPDD đầu kỳ TK 611 TK 621 Kết chuyển giá trị NVL xuất dùng TK 631 Kết chuyển CPNVL trực tiếp TK 154 Kết chuyển giá trị SPDD cuối kỳ TK 151,152 Kết chuyển NVL tồn cuối kỳ Kết chuyển NVL tồn đầu kỳ TK 622 TK 632 Kết chuyển CPNC trực tiếp TK 627 Tổng giá thành dịch vụ hoàn thành tiêu thụ trực tiếp Kết chuyển CPSXC hoặc Phân bổ cho các đối tượng tính giá thành 15 Chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung được tập hợp tương tự như phương pháp kê khai thường xuyên. 1.4. Kiểm kê đánh giá sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp dịch vụ Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn sản xuất tiến hành lao vụ, dịch vụ. Để tính được giá thành dịch vụ doanh nghiệp cần thiết phải loại trừ giá trị sản phẩm dở dang. Để xác định giá trị sản phẩm dở dang thì cuối kỳ kế toán phải tiến hành kiểm kê và đánh giá mức độ hoàn thành của chúng rồi vận dụng phương tính giá sản phẩm dở dang phù hợp để tính giá sản phẩm dở dang cuối kỳ. Đối với hoạt động dịch vụ thường không có sản phẩm dở dang cuối kỳ Các chi phí sản xuất kể trên cuối cùng được tổng hợp vào bên Nợ TK154 - "Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang". Tài khoản này được mở chi tiết cho từng hợp đối tượng tập hợp chi phí Tuỳ theo đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ và tính chất của sản phẩm mà doanh nghiệp có thể áp dụng một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang sau: 1.4.1. Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính Chỉ tính cho SPDD phần chi phí NVL chính, vì NVL chính chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành dịch vụ, thường là >70% còn các chi phí khác được tính hết cho sản phẩm dịch vụ hoàn thành trong kỳ. Trong trường hợp doanh nghiệp có quy trình công nghệ tiến hành dịch vụ phức tạp, kiểu liên tục thì chi phí sản xuất dở dang công đoạn sau được xác định theo giá thành dịch vụ công đoạn trước chuyển sang: Giá trị NVL chính nằm trong SPDVDD Giá trị NVLC đầu kỳ + CPNVL phát sinh trong kỳ = Số lượng x Số lượng DVHT + Số lượng SPDVDD SPDVDD 1.4.2. Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo sản lượng ước tính tương đương Theo phương pháp này, các sản phẩm dở dang được quy đổi về sản phẩm hoàn thành tương đương dựa vào mức độ hoàn thành và số lượng sản phẩm dở dang.Tiêu chuẩn quy đổi thường dựa vào giờ công hoặc tiền lương định mức. Phương pháp này chỉ nên áp dụng để tính chi phí chế biến, còn các chi phí nguyên vật liệu chính phải xác định theo số thực tế đã dùng để đảm bảo tính chính xác. 16 Thang Long University Library Giá trị NVLC đầu kỳ Giá trị NVL chính nằm trong CPNVL phát sinh trong kỳ = Số lượng x Số lượng DVHT SPDVDD Chi phí chế biến nằm trong sản phẩm dịch + + CPSX của DVDD đầu kỳ + Số lượng SPDVDD SPDVDD Chi phí chế biến pháp sinh trong kỳ = Số lượng x Số DV hoàn vụ dở dang + thành trong kỳ Số lượng SPDVDD quy đổi SPDVDD quy đổi Trong đó: Số lượng DVDD quy đổi = Số lượng DVDD x Tỷ lệ công việc hoàn thành 1.4.3. Xác đinh giá trị sản phẩm dịch vụ dở dang theo 50% chi phí chế biến Chi phí để tiến hành dịch vụ bao gồm chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. về cơ bản, phương pháp này giống phương pháp ước tính theo sản lượng tương đương, chỉ khác ở chỗ mức độ hoàn thành của sản phẩm tính theo quy ước là 50% . Phương pháp này tương đối đơn giản, các doanh nghiệp có sản phẩm, dịch vụ mà chi phí chế biến chiếm tỉ trọng thấp thường sử dụng phương pháp này Giá trị DVDD cuối kỳ = Giá trị NVL chính + nằm trong DVDD 50% CP chế biến cho DVDD 1.4.4. Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí định mức hoặc kế hoạch: Căn cứ vào định mức tiêu hao (hoặc chi phí kê hoạch) cho các khâu, các bước, các công việc trong quá trình tiến hành lao vụ, dịch vụ để xác định giá trị sản phẩm dở dang. Phương pháp này chỉ áp dụng thích hợp với những doanh nghiệp mà dịch vụ được xây dựng định mức chi phí sản xuất. Giá trị DVDD cuối kỳ = Khối lượng DVDD x 17 Định mức chi phí Ngoài những phương pháp trên, trong thực tế người ta còn áp dụng các phương pháp khác để xác định giá trị sản phẩm dở dang như phương pháp thống kê kinh nghiệm, phương pháp tính theo chi phí vật liệu chínhh và vật liệu phụ nằm trong sản phẩm dở dang v.v.. 1.5. Nội dung kế toán tính giá thành trong doanh nghiệp dịch vụ 1.5.1. Đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành dịch vụ 1.5.1.1. Đối tượng tính giá thành dịch vụ Xác định đối tượng tính giá là công việc cần thiết đầu tiên trong toàn bộ công việc tính giá thành dịch vụ của kế toán. Bộ phận kế toán giá thành phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình, tính chất lao vụ, dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất, đặc điểm quy trình công nghệ kỹ thuật tiến hành lao vụ, dịch vụ, trình độ hạch toán kế toán và quản lý của doanh nghiệp để xác định đối tượng tính giá thành cho phù hợp. Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất theo hình thức sản xuất đơn chiếc thì đối tượng tính giá thành là từng sản phẩm. Đối với những doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng loạt thì từng loại sản phẩm là đối tượng tính giá thành. Khác với doanh nghiệp sản xuất, với doanh nghiệp dịch vụ, kế toán tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo từng hợp đồng và đối tượng tính giá thành là dịch vụ hoàn thành theo họp đồng đó. Đơn vị tính giá thành phải là đơn vị tính được thừa nhận phổ biến trong nền kinh tế quốc dân và phải phù hợp với tính chất lý hoá của dịch vụ 1.5.1.2. Kỳ tính giá thành Trên cơ sở đối tượng tính giá thành đã được xác định, căn cứ vào đặc điểm tổ chức tiến hành lao vụ, dịch vụ và chu kỳ sản xuất của chúng để xác định kỳ tính giá thành cho thích hợp nhằm cung cấp số liệu về giá thành dịch vụ một cách kịp thời. Thông thường, những doanh nghiệp thực hiện dịch vụ với khối lượng lớn, chu kỳ thực hiện ngắn và xen kẽ liên tục thì kỳ tính giá thành thích hợp là hàng tháng và giá thành dịch vụ sẽ được xác định vào cuối mỗi tháng. Với những doanh nghiệp tổ chức tiến hành một dịch vụ hoặc hàng loạt theo từng hợp đồng , chu kỳ tiến hành dịch vụ dài thì kỳ tính giá thành có thể là hàng quý hoặc vào thời điểm mà dịch vụ hay hợp đồng đó hoàn thành. 1.5.1.3. Phương pháp tính giá thành trong doanh nghiệp dịch vụ Tuỳ theo đặc điểm của mình mà mỗi doanh nghiệp tự lựa chọn một phương pháp tính giá sao cho phù hợp và có hiệu quả nhất. Trên cơ sở chi phí sản xuất đã được tập 18 Thang Long University Library hợp theo các đối tượng tập hợp chi phí, kế toán có thể tiến hành tính giá thành dịch vụ theo một trong hai phương pháp sau:  Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp giản đơn) Theo phương pháp này, giá thành dịch vụ được tính bằng cách lấy trực tiếp chi phí sản xuất đã tập hợp theo từng đối tượng phát sinh trong kỳ cộng với giá trị dịch vụ dở dang đầu kỳ (chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ) của đối tượng đó trừ đi giá trị dịch vụ dở dang cuối kỳ (chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ) của cùng đối tượng. Phương pháp này được áp dụng trong những doanh nghiệp thuộc loại hình cung cấp dịch vụ giản đơn, trong quy trình công nghệ chỉ sản xuất ra một loại dịch vụ, số lượng dịch vụ dở dang không có hoặc không đáng kể, khối lượng dịch vụ sản xuất ra rất lớn. Đúng như tên gọi của nó, phương pháp này giúp cho công việc tính toán đơn giản, dễ làm. Tuy nhiên, khi đối tượng hạch toán chi phí sản xuất không trùng với đối tượng tính giá thành thì không thể áp dụng phương pháp này. = Tổng giá thành dịch vụ = Chi phí dở dang đầu kỳ + Chi phí phát sinh trong kỳ + Chi phí dở dang cuối kỳ =  Phương pháp hệ số Áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình tực hiện dịch vụ cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời nhiều dịch vụ khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho từng loại dịch vụ mà phảo tập hợp chung cho cả quá trình thực hiện dịch vụ. Do vậy, để xác định giá thành cho từng dịch vụ cần phải quy đổi các dịch vụ chính khác nhau về một loại dịch vụ duy nhất, gọi là dịch vụ tiêu chuẩn theo hệ số quy đổi được xây dựng sẵn. Sản phẩm có hệ số 1 được chọn làm dịch vụ tiêu chuẩn. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất tại doanh nghiệp là phân xưởng hay quy trình công nghệ. Đối tượng tính giá thành là dịch vụ chính hoàn thành. Nếu trong quá trình sản xuất có dịch vụ dở dang thì cũng cần quy đổi về dịch vụ tiêu chuẩn để xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ.  Ưu điểm: Tính được nhiều loại dịch vụ trong cùng một quy trình  Nhược điểm: Vấn đề chọn dịch vụ nào là dịch vụ chính. Các bước tính toán phức tạp Trình tự tính toán như sau: Bước 1: Căn cứ đặc điểm kinh tế, kĩ thuật của từng loại dịch vụ, quy trình cho mỗi loại dịch vụ một hệ số 19 Bước 2: Quy đổi số lượng dịch vụ thực tế từng loại dịch vụ ra số lượng dịch vụ tiêu chuẩn. Tổng số dịch vụ quy đổi = Tổng số lượng các loại dịch vụ Hệ số quy đổi của từng loại x Bước 3: Tính giá thành đơn vị sản phẩm gốc Giá thành đơn vị dịch vụ gốc Tổng giá thành của các loại dịch vụ = Tổng dịch vụ quy đổi Trong đó: Tổng giá thành dịch vụ của các CPSX của = loại + DVDD đầu CPSX phát sinh - CPSXC của DVDD trong kỳ kỳ cuối kỳ Bước 4: Tính giá thành đơn vị từng dịch vụ Giá thành đơn vị DV từng loại = Giá thành đơn vị dịch vụ gốc x Hệ số quy đổi của từng loại  Tính giá theo hợp đồng dịch vụ Phương pháp này được áp dụng cho những doanh nghiệp tiến hành sản xuất theo hợp đồng dịch vụ theo nhu cầu của khách hàng. Đối với những doanh nghiệp này, kế toán tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo từng hợp đồng và đối tượng tính giá thành là dịch vụ hoàn thành theo hợp đồng đó. Khi tập hợp chi phí sản xuất, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp liên quan tới hợp đồng nào thì hạch toán trực tiếp cho hợp đồng đó, còn chi phí sản xuất chung do liên quan đến nhiều hợp đồng mà ngay từ đầu không thể hạch toán trực tiếp cho từng hợp đồng thì phải tập hợp riêng trên TK627. Cuối kỳ, kế toán phân bổ cho từng hợp đồng theo tiêu thức thích hợp. Cuối kỳ hạch toán, nếu hợp đồng chưa hoàn thành thì chưa tính giá thành và do đó, toàn bộ chi phí sản xuất tập hợp được là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ. Nếu hợp đồng đã hoàn thành thì hợp đồng đó mới được tính giá thành. Tổng giá thành hợp đồng dịch vụ = Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -