Tài liệu Hoàn thiện kế toán chi phí và giá thành sản phẩm tại tổng công ty tư vấn xây dựng thủy lợi việt nam

  • Số trang: 111 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 40 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27127 tài liệu

Mô tả:

Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân MỤC LỤC CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XẤY LẮP........... 1.1 Sự cần thiết và nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ..................................................................................................................... 1.1.1 Đặc điểm của Doanh nghiệp xây lắp ảnh hưởng đến kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.................................................................................. 1.1.2 Bản chất, ý nghĩa của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.................... 1.1.3 Yêu cầu quản lý đối với chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm................ 1.1.4 Sự cần thiết và nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ................................................................................................................. 1.2 Nội dung kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm................................. 1.2.1 Nội dung của kế toán chi phí sản xuất........................................................ 1.2.2 Nội dung của kế toán giá thành sản phẩm................................................. 1.2.3 Tổ chức hệ thống sổ kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm....... 1.2.4 Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin.................................................................................. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUÁT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI TỔNG CÔNG TY TƯ VẤN XÂY DỰNG THỦY LỢI VIỆT NAM – CTCP...................................................................................... 2.1 Đặc điểm chung về Tổng công tytư vấn xây dựng thủy lợi Việt Nam............ 2.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của công ty............................. 2.1.2 Đặc điểm về ngành nghề kinh doanh của công ty.................................... 2.1.3 Đặc điểm quy trình công nghệ và tổ chức sản xuất của công ty................ 2.1.4 Đặc điểm về tổ chức quản lý của công ty.................................................. 2.1.5 Đặc điểm chung về tổ chức công tác kế toán của công ty......................... 2.2 Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Tổng Công ty Tư vấn xây dựng Thủy lợi Việt Nam - CTCP....................................................... SV: Lê Thị Hiền Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân 2.2.1 Thực trạng kế toán chi phí sản xuất tại công ty......................................... 2.2.2 Thực trạng kế toán giá thành sản phẩm tại công ty................................... CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI TỔNG CÔNG TY TƯ VẤN XÂY DỰNG THỦY LỢIVIỆT NAM – CTCP......................................................................................................... 3.1 Nhận xét chung về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Tổng công ty tư vấn xây dựng thủy lợi Việt Nam.......................................................... 3.1.1Những ưu điểm.......................................................................................... 3.1.2 Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế............................................ 3.2 Yêu cầu hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Tổng công ty tư vấn xây dựng thủy lợi Việt Nam...............................................101 3.2.1 Yêu cầu 1................................................................................................101 3.2.2 Yêu cầu 2................................................................................................102 3.2.3. Yêu cầu 3...............................................................................................102 3.2.4. Yêu cầu 4...............................................................................................102 3.2.5 Yêu cầu 5................................................................................................102 3.3 Một số ý kiến nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Tổng công ty tư vấn xây dựng thủy lợi Việt Nam................................102 3.3.1 Kiến nghi 1- Hoàn thiện chứng từ sử dụng.............................................102 3.3.2 Kiến nghị 2 - Hoàn thiện phương pháp ghi sổ kế toán............................103 3.3.3 Kiến nghi 3 - Hoàn thiện hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.....103 3.3.4 Kiến nghị 4 - Hoàn thiện hạch toán chi phí nhân công trực tiếp.............104 3.3.5 Kiến nghị 5 - Hoàn thiện về Bảng tổng hợp chi phí cho các đối tượng công trình hoàn thành......................................................................................104 3.3.6 Kiến nghị 6 - Hoàn thiện sự vận dụng kế toán quản trị trong công tác quản lý ......................................................................................................................... 105 SV: Lê Thị Hiền Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XẤY LẮP 1.1 Sự cần thiết và nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1.1.1 Đặc điểm của Doanh nghiệp xây lắp ảnh hưởng đến kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Sản xuất xây lắp là một ngành có tính chất công nghiệp. Tuy nhiên, đó là một ngành sản xuất công nghiệp đặc biệt. sản phẩm của XDXB cũng được tiến hành sảm xuất một cách liên tục, từ khâu thăm dò, điều tra khảo sát đến thiết kế thi công và quyết toán công trình khi hoàn thành. Sản xuất XDCB có các khâu của hoạt động sản xuất có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nếu một khâu ngừng trệ sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các khâu khác Sản xuất xây lắp có đặc điểm: _ Sản phẩm xây lắp mang tính riêng lẻ: Sản phẩm sản xuất xây lắp không có sản phẩm nào giống nhau, mỗi sản phẩm khác nhau về yều cầu về mặt thiết kế mỹ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng. Chính vì vậy, mỗi sản phẩm xây lắp đều có yêu cầu về tổ chức quản lý, tổ chức thi công và biện pháp thi công phù hợp với đặc điểm của từng công trình cụ thể. Có như vậy việc sản xuất thi công mới mang lại hiệu quả cao và bảo đảm cho sản xuất được liên tục. Sản phẩm có tính đơn chiếc và được sản xuất theo đơn đặt hàng nên chi phí bỏ vào sản xuất thi công cũng hoàn toàn khác nhau giữa các công trình, ngay cả khi công trình thi công theo các thiết kế mẫu nhưng được xây dựng ở những địa điểm khác nhau, với các điều kiện thi coogn khác nhau thì chi phí sản xuất cũng khác nhau. Việc tập hợp các chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm và xác định kết quả thi công xây lắp cũng được tính cho từng sản phẩm xây lắp riêng biệt, sản xuất xây lắp được thực hiện theo đơn đặt hàng của khách hàng nên it phát sinh chi phí SV: Lê Thị Hiền 1 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân trong quá trình lưu thông. _Sản phẩm xây lắp thường có thời gian thi công dài, có công trình phải xây dựng hàng chục năm mới hoàn thành. Trong thời gian sản xuất thi công xây dựng chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụng nhiều vật tư, nhân lực của xã hội. Do đó, khi lập kế hoạch XDCB cần cân nhắc, thận trọng rõ các yêu cầu về vật tư, tiền vốn, nhân công. Việc quản lý, theo dõi quá trình sản xuất thi công phải chặt chẽ, thường xuyên, đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm, bảo đảm chất lượng thi công công trình. Do thời gian thi công tương đối dài nên kỳ tính giá thành thường không xác định theo tháng như trong sản xuất công nghiệp mà được xác định theo thời điểm khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành hay thực hiện bàn giao thanh toán theo giai đoạn quy ước tùy thuộc vào kết cấu, đặc điểm kỹ thuật và khả năng về vốn của đơn vị xây lắp. Việc xác định đúng đối tượng tính giá thành sẽ góp phần quan trọng trong việc quản lý chi phí sản xuất thi công và sử dụng đồng vốn có hiệu quả cao nhất. _Thời gian sử dụng sản phẩm xây lắp tương đối dài: Các công trình XDCB thường có thời gian sử dụng dài nên mọi sai lẩm trong quá trình thi công thường khó sửa chữa, phải phá đi làm lại. Sai lầm trong XDCB vừa gây lãng phí, vừa để lại hậu quả nghiêm trọng, lâu dài và khó khắc phục. Do đó, trong quá trình thi công cần phải thường xuyên kiểm tra, giám sát chất lượng công trình. _Sản phẩm xây lắp được sử dụng tại chỗ, địa điểm xây dựng luôn thay đổi theo địa bàn thi công: Khi chọn địa điểm xây dựng phải điều tra nghiên cứu khảo sát thật kỹ về điều kiện kinh tế, địa chất, thủy văn kết hợp với các yêu cầu về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trước mắt cũng như lâu dài. Sau khi đi vào sử dụng, công trình không thể di dời, cho nên, nếu các công trình là nhà máy, xí nghiệp cần nghiên cứu các điều kiện về nguồn cung cấp nguyên vật liệu, nguồn lực lao động, nguồn tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm điều kiện thuận lợi khi công trình đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh sau này. SV: Lê Thị Hiền 2 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân Một công trình XDCB hoàn thành, điều đó có nghĩa là công nhân xây dựng không còm làm việc ở đó nữa, phải chuyền đến thi công ở một công trình khác ở một địa điểm khác. Do đó sẽ phát sinh các chi phí như điều động nhân công, máy móc thi công, chi phí về xây dựng các công trình tạm thời cho công nhân và cho máy móc thi công. Cũng do đặc điểm này mà các đơn vị xây lắp thường sử dụng lực lượng lao động thuê ngoài tại chỗ, nơi thi công công trình để giảm bớt chi phí khi di dời. _Sản xuất XDCB thường diễn ra ở ngoài trời, chịu tác động trực tiếp từ điều kiện môi trường thiên nhiên, thời tiết và do đó việc thi công, xây lắp ở mức độ nào đó mang tính chất thời vụ. Do đặc điểm này, trong quá trình thi công cần tổ chức quản lý lao động, vật tư chặt chẽ, bảo đảm thi công nhanh, đúng tiến độ khi điều kiện môi trường thời tiết thuận lợi. Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi ảnh hưởng đến chất lượng thi công, có thể sẽ phát sinh các khối lượng công trình phải phá đi làm lại và các thiệt hại phát sinh do ngừng sản xuất, doanh nghiệp cần có kế hoạch điều độ cho phủ hợp nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng tích lũy cho doanh nghiệp cũng như Nhà nước. Các đặc điểm nêu trên chi phối đến toàn bộ nội dung tổ chức công tác kế toán ở doanh nghiệ xây lắp từ việc tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức thu thập thông tin qua chế độ chứng từ kế toán, phương pháp ghi nhận thông tin trên các tài khoản, lập và trình bày các báo cáo tài chính cũng như một số phương pháp tính toán liên quan đến chi phí sản xuấ và giá thành sản phẩm 1.1.2 Bản chất, ý nghĩa của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm *Bản chất, ý nghĩa của chi phí sản xuất: Các chi phí phát sinh trong doanh nghiệp bao gồm hai loại: các chi phí bỏ ra để tạo nên một giá trị sử dụng nào đó cũng như thực hiện giá trị sử dụng này và các loại chi phí không liên quan đến việc tạo ra giá trị sử dụng. Sự phân biệt này cần được làm rõ nhằm xác định phạm vi và nội dung của chi phí sản xuất vì không phải chi phí nào mà doanh nghiệp đã đầu tư đều là chi phí sản xuất Chi phí hoạt động của doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác cần thiết mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình hoạt động kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định SV: Lê Thị Hiền 3 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân Chi phí luôn có tính chất cá biệt, bao gồm các chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra để tồn tại và tiến hành hoạt động của mình. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động các nhà quản lý cần phải quan tâm đến chi phí cá biệt của doanh nghiệp mình phải đảm bảo ở mức độ trung bình của xã hội, có như vậy mới có thể đưa ra những quyết định hợp lý Mặt khác, chi phí của doanh nghiệp luôn mang tính hai mặt. Một mặt, chi phí có tính khách quan, nó thể hiện sự chuyển dịch các hao phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra vào giá trị sử dụng được tạo ra, đây là sự chuyển dịch mang tính khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con Tgười. Mặt khác, hao phí về các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh lại mang tính chủ quan do nó phụ thuộc vào phương pháp tính, trình độ quản lý và yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp. Việc nghiên cứu và nhận thức chi phí còn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận trong từng loại kế toán khác nhau _Trên góc độ Kế toán Tài chính: Chi phí được nhìn nhân như những khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động doanh nghiệp để đạt được một sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định. Chí phí được xác định bằng tiền của những lao động sống, lao động vật hóa… trên cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chắc chắn. _Trên góc độ Kế toán Quản trị: Mục đích của Kế toán Quản trị chi phí là cung cấp thông tin chi phí thích hợp, hữu ích, kịp thời cho việc ra quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp. Vì vậy, chi phí còn được nhìn nhận theo phương thức nhận diện thông tin ra quyết định. Khi đó, Kế toán Quản trị cần chú ý đến sự lựa chọn, so sánh theo mục đích sử dụng, môi trường kinh doanh hơn là chú trọng vào chứng minh bằng các chứng từ, chứng cứ. Xuất phát từ mục đích và nguyên tắc kinh doanh trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp luôn quan tâm đến mục tiêu lợi nhuận. Vì vậy, trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần quan tâm đúng mức đến chi phí và chi phí sản xuất để xác định giá bán sản phẩm, xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. *Ý nghĩa, bản chất của giá thành sản phẩm SV: Lê Thị Hiền 4 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân Giá thành sản xuất sản phẩm được xác định bao gồm những chi phí bề lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác dùng để sản xuất hoàn thành một khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định. Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa mang tính chất chủ quan vừa mang tính chất khách quan. Trong hệ thống các chỉ tiêu quản lý của doanh nghiệp, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như tính đúng đắn của những giải pháp quản lý mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm mục đích hạ thấp chi phí, nâng cao lợi nhuận. Về mặt bản chất, chi phí sản xuất và giá thành sản xuất là biểu hiện hai mặt của quá trình sản xuất kinh doanh. Chúng giống nhau về chất vì cùng biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống, lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra, nhưng khác nhau về mặt lượng. Chi phí sản xuất được tính cho một kỳ nhất định; còn giá thành sản phẩm là xác định một lượng chi phí sản xuất nhất định, tính cho một đại lượng kết quả hoàn thành nhất định. Đứng trên góc độ quá trình hoạt động để xem xét thì quá trình sản xuất là một quá trình hoạt động liên tục còn việc tính giá thành sản phẩm thực hiện tại một thời điểm có tính chất chu kỳ để so sánh chi phí với khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành. Tại thời điểm tính giá thành có thể có một khối lượng sản phẩm chưa hoàn thành chứa đựng một lượng chi phí cho nó. Như vậy, giá thành sản xuất được tính như sau: Giá thành sản xuất = CPSX phát CPSX dở dang đầu kỳ _ CPSX dở + sinh trong kỳ dang cuối kỳ Hơn nữa, giá thành sản phẩm mang tính chất chủ quan, việc giới hạn chi phí tính vào giá thành sản phẩm phụ thuộc vào quan điểm tính toán xác định chi phí, doanh thu và kết quả, cũng như những quy định của chế độ quản lý kinh tế - tài chính, chế độ kế toán hiện hành. 1.1.3 Yêu cầu quản lý đối với chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Một trong những thông tin quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp là các thông tin về chi phí, vì mỗi khi chi phí tăng thêm sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận. Do vậy, các nhà quản lý cần kiểm soát chặt chẽ chi phí của doanh SV: Lê Thị Hiền 5 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân nghiệp. Điều này cũng đúng với giá thành sản phẩm, vì chi phí và giá thành là hai mặt của một quá trình. Do chi phí sản xuất phản ánh hao phí sản xuất còn giá thành phản ánh kết quả sản xuất nên việc quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phải đứng trên quan điểm hiệu quả sản xuất, tức là phải quản lý về mặt giá trị bao gồm cả chi phí trực tiếp và gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, các giá thành dự toán, kế hoạch, thực tế. Các loại chi phí này phải được theo dõi và quản lý trên hệ thống sổ sách của doanh nghiệp. Để làm được điều này, mỗi sản phẩm (mỗi công trình) phải có một bộ hồ sơ riêng (bao gồm: Hợp đồng, hóa đơn mua vật tư, các chứng từ thanh toán lương, các chứng từ khác theo quy định hiện hành), các khoản mục chi phí lại phải được tập hợp theo dõi theo từng đối tượng hạch toán và phải được phản ánh trên các sổ chi tiết chi phí và tính giá thành của doanh nghiệp. Đồng thời, doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra tình hình sử dụng chi phí, phát hiện những lãng phí, sai phạm để có thể kịp thời xử lý. Như vậy, trong việc quản lý chi phí và giá thành sản phẩm người quản lý doanh nghiệp phải luôn nắm được nguồn gốc phát sinh chi phí, nội dung, tính chất của từng khoản mục chi phí, các định mức chi phí tại doanh nghiệp, các nguyên nhân dẫn đến sự tăng giảm chi phí tại doanh nghiệp, cũng như các tình hình thực hiện các kế hoạch giá thành tại doanh nghiệp. 1.1.4 Sự cần thiết và nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1.1.4.1 Sự cần thiết của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, xây dựng cơ bản là ngành sản xuất quan trọng mang tính chất công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân. Một bộ phận không nhỏ của thu nhập quốc dân, của quỹ tích lũy cùng với vốn đầu tư của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực xây dựn cơ bản. so với các ngành sản xuất khác, ngành xây dựng có những đặc điểm về kinh tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình sản xuất ra sản phẩm của ngành. Điều này đã chi phối đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp. Công tác kế toán vừa phải đáp ứng yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ kế toán của doanh nghiệp SV: Lê Thị Hiền 6 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân sản xuất, vừa phải bảo đảm phù hợp với đặc thù của loại hình doanh nghiệp xây lắp. Hơn nữa, cạnh tranh trong xây dựng ngày càng gay gắt, đòi hỏi các doanh nghiệp xây lắp không ngừng đổi mới, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, giá thành sản phẩm. Để thực hiện được điều này, yêu cầu đặt ra đối với công tác kế toán là thực hiện tốt kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp. Bởi nó cho phép tính toán một cách chính xác, đầy đủ, khách quan các khoản mục chi phí đã bỏ ra, cung cấp số liệu cần thiết để phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp. Việc phân tích đúng đắn kết quả hoạt động kinh doanh chỉ có thể dựa trên giá thành chính xác. Giá thành lại chịu ảnh hưởng của kết quả tập hợp chi phí sản xuất xây lắp. Tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm xây lắp là cơ sở để xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, việc xác định đúng nội dung, phạm vi chi phí cấu thành trong giá thành sản phẩm cũng như lượng giá trị các yếu tố chi phí đã dịch chuyển vào giá thành sản phẩm hoàn thành giúp doanh nghiệp có thể giám sát hoạt động, khắc phục những tồn tại, phát huy những tiềm năng thế mạnh của mình thì việc tổ chức tốt công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp là yêu cầu cấp thiết đối với các doanh nghiệp xây lắp. 1.1.4.2 Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Kế toán chi phí sản xuất và giá thành trong các đơn vị sản xuất có vai trò đặc biệt quan trọng, nó là điều kiện để phân tích, đánh giá, tổ chức quản lý và sản xuất hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, đảm bảo cho sự tồn tại lâu dài của doanh nghiệp. Để phát huy được vai trò của mình, việc tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phải đạt được những yêu cầu sau: - Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ, đặc điểm chi phí, đặc điểm của sản phẩm, yêu cầu tổ chức sản xuất và yêu cầu của công tác quản lý của doanh nghiệp mà xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành, lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí, phương pháp tính giá thành phù hợp với doanh nghiệp. - Tổ chức tập hợp và phân bổ từng loại chi phí sản xuất theo đúng đối tượng tập hợp chi phí đã xác định bằng các phương pháp thích hợp đối với từng loại chi phí, tập hợp chi phí sản xuất theo các khoản mục chi phí và theo yếu tố chi phí quy SV: Lê Thị Hiền 7 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân định. - Thực hiện tổ chức chứng từ, hệ thống tài khoản, sổ kế toán phù hợp với nguyên tắc chuẩn mực, chế độ kế toán đảm bảo đáp ứng được yêu cầu thu nhận, xử lý, hệ thống hóa thông tin về chi phí, giá thành sản phẩm. - Thường xuyên kiểm tra, đối chiếu và định kỳ phân tích tình hình thực hiện các định mức chi phí đối với chi phí trực tiếp, các dự toán chi phí đối với chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng, đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý và tiết kiệm chi phí, phục vụ yêu cầu hạch toán kinh tế. - Tổ chức lập và phân tích báo cáo về chi phí và giá thành sản phẩm dịch vụ, cung cấp những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp ra được các quy định một cách nhanh chóng, phù hợp với quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm xây lắp. 1.2 Nội dung kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1.2.1 Nội dung của kế toán chi phí sản xuất 1.2.1.1 Phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất trong đơn vị xây lắp thường được phân loại theo cá tiêu thức sau: *Phân loại chi phí sản xuất xây lắp theo mục đích, công dụng của chi phí Do yêu cầu quản lý và đặc điểm của việc lập dự toán chi phí trong lĩnh vực sản xuất xây lắp là lập dự toán cho từng công trình, hạng mục công trình xây lắp theo từng khoản mục chi phí, nên chi phí sản xuất xây lắp cần được phân loại căn cứ vào mục đích, công dụng của chi phí. Theo quy định hiện hành, toàn bộ chi phí sản xuất xây lắp được chia thành các khoản mục chi phí: _Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Gồm tất cả các chi phí về nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho thi công xây lắp. _Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm tiền lương, các khoản phụ cấp của công nhân trực tiếp tham gia công tác thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị. Chi phí nhân công không bao gồm các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp thi công xây lắp và cũng không tính tiền ăn giữa ca của công nhân viên trực tiếp xây lắp. _Chi phí sử dụng máy thi công: đối với trường hợp doanh nghiệp thực hiện SV: Lê Thị Hiền 8 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân việc xây lắp theo phương thức thi công hỗn hợp vừa thi công bằng thủ công vừa thi công bằng máy móc, trong giá thành sản phẩm xây lắp còn có khoản mục chi phí sử dụng máy thi công. Chi phí sử dụng máy thi công gồm các chi phí trực tiếp liên quan đến việc sử dụng máy thi công như: Tiền lương của công nhân điều khiển máy móc thi công; Chi phí khấu hao TSCĐ là máy thi công; Chi phí về CCDC dùng cho máy thi công; Chi phí về sửa chữa, bảo trì, điện nước cho máy thi công, tiền thuê TSCĐ, chi phí trả cho nhà thầu phụ; Các khoản chi phí khác liên quan đến việc sử dụng may móc thi công kể cả các khoản chi cho lao động nữ; Chi phí sử dụng máy thi công không bao gồm các khoản trích theo lương của công nhân điều khiển máy thi công Trường hợp doanh nghiệp thi công toàn bằng thủ công hoặc thi công toàn bằng máy, các chi phí phát sinh không đưa vào khoản mục chi phí sử dụng máy thi công mà được xem là chi phí sản xuất chung. _Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung là các chi phí trực tiếp khác ngoài chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và các chi phí về quản lý, tổ chức phục vụ sản xuất xây lắp,các chi phí có tính chất chung cho hoạt động xây lắp gắn liền với từng đơn vị thi công như tổ, đội, công trường thi công. Chi phí sản chung bao gồm các khoản chi phí sau: + Chi phí nhân viên phân xưởng: Gồm tiền lương chính, tiền lương phụ, phụ cấp lương, phụ cấp lưu động, phải trả cho nhân viên quản lý đội xây dựng, tiền ăn giữa ca của nhân viên quản lý đội xây dựng và của công nhân xây lắp; Khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp xây lắp, nhân viên sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý đội thuộc biên chế của doanh nghiệp. + Chi phí vật liệu gồm chi phí vật liệu cho đội xây dựng như: vật liệu dùng để bảo dưỡng, sửa chữa TSCĐ, công cụ, dụng cụ thuộc đội xây dựng quản lý và sử dụng, chi phí lán trại tạm thời. Trường hợp vật liệu mua ngoài xuất thẳng cho đội xây dựng, nếu doanh nghiệp được khấu trừ thuế thì chi phí vât liệu không bao gồm thuế GTGT đầu vào. + Chi phí dụng cụ sản xuất xây lắp: Gồm các chi phí về CCDC dùng cho thi SV: Lê Thị Hiền 9 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân công như cuốc, xẻng, dụng cụ cầm tay, xe đẩy, đà giáo, ván khuôn và các loại CCDC khác dùng cho sản xuất và quản lý đội. + Chi phí khấu hao TSCĐ gồm chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động sản xuất của đội xây dựng Trong trường hợp doanh nghiệp tổ chức thi công hỗn hợp vừa thủ công vừa bằng máy, khoản chi phí khấu hao máy móc thi công được tính vào chi phí sử dụng máy thi công chứ không tính vào chi phí sản xuất chung. * Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp được chia thành các yếu tố chi phí sau: + Chi phí nguyên vật liệu: Là chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ mà doanh nghiệp đã sử dụng và tính vào chi phí sản xuất trong kỳ. + Chi phí nhân công: Là toàn bộ số tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất, công nhân sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý sản xuất ở các bộ phận, đội sản xuất. + Chi phí khấu hao TSCĐ: Là số tiền trích khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp. + Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp xây lắp chi trả cho các loại dịch vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất như tiền điện, tiền điện thoại, fax, tiền nước, internet… + Chi phí bằng tiền khác: gồm các chi phí khác chi ra bằng tiền cho hoạt động sản xuất ngoài 4 yếu tố trên. * Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất vào các đối tượng chịu chi phí Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất được chia làm 2 loại: _ Chi phí trực tiếp: Là các chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với từng đối tượng chịu chi phí ( từng loại sản phẩm được sản xuất, từng công việc được thực hiện… như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp). Các chi phí này được kế toán căn cứ trực tiếp vào các chứng từ phản ánh để tập hợp trực SV: Lê Thị Hiền 10 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân tiếp cho từng đối tượng liên quan. _ Chi phí gián tiếp: Là những chi phí sản xuất liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí ( chi phí sử dụng máy thi công, chi phí chung), chúng cần được tiến hành phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí theo tiêu thức phân bổ thích hợp. Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp tập hợp và phân bổ nguồn lực đã tiêu dùng cho các đối tượng chịu chi phí thuần túy là kỹ thuật hạch toán. Đối với chi phí liên quan đến nhiều đối tượng cần tiến hành phân bổ có thể cho phép đạt được mục tiêu xác định giá thành của một loại sản phẩm nhất định, nhưng khó có thể đạt được mục tiêu kiểm soát chi phí. 1.2.1.2 Đối tượng kế toán chi phí sản xuất Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh ở nhiều địa điểm khác nhau và liên quan đến việc sản xuất chế tạo nhiều loại sản phẩm khác nhau. Đối với nhà quản trị thì họ cần biết các chi phí đó phát sinh ở đâu? Dùng vào việc sản xuất sản phẩm nào? Hay nói cách khác: Chi phí sản xuất phải được tập hợp theo một phạm vi giới hạn nhất định, đó chính là đối tượng kế toán chi phí sản xuất. Như vậy, đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vị giới hạn để tập hợp chi phí sản xuất vào trong phạm vi giới hạn đó. Việc xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên quan trọng trong kế toán chi phí sản xuất có thể tồn tại dưới hai dạng Dạng 1: Nơi gây ra chi phí ( ví dụ: phân xưởng, bộ phận sản xuất, giai đoạn công nghệ) Dạng 2: Đối tượng gánh chịu chi phí (các sản phẩm hoặc đơn đặt hàng) Trong doanh nghiệp tư vấn xây lắp, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng công trình, hạng mục công trình, từng đội sản xuất, hay đối tượng xây lắp có thiết kế riêng … các chi phí tập hợp theo từng đối tượng, hạch toán chi phí sản xuất xây lắp được chi tiết theo các khoản mục hoặc các yếu tố chi phí sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý và tính giá thành sản phẩm. 1.2.1.3 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là cách thức mà kế toán sử dụng để tập hợp và phân loại các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong một thời kỳ theo các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định. Hay nói cách khác là căn cứ vào các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định, kế toán sẽ mở sổ kế toán để ghi chép SV: Lê Thị Hiền 11 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân phản ánh phân loại tập hợp các chi phí sản xuất cho các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất. Tùy theo khả năng quy nạp của chi phí vào các đối tượng tập hợp chi phí kế toán sẽ áp dụng các phương pháp tập hợp khác nhau. a) Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp. Phương pháp này các chi phí có liên quan trực tiếp đến các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất sẽ được tập hợp trực tiếp cho đối tượng đó. Như vậy, đối với doanh nghiệp xây lắp phương pháp này áp dụng trong trường hợp chi phí có liên quan trực tiếp đến từng công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây lắp bàn giao như là các chi phí nhân công trực tiếp, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Do đó yêu cầu kế toán phải tổ chức công tác hạch toán một cách cụ thể, tỷ mỉ từ khâu lập chứng từ ban đầu, có thể căn cứ vào chứng từ ban đầu để hạch toán cho từng đối tượng tập hợp chi phí. b) Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp. Phương pháp này được áp dụng để tập hợp các chi phí gián tiếp, tức là các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí đã xác định mà kế toán không thể tập hợp trực tiếp các chi phí này cho từng đối tượng được. Việc phân bổ chi phí cho từng đối tượng thường được tiến hành theo hai bước. Bước 1: Xác định hệ sốố phân bổ chi phí theo cống thức C T Trong đó: H: là hệ số phân bổ chi phí C: là tổng số chi phí cần phân bổ T: là tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ Bước 2: Xác định chi phí cần phân bổ cho từng đối tượng kế toán tập hợp chi H = phí cụ thể Ci = H * Ti Trong đó: Ci: là phần chi phí phân bổ cho đối tượng kế toán tập hợp chi phí i Ti: là đại lượng tiêu chuẩn phân bổ dùng để phân bổ chi phí của đối tượng i i : có thể là công trình, hạng mục công trình hoặc đơn đặt hàng. Đối với doanh nghiệp tư vấn xây lắp phương pháp này áp dụng trong trường hợp hạng mục công trình có thiết kế khác nhau nhưng cùng thi công trên cùng một địa điểm do một công trình đảm nhận nhưng không có điều kiện quản lý, theo dõi việc sử dụng các loại chi phí khác nhau cho từng hạng mục công trình thì từng loại chi phí đã tập hợp cho toàn công trình đều phải tiến hành phân bổ cho từng hạng SV: Lê Thị Hiền 12 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân mục công trình theo tiêu thức hợp lý. 1.2.1.4 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất a)Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. * Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm toàn bộ các khoản chi phí về nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài hoặc vật liệu phụ sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường chiểm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường được quản lý theo các định mức chi phí do doanh nghiệp xây dựng. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế trong kỳ được xác định căn cứ vào các yếu tố sau: - Trị giá nguyên vật liệu xuất dùng cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện các lao vụ dịch vụ trong kỳ. - Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp còn lại đầu kỳ ở các bộ phận, phân xưởng sản xuất. - Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp còn lại cuối kỳ ở các bộ phận, phân xưởng sản xuất. - Trị giá phế liệu thu hồi (nếu có) * Tài khoản sử dụng Để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản “TK 621 - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” Tài khoản này được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình. Kết cấu chủ yếu của tài khoản này như sau: - Bên Nợ: Phản ánh giá vốn nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng cho hoạt động xây lắp, sản xuất công nghiệp, kinh doanh dịch vụ trong kỳ hạch toán. - Bên Có: + Trị giá NVL trực tiếp sử dụng không hết nhập kho, phế liệu thu hồi + Kết chuyển hoặc tính phân bổ trị giá nguyên vật liệu thực tế sử dụng cho hoạt động xây lắp trong kỳ vào TK 154 để tính giá thành công trình xây lắp, giá thành sản phẩm, dịch vụ, lao vụ. - Cuối kỳ tài khoản này không có số dư. *Sơ đồ kế toán: SV: Lê Thị Hiền 13 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân (5) Gía trị NVL không sử dụng hết cuối kỳ nhập kho TK 152 TK 621 (1) Xuất NVL dùng trực tiếp Sx Theo giá thực tế TK 111, 112, 331… (2) Mua NVL đưa thẳng vào SX VAT TK 111, 112, 152… TK 133 TK 141 (3) Tạm ứng CP XL giao khoán (4) Quyết toán giá trị Phần tính vào CP Nội bộ KL đã tạm ứng NVL TT b) Kế toán chi phí nhân công trực tiếp. * Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền cho nhân công trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các loại lao vụ dịch vụ bao gồm tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương, tiền thưởng. Thông thường chi phí nhân công trực tiếp khi tập hợp thì áp dụng phương pháp tập hợp trực tiếp. Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt có thể áp dụng phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp. Khi đó tiêu chuẩn phân bổ có thể là: chi phí tiền lương định mức hoặc kế hoạch hoặc giờ công định mức giờ công thực tế hoặc khối lượng sản phẩm sản xuất ra. * Tài khoản sử dụng Để hạch toán chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản “TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp” Tài khoản này có kết cấu như sau: - Bên Nợ: Phản ánh chi phí nhân công trực tiếp phát sinh trong kỳ. SV: Lê Thị Hiền 14 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân - Bên Có: + Chi phí nhân công trực tiếp được phép ghi giảm không tính vào giá thành + Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào bên nợ TK 154-Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang để tính giá thành sản phẩm - Cuối kỳ tài khoản này không có số dư. *Sơ đồ kế toán CPNCTT TK 334 TK 335 (3) Tiền lương nghỉ phép phải trả TK622 (2) Trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp SX xây lắp (1) Tiền lương phải trả cho công nhân sản xuất SPXL (4) Tiền lương phải trả cho lao động thuê ngoài TK 111, 112 TK 141 (5) Tạm ứng tiền công cho các đơn vị nhận khoán KLXL (6) Thanh toán giá trị nhân công nhận khoán theo bảng quyết toán c) Kế toán chi phí sử dụng máy thi công * Kế toán tập hợp chi phí sử dụng máy thi công hạch toán chi phí sử dụng máy thi công phụ thuộc vào hình thức sử dụng máy thi công: Tổ chức đội máy thi công riêng biệt chuyên thực hiện các khối lượng thi công bằng máy hoặc giao máy thi công cho các đội, xí nghiệp xây lắp. nếu doanh nghiệp có tổ chức các đội máy thi công riêng biệt và có phân cấp hạch toán cho đội máy tổ chức hạch toán kế toán riêng, thì tất cả các chi phí liên quan đến hoạt của đội máy thi công được tính vào các khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung chứ không phản ánh vào khoản mục chi phí sử dụng máy thi công. Sau đó các khoản mục này được kết chuyển để tính giá thành cho một ca máy thực hiện và cung cấp cho các đối tượng xây lắp ( công trình, hạng mục công trình). Quan hệ giữa đội máy thi SV: Lê Thị Hiền 15 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân công với đơn vị xây lắp có thể thực hiện theo phương thức cung cấp lao vụ máy thi công với đơn vị xây lắp có thể thực hiện theo phương thức cung cấp lao vụ máy lẫn nhau giữa các bộ phận, hay có thể thực hiện theo phương thức bán lao vụ máy lẫn nhau giữa các bộ phận trong nội bộ. nếu doanh nghiệp không tổ chức các đội máy thi công riêng biệt, hoặc có tổ chức đội máy thi công riêng biệt nhưng không tổ chức kế toán riêng cho đội máy thi công, thực hiện phương thức thi công hỗn hợp, vừa thủ công vừa bằng máy, thì các chi phí liên quan tới đội máy thi công được tính vào khoản mục chi phí sử dụng máy thi công. Sau đó rính phân bổ chi phí sử dụng máy thi công thực tế ch từng công trình, hạng mục công trình. Để hạch toán chi phí sử dụng máy thi công, hàng ngày các đội xe máy phải lập “ nhật trình xe máy” hoặc “ phiếu theo dõi hoạt động xe máy thi công”. Định kỳ, kế toán thu hồi các chứng từ trên để tập hợp các chi phí phục vụ cho xe máy thi công, cũng như kết quả thực hiện của từng loại máy, từng nhóm máy hoặc từng máy. Sau đó tính phân bổ chi phí sử dụng máy cho các đối tượng xây lắp. * Tài khoản sử dụng: Để theo dõi và hạch toán chi phí sử dụng máy thi công, kế toán sử dụng tài khoản “TK 623 - Chi phí sử dụng máy thi công” Tài khoản này có kết cấu như sau: - Bên Nợ: Các chi phí liên quan đến máy thi công phát sinh trong kỳ - Bên Có: Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công vào Bên Nợ TK 154 – “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” - Cuối kỳ tài khoản này không có số dư và có 6 TK cấp hai: TK 6231: Chi phí nhân công TK 6232: Chi phí vật liệu TK 6233: Chi phí dụng cụ sản xuất TK 6234: Chi phí khấu hao máy thi TK 6237: Chi phí dịch vụ mua ngoài TK 6238: Chi phí bằng tiền khác SV: Lê Thị Hiền 16 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân * Sơ đồ kế toán CP sử dụng máy thi công Trường hợp cung câp lao vụ máy lẫn nhau giữa các bộ phận TK liên quan TK 621,627,622 TK 154(CT) TK 623 Tập hợp CP thực tê Kết chuyển CP để tính PS giá thành Phân bổ CPSD máy thi công vho các đối tượng XL Trường hợp doanh nghiệp bán lao vụ máy lẫn nhau giữa cá bộ phận TK liên quan TK 621,622,627 Tập hợp CP thực tế PS TK 154(CT) K/c CP để tính giá thành TK 632 Giá thực tế ca máy đã bán cho các bộ phận TK512 TK 623 Gía bán Tính vào CP sử dụng máy TK3331 TK 1331 VAT đầu vào SV: Lê Thị Hiền 17 Chuyên đề cuối khóa GVHD: TS. Trần Thị Ngọc Hân Trường hợp doanh nghiệp không tổ chức các đội máy thi công riêng biệt, hoặc có tổ chức đội máy thi công riêng biệt nhưng không tổ chức riêng cho đội máy thi công TK 334 TK 335 Tiền lương phải trả tiền lương nghỉ phép TK 623 Trích trước vào lương nghỉ phép của công nhân SD máy thi công TK 214 Trích khấu hao máy móc thi công TK 153, 142 CP CCDC cho máy thi công TK 152, 111, 112, 331 CP VL, NL cho máy Theo giá chưa thuế TK 1331 TC TK 111, 112, 331… VAT Các chi phí khác cho Theo giá chưa có thuế Máy thi công TK142 CP tạm thời thực tế PS cho máy Phân bổ CP tạm thời trong kỳ thi công TK 335 CP thực tế SV: Lê Thị Hiền Trích trước CP tạm thời 18
- Xem thêm -