Tài liệu Hoàn thiện công tác tiền lương cho xí nghiệp xe buýt 10-10

  • Số trang: 78 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 57 |
  • Lượt tải: 0
tranbon

Đã đăng 976 tài liệu

Mô tả:

Lời nói đầu Nước ta trong những năm gần đây nền kinh tế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Hoạt động quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công Ých nói riêng cũng có những thay đổi cơ bản về chất. Sù thay đổi cơ bản trong công tác quản lý điều hành ở doanh nghiệp là xác lập quyền tự chủ trong mọi hoạt động kinh doanh của mình. Các doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Đứng trước thực trạng nh- vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những biện pháp nhằm không ngừng nâng cao năng suất lao động cùng với chất lượng sản phẩm và phương thức sản xuất kinh doanh. Đó là điều kiện tồn tại bắt buộc của doanh nghiệp Nhà nước. Chóng ta đã biết một trong ba yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất là lao động, đối tượng lao động và công cụ lao động thì lao động là yếu tố mang tính chất quyết định đến việc tạo ra sản phẩm, kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy các doanh nghiệp đã rất quan tâm đến công tác tổ chức lao động, điều kiện làm việc, sắp xếp lao động cho phù hợp với khả năng, tạo cho họ ý thức, trách nhiệm và sự quan tâm đến kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Để thực hiện được cải tiến này thì cần cải tiến công tác tiền lương cho phù hợp. Song trên thực tế, các vấn đề về tiền lương, thu nhập trong doanh nghiệp có những điểm bất hợp lý.Trước những yêu cầu hiện nay về việc giải quyết vấn đề tiền lương như thế nào để người lao động đưọc trả công xứng đáng với công sức mình bỏ ra. Góp phần nâng tinh thần lao động làm việc. Do đó vấn đề cải tiến công tác tiền lương trong các doanh nghiệp hiện vẫn đang được các doanh nghiệp và Nhà nước quan tâm tìm hướng giải quyết. Mỗi doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh thực tế của mình để có những biện pháp cải tiến cho phù hợp. Đề tài “ Hoàn thiện công tác tiền lương cho xí nghiệp xe buýt 1010” được nghiên cứu nhằm mục đích đề xuất phương án đổi mới công tác lao động tiền lương trên cơ sở các quy định của Nhà nước cho phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp, từng bước nâng cao hiệu quả đòn bẩy kinh tế của tiền lương, cụ thể là đề tài đi sâu vào xây dựng phương án trả lương cho từng loại lao động trong xí nghiệp và lập quỹ tiền lương kế hoạch trên cơ sở điều kiện thực tế, đặc điểm sản xuất kinh doanh và lao động cũng như kết quả thực hiện công tác tiền lương năm 2004 của xí nghiệp. Nội dung chủ yếu của đề tài bao gồm các phần: + Chương I: Tổng quan lý luận chung về công tác lao động tiền lương . + Chương II: Phân tích công tác lao động tiền lương của xí nghiệp xe buýt 10-10. + Chương III: Hoàn thiện công tác tiền lương cho xí nghiệp xe buýt 1010. Để hoàn thành đề tài này em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới: Tất cả các thầy cô giáo trong khoa vận tải - kinh tế và tập thể cán bộ công nhân viên trong xí nghiệp xe buýt 10-10. Chương I Tổng quan lý luận chung về công tác lao động tiền lương 1.1.Tổng quan về lao động: 1.1.1. Khái niệm về lao động. Lao động được hiểu là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên thành những sản phẩm nhất định thoả mãn nhu cầu của con người. Lao động chính là sự kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất để tạo ra những sản phẩm mới cho xã hội, là điều kiện tất yếu để tồn tại và phát triển của loài người. Theo luật lao động ngày 15/7/1995. Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực của con người dùng trong quá trình sản xuất. Đối tượng lao động được coi là một trong 3 yếu tố của quy trình lao động, là những vật trong tự nhiên mà sức lao động (của con người ) tác động vào nó (trực tiếp hay gián tiếp ), cải biến nó thành sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu của con người. Tư liệu lao động là một hoặc một hệ thống vật làm trung gian để thông qua nó, sức lao động tác động vào đối tượng lao động biến đổi nó theo ý muốn. 1.1.2. Khái niệm về năng suất lao động và tăng năng suất lao động. a. Khái niệm năng suất lao động: Năng suất lao động là một phạm trù kinh tế phản ánh hiệu quả và kết quả sử dụng lao động sống. Dưới dạng trung gian nhất, năng suất lao động là một chỉ tiêu phản ánh năng lực của một lao động cụ thể (một tập thể người lao động, một nhóm người lao động hoặc một người lao động) có thể sản xuất ra một số lượng sản phẩm nhất định trong một đơn vị thời gian (giê, ngày, tháng, năm). Tăng năng suất lao động là thông qua việc thay đổi cách thức lao động (Thay đổi công cụ lao động hay phương pháp lao động hoặc cả hai) để làm tăng thêm số lượng sản phẩm sản suất ra trong một đơn vị thời gian hoặc giảm lượng lao động tiêu hao trên một đơn vị sản phẩm. Dưới dạng chung nhất năng suất lao động được xác định dưới dạng sau: Kết quả lao động hoặc hiệu quả lao động. Wlđ = Số lượng lao động b.Tăng năng suất lao động: Tăng năng suất lao động là nâng cao hiệu quả năng lực lao động của con người trong một đơn vị thời gian. Nó được biểu hiện bằng sự tăng thêm số lượng sản phẩm do lao động sáng tạo ra trong một đơn vị sản phẩm hoặc giảm bớt thời gian hao phí để tạo ra một đơn vị sản phẩm. 1.1.3. Tổ chức lao động và tổ chức lao động khoa học: a.Tổ chức lao động: Tổ chức lao động là tổ chức quá trình hoạt động của con người tác động lên đối tượng lao động trong sự kết hợp giữa ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất nhằm đạt được mục đích của quá trình đó. Trong phạm vi một tập thể, tổ chức lao động là hệ thống các biện pháp nhằm đảm bảo cho hoạt động của con người đạt năng suất lao động cao và sử dụng đầy đủ nhất tư liệu sản xuất. Tổ chức lao động giữ một vai trò quan trọng trong tổ chức sản xuất, là điều kiện tất yếu của bất kỳ doanh nghiệp nào. b.Tổ chức lao động khoa học: Tổ chức lao động khoa học là việc tổ chức lao động dùa trên cơ sở những thành tựu khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất, áp dụng chúng một cách có hệ thống vào sản xuất, cho phép kết hợp một cách tốt nhất giữa kỹ thuật và con người . Trong quá trình sản xuất đảm bảo sử dụng có hiệu quả các dự trữ về vật chất và lao động , không ngừng nâng cao năng suất lao động, đảm bảo và nâng cao khả năng làm việc của con người làm cho họ say mê hứng thó làm việc. Tổ chức lao động khoa học là một quá trình sáng tạo không ngừng. Nó luôn luôn phải thay đổi để thích ứng với sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ sản xuất có nghĩa là xem xét tổ chức lao động khoa học trong trạng thái mở. 1.1.4. Định mức lao động. Định mức lao động là sự quy định số lượng lao động sống hao phí để hoàn thành một công việc nhất định trong sản xuất theo tiêu chuẩn quy định trong điều kiện lao động cụ thể. Số lượng lao động hao phí đó gọi là mức lao động. Định mức lao động trong doanh nghiệp Nhà nước là cơ sở để kế hoạch hoá lao động phù hợp với quy trình công nghệ, phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Định mức lao động xác định được số lượng lao động sống làm cơ sở để xây dựng đơn giá tiền lương và trả lương gắn với năng suất, chất lượng và kết quả công việc của người lao động. Trong doanh nghiệp vận tải định mức lao động bao gồm:  Định mức lao động cho lái phụ xe.  Định mức lao động trong công tác xếp dỡ.  Định mức lao động trong công tác bảo dưỡng kỹ thuật và sữa chữa phương tiện… 1.1.5. Chế độ sử dụng lao động trong doanh nghiệp: Việc sử dụng lao động trong doanh nghiệp phải tuân theo bộ luật lao động và chính sách chung của nhà nước. + Đảm bảo điều kiện lao động cần thiết cho người lao động. + Phải đảm bảo điều kiện an toàn cho người lao động. + Đảm bảo chế độ lao động nghỉ ngơi hợp lý. + Đảm bảo mức tiền lương cho người lao động không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. +Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ ký kết hợp đồng với từng cá nhân cụ thể. 1.1.6.Phân loại lao động: Tuỳ theo mục đích quản lý mà lao động trong doanh nghiệp có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Thông thường để phục vụ cho công tác tổ chức quản lý , lao động được phân loại theo các tiêu thức sau:  Theo nghề nghiệp.  Theo trình độ.  Theo tính chất tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.  Theo chế độ sử dụng lao động. Trong doanh nghiệp vận tải lao động được phân loại nh- sau: a.Theo nghề nghiệp:  Lái phô xe.  Thợ bảo dưỡng sửa chữa .  Nhân viên kỹ thuật .  Lao động quản lý.  Lao động khác. b.Theo trình độ:  Lao động đã qua đào tạo(sau đại học, đại học, trung cấp).  Lao động chưa qua đào tạo. c.Theo tính chất tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh:  Lao động trực tiếp:  Lao động sản xuất chính.  Lao động sản xuất phụ.  Lao động gián tiếp. d. Theo chế độ sử dụng lao động:  Lao động theo hợp đồng dài hạn.  Lao động theo hợp đồng ngắn hạn.  Lao động thời vô. 1.2. Các vấn đề chung về tiền lương: 1.2.1. Một số khái niệm: a. Tiền lương: Trong nền kinh tế hàng hoá và cơ chế thị trường thì sức lao động là một loại hàng hoá của thị trường. Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thoả thuận giữa người có sức lao động và người sử dông lao động. Sự thoả thuận này được thực hiện bằng hợp đồng. Mặt khác tiền lương phải đảm bảo nguồn thu nhập, nguồn sống chủ yếu của bản thân, gia đình người lao động. Với ý nghĩa đó, tiền lương trong cơ chế thị trường là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả của hàng hoá sức lao động được hình thành trong thị trường sức lao động xác định về mặt thời gian và không gian, tuân theo các nguyên tắc cung cầu giá cả của thị trường và pháp luật hiện hành của Nhà nước. Người ta phân biệt các khái niệm: Tiền lương danh nghĩa, tiền lương thực tế, tiền lương tối thiểu và tiền lương kinh tế nh- sau: + Tiền lương danh nghĩa: Là khái niệm chỉ số lượng tiền tệ mà người sử dụng sức lao động trả cho người cung ứng sức lao động căn cứ vào hợp đồng thoả thuận giữa hai bên trong việc thuê lao động. + Tiền lương thực tế: Là số lượng tư liệu sinh hoạt và dịch vô mà người lao động có thể mua được bằng tiền lương danh nghiã của mình theo giá thị trường, sau khi đã nép các khoản theo quy định, để tái sản xuất sức lao động. + Tiền lương tối thiểu (Theo điều 56 của bộ luật lao động): Mức lương tối thiểu được quy định theo giá sinh hoạt, đảm bảo cho người lao động làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác. + Tiền lương kinh tế: Là một khái niệm của kinh tế học. Các doanh nghiệp muốn có được sự cung ứng lao động nh- yêu cầu, cần phải trả mức lương cao hơn so với mức lương tối thiểu, tiền lương trả thêm vào mức lương tối thiểu. Để đạt được yêu cầu của sự cung ứng sức lao động gọi là tiền lương kinh tế. Vì vậy có người quan niệm tiền lương kinh tế giống nh- tiền thưởng thuần tuý cho những người đã hài lòng cung ứng sức lao động cho doanh nghiệp nào đó, với các điều kiện mà người thuê lao động yêu cầu. + Lương chính: là lương trả theo thời gian làm việc và theo ngành nghề người lao động. + Lương phụ: là lương trả theo thời gian không làm việc nhưng được hưởng theo chế độ hoặc làm những công việc phụ không phải nghề chính của người lao động. b. Phụ cấp: Phụ cấp là khoản tiền lương bổ sung vào khoản chính. Có ba nhóm phụ cấp sau: - Nhóm phụ cấp có tính chất đền bù: Nhằm đền bù những hao phí lao động trong điều kiện lao động đặc biệt hoặc những yếu tố ngành nghề đặc biệt mà chưa có trong chế độ lương chung nh-: phô cấp độc hại, phụ cấp thêm giê, phụ cấp nguy hiểm. - Nhóm phụ cấp mang tính chất ưu đãi: nh- phô cấp thâm niên, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp vượt khung. - Nhóm phụ cấp mang tính chất thu hót: Là phụ cấp khu vực có tác dụng thu hót nguồn nhân lực làm việc ở những nơi có điều kiện sống và sinh hoạt khó khăn hơn ở những khu phố lớn và đô thị. c. Tiền thưởng: Là khoản bổ sung cho tiền lương nhằm quán triệt hơn nữa cách trả lương theo lao động để tăng giá trị đúng bằng giá trị lao động thực tế của người lao động bỏ ra. Doanh nghiệp có thể áp dụng nhiều hình thức như: thưởng sáng kiến, thưởng tiết kiệm, thưởng nâng cao chất lượng, an toàn lao động, tăng năng suất lao động... Đồng thời doanh ngihệp còn sử dụng tiền thưởng như một công cụ để kích thích người lao động nâưng cao năng suất lao động và hiệu suất công tác. Tiền thưởng có các khoản đưa vào tiền lương nh- thưởng nâng cao nâng cao năng suất, tiền thưởng từ nguồn ngoài tiiền lương. Thường được trích từ lợi nhuận, làm lợi từ phần nào thì lấy nguồn đó để trả lương cho người lao động. d. Thu nhập: Thu nhập là những khoản tiền mà ngoài tiền lương còn có các khoản tiền thưởng, tiền chia lãi và các khoản khác. Thu nhập còn được phân biệt theo thu nhập trong doanh nghiệp và thu nhập ngoài doanh nghiệp, thu nhập chính đáng hay thu nhập không chính đáng (thu nhập hợp pháp hay không hợp pháp). Hiện nay ở một số doanh nghiệp, người lao động không chủ yếu bằng tiền lương mà bằng thu nhập từ ngoài doanh nghiệp. Có những trường hợp tiền thưởng nhiều hơn tiền lương, thu nhập ngoài doanh nghiệp lớn hơn thu nhập trong doanh nghiệp. Điều đó thể hiện công tác trả lương hiện nay còn nhiều bất cập. Vì vậy vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp phải tìm cho được biện pháp trả lương hợp lý đảm bảo cho người lao động sống chủ yếu bằng tiền lương, để họ yên tâm làm việc từ đó nâng cao hiệu quả chung của doanh nghiệp. 1.2.2. Vai trò của tiền lương: a. Vai trò của tiền lương: Vai trò của tiền lương được thể hiện trên các mặt sau: + Về kinh tế: Tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh tế gia đình.Tiền lương là nguồn thu nhập thường xuyên và tương đối ổn định. Người lao động dùng tiền lương để trang trải các chi phí trong gia đình, phần còn lại để tích luỹ. Nếu được nh- thế sẽ tạo điều kiện cho người lao động yên tâm làm việc, ngược lại sẽ làm cho cuộc sống của họ không được đảm bảo, gây tâm lý bất ổn, ảnh hưởng đến hiệu quả và kết quả sản xuất. + Về chính trị và xã hội: Tiền lương ảnh hưởng đến tâm tư người lao động không chỉ đối với doanh nghiệp mà cả môi trường sống xung quanh. Ngược lại sẽ xuất hiện những ảnh hưởng không tốt, nẩy sinh mâu thuẫn và họ phải giải quyết vấn từ đó xuất hiện những tiêu cực trong doanh nghiệp, ngoài xã hội, tệ nạn ngày càng nhiều. b. Chức năng của tiền lương: Bao gồm 4 chức năng cơ bản sau: + Đảm bảo đủ chi phí để tái sản xuất sức lao động: Đây là yêu cầu thấp nhất của tiền lương phải nuôi sống người lao động và duy trì sức lao động của họ. + Đảm bảo vai trò kích thích của tiền lương: Vì sự thúc Ðp của tiền lương, người lao động phải có trách nhiệm cao với công việc. + Tiền lương phải tạo ra niềm say mê với nghề nghiệp, đảm bảo không ngừng nâng cao bồi dưỡng trình độ về mọi mặt cho người lao động. + Đảm bảo vai trò điều tiết trong lao động: tiền lương có tác dụng thu hót lao động, phân bổ về số lượng và chất lượng lao động giữa các vùng. Do đó, với tiền lương thoả đáng người lao động sẽ tình nguyện nhận mọi công việc được giao dù ở đâu và bất cứ việc gì. Vai trò quản lý lao động của tiền lương và là đòn bẩy kinh tế quan trọng doanh nghiệp sử dụng tiền lương không chỉ với mục đích tạo điều kiện vật chất cho người lao động mà còn có mục đích khác nữa là thông qua việc trả lương để theo dõi kiểm tra giám sát người lao động làm theo ý đồ của mình, đảm bảo lương chi ra phải đem lại hiệu quả cao nhất. Để phát huy tác dụng đòn bẩy kinh tế của tiền lương cần thống nhất các lợi Ých của doanh nghiệp và xã hội mới nâng cao được chức năng của tiền lương. 1.2.3.Nguyên tắc trả lương: Việc trả lương cho người lao động phải đảm bảo thực hiện những yêu cầu cơ bản sau: + Trả lương theo đúng giá trị sức lao động. + Đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động phải tăng nhanh hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân. + Thực hiện đúng chính sách vÒ chế độ lao động tiền lương của Nhà nước quy định. + Không ngừng nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho người lao động. + Đảm bảo tính đơn giản ,dễ dàng dễ hiểu... Để đảm bảo các yêu cầu trên,việc trả lương phải đảm bảo các yêu cầu sau : a. Đảm bảo trả lương ngang nhau cho lao động nh- nhau: Nguyên tắc này bắt đầu từ nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động. Trả lương ngang nhau cho lao động nh- nhau có nghĩa là khi quy định và thực hiện chế độ tiền lương nhất thiết không phân biệt giới tính tuổi tác, dân téc... b. Đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động phải tăng nhanh hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân: Quy định năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân đây là một nguyên tắc quan trọng khi tổ chức lao động tiền lương. Cã nh- vậy mới tạo cơ sở cho việc giảm giá thành và tăng tích luỹ. Mét khi năng suất lao động tăng lên, sản phẩm ngày càng nhiều với chất lượng tốt hơn và rẻ hơn thì tiền lương bình quân cũng sẽ tăng lên ngược lại tiền lương bình quân tăng lên có tác dụng thóc đẩy tăng năng suất lao động. Trong mối quan hệ này thì năng suất lao động giữ vai trò chủ đạo quyết định còn tiền lương bình quân giữ vai trò bổ sung. c. Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa lao động làm các nghề khác nhau. Mét trong những nguyên tắc quan trọng của tổ chức lao động tiền lương là phải quy định và giữ vững mối quan hệ hợp lý về tiền lương của người lao động làm các ngành nghề khác nhau trong ngành kinh tế quốc dân. Lao động có trình độ kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, lao động ở các ngành nghề nặng nhọc độc hại ở những vùng có nhiều khó khăn hơn nói chung phải được ưu đãi thoả đáng. d. Đảm bảo mối quan hệ hợp lý giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế: Vì sức lao động cũng là hàng hoá, do đó nó cũng chịu sự tác động của quy luật này. Mặt khác tiền lương thực tế được biểu hiện bằng số lượng tư liệu sinh hoạt và dịch vụ mà người lao động mua được bằng tiền lương danh nghĩa, NÕu giữa chóng không có sự phù hợp thì có nghĩa là tự phá vỡ mối quan hệ cung – cầu, nó sẽ kìm hãm sự phát triển của sản xuất xã hội. 1.2.4.Các chế độ tiền lương: Chế độ tiền lương của hệ thống tiền lương là tất cả những văn bản quy định mang tính chất pháp lý của Nhà nước, của Bộ lao động thương binh xã hội về tiền lương. Các doanh nghiệp có thể căn cứ vào đó để trả lương. Những quy định của chế độ tiền lương nhằm xây dựng một hệ thống trả lương có căn cứ khoa học dùa trên số lượng và chất lượng lao động của người lao động. 1.2.5.Chế độ tiền lương cấp bậc: Chế độ tiền lương cấp bậc là chế độ tiền lương áp dụng cho công nhân. Để trả lương đúng đắn phải căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động. Số lượng và chất lượng có liên quan chặt chẽ với nhau và là hai mặt của một thể thống nhất nhưng cách biểu hiện lại khác nhau. + Sè lượng lao động biểu hiện ở mức độ hao phí thời gian lao động dùng để sản xuất ra sản phẩm. + Chất lượng lao động thể hiện ở trình độ lành nghề của công nhân. Chế độ tiền lương cấp bậc là toàn bộ những văn bản quy định của Nhà nước mà doanh nghiệp dùa vào đó để trả lương cho công nhân theo chất lượng và điều kiện lao động khi họ hoàn thành một công việc nhất định. a. Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật: Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật phản ánh yêu cầu về trình độ lành nghề của công nhân, có liên quan chặt chẽ với mức độ phức tạp của công việc. Nói cách khác, giữa cấp bậc công nhân và cấp bậc công việc có liên quan mật thiết với nhau. + Biểu cấp bậc kỹ thuật: Quy định tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật giữa các công việc trong doanh nghiệp nhà nước. Biểu này là cơ sở để xếp người lao động vào các thang lương khác nhau bao gồm các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng thực hành ... + Biểu cấp bậc nghiệp vụ: Quy định trình độ năng lực của từng người lao động khác nhau trong các ngành khác nhau. Cấp bậc kỹ thuật của công việc và của công nhân phải được kết hợp với nhau cho hợp lý, có nghĩa là căn cứ vào tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật người ta có thể xắp xếp cho công nhân làm việc cho phù hợp với khả năng và trình độ của họ. b.Thanglương: Là quy định về số bậc lương trong một ngạch lương và hệ số lương trong ngạch đó. Mỗi thang lương gồm có một số bậc lương nhất định và hệ số lương phải phù hợp với bậc lương đó. Mỗi thang lương gồm có một số bậc lương nhất định và các hệ số lương phải phù hợp với bậc lương đó. Các bậc lương biểu thị trình độ chuyên môn của mỗi công nhân, lương của công nhân căn cứ vào mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định nhân với hệ số lương tương ứng. Số lượng bậc lương của thang lương giữa các bậc phải phụ thuộc vào điều kiện sản xuất của từng ngành cụ thể, mức độ phức tạp của công việc và thời gian đào tạo. Việc xây dựng thang lương phải đảm bảo cho hệ số lương không ngừng tăng từ bậc này đến bậc khác. Hiện nay có 3 hệ số chênh lệch giữa các bậc lương: + Hệ số tăng lương đều đặn. + Hệ số tăng lương luỹ tiến + Hệ số tăng lương giảm dần c. Mức lương quy định Mức lương = Tiền lương tối thiểu x Hệ số lương Tiền lương thị trường tối thiểu được Nhà nước quy định cho từng khoảng thời gian cụ thể. Hiện nay, tiền lương tối thiểu là 290.000 đ /tháng. Nhìn chung, ngoài tiền lương chính, tuỳ theo điều kiện làm việc cụ thể người lao động còn nhận được các khoản phụ cấp nh- :Phụ cấp khu vực, phụ cấp độc hại. phụ cấp trách nhiệm... Nhằm bổ sung cho tiền lương chính, đảm bảo việc trả lương công bằng hơn cho người lao động. 1.2.6. Chế độ tiền lương theo chức vụ: Lao động của các cán bộ lãnh đạo, nhân viên kỹ thuật và các nhân viên phục vụ khác trong doanh nghiệp có những đặc điểm khác với công nhân trực tiếp sản xuất. Phần lớn họ lao động bằng trí óc, công việc bao gồm rất nhiều loại phức tạp và quan trọng khác nhau, khó định mức được lao động. Họ không trực tiếp tạo ra sản phẩm như như công nhân. Kết quả lao động của họ có thể đánh giá được công việc thông qua các kết quả công tác của tập thể những người mà họ quản lý hoặc phục vụ mà nó thể hiện trong các chỉ tiêu sản xuất của doanh nghiệp hoặc của từng bộ phận sản xuất. Cơsở xác định tiền lương theo chức vụ:- Xây dựng ngành nghề của viên chức, thông thường chức danh danh nghề của cán - X©y dùng ngµnh nghÒ cña viªn chøc, th«ng th-êng chøc danh danh nghÒ cña c¸n bé công nhân viên bao gồm:+ Chức danh của viên chức lãnh đạo + Chøc danh cña viªn chøc l·nh ®¹o: + Chức danh của viên chức làm công tác chuyên môn (kỹ thuật, nghiệp vụ) + Chức danh của viên chức thừa hành, dịch vụ, phục vụ. - Đánh giá sự phức tạp của lao động viên chức: Để đánh giá mức độ phức tạp của lao động viên chức, thường được tiến hành phân tích nội dung công việc, hoặc nghề nghiệp của viên chức bằng phương pháp cho điểm. - Xác định bội số bậc của bảng lương: Xác định mức lương bậc 1 và các mức lương khác trong bảng lương. 1.3. Các hình thức áp dụng trả lương: Việc áp dụng các hình thức trả lương hợp lý là một vấn đề quan trọng trong công tác quản lý tiền lương trong doanh nghiệp và phải luôn xuất phát từ những yêu cầu cơ bản sau: + Phù hợp với tính chất công việc và trình độ kỹ thuật cụ thể + Phải khuyến khích được người lao động quan tâm đến kết quả lao động, kết quả sản xuất. + Làm cho tiền lương thực sự trở thành đòn bẩy kinh tế trong sản xuất kinh doanh + Phải có hiệu quả kinh tế Hiện nay, có hai hình thức trả lương cơ bản: + Trả lương theo thời gian + Trả lương theo sản phẩm Ta có thể khái quát hình thức trả lương theo sơ đồ sau: C¸c h×nh thøc tr¶ l-¬ng Theo thêi gian Theo s¶n phÈm C¸ nh©n C¸ nh©n Theo thêi gian gi¶n ®¬n TËp thÓ Theo thêi gian cã th-ëng Theo s¶n phÈm gi¶n ®¬n Theo s¶n phÈm cã th-ëng TËp thÓ Theo s¶n phÈm gi¸n tiÕp Theo s¶n phÈm kho¸n Sơ đồ các hình thức trả lương 1.3.1.Hình thức trả lương theo thời gian: Hình thức trả lương theo thời gian là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào suất lương cấp bậc. Là suất lương tính theo đơn vị thời gian dùng để xác định số lượng lao động có mặt tại nơi làm việc và tham gia thực sự vào quá trình lao động hoặc thời gian thực sự làm việc những công việc thuộc nhiệm vụ của mình. Hình thức này chủ yếu áp dụng đối với những người làm công tác quản lý, còn đối với công nhân sản xuất chỉ áp dụng với những bộ phận lao động bằng máy móc là chủ yếu hoặc tự động hoá, những công việc không thể tiến hành theo định mức một cách chính xác hoặc chặt chẽ hoặc vì tính chất sản xuất nếu trả lương theo sản phẩm không hiệu quả thiết thực. Vì vậy, trả lương theo thời gian có nhiều nhược điểm hơn là hình thức trả lương theo sản phẩm vì nó chưa gắn với thu nhập của người lao động với kết quả lao động mà họ đạt được trong thời gian làm việc. Hình thức trả lương này rất dễ bị vi phạm nguyên tắc, vì theo hình thức này người ta trả lương cho người lao động dùa theo thời gian làm việc của người lao động và bậc lương của họ. Do đó tiền lương không gắn trực tiếp với kết quả sản xuất của người lao động vì vậy nó gây nên một hiện tượng khó tránh khỏi là người lao động vì thu nhập của mình chỉ cần cách nâng cao cấp bậc, chức vụ của mình mà không nâng cao trình độ lành nghề của mình. Để đảm bảo 3 nguyên tắc của tổ chức tiền lương thì vấn đê cần đặt ra là xác định đúng trình độ lành nghề để tính ra suất lương theo thời gian,theo bậc chính xác. Hình thức này có hai chế độ trả lương: a. Trả lương theo thời gian giản đơn: Là tiền lương trả cho người lao động chỉ căn cứ vào bậc lương và thời gian làm việc thực tế, không xét đến kết quả lao động và thái độ lao động. Cách thức trả lương theo hình thức này có thể thực hiện theo lương tháng, lương tuần, lương ngày, lương giê. + Tiền lương ngày: Là tiền lương được tính bằng số ngày làm việc thực tế (kể cả những ngày nghỉ theo chế độ nh- ngày lễ, nghỉ hội họp). + Tiền lương giê: Là tiền lương trả cho một giê làm việc được xác định trên cơ sở tiền lương ngày chia cho số giê tiêu chuẩn quy định tại điều 68 của Bộ luật lao động. - Phạm vi áp dông : Đối với những công việc khó định mức lao động (sản phẩm) và những công việc thay đổi thường xuyên, đòi hỏi trình độ đặc biệt. - Nhược điểm: Mang nặng tính bình quân, không khuyến khích lao động sử dụng hợp lý thời gian lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu, chưa tận dụng hết công suất của máy móc thiết bị, khả năng thực tế của người lao động... để tăng năng suất lao động. b. Tiền lương theo thời gian có thưởng: Đây là hình thức trả lương theo thời gian kết hợp với tiền thưởng về hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh, thưởng về chất lượng công tác, chất lượng sản phẩm. Cách tính trả lương theo hình thức này là lấy tiền lương theo thời gian đơn giản cộng với các khoản tiền thưởng. Hình thức trả lương này có ưu điểm nhiều hơn hình thức trả lương theo thời gin giản đơn. Nó không những phản ánh trình độ thành thạo và thời gian làm việc thực tế mà còn gắn với thành tích công tác của từng người lao động thông qua các chỉ tiêu đã xét thưởng đã đạt được. 1.3.2. Hình thức trả lương theo sản phẩm. a. Khái niệm: Hình thức trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương theo kết quả sản xuất của người lao động. Bản chất của hình thức này là tiền lương gắn liền với chất lượng lao động và kết quả lao động. Khi tiến hành trả lương theo sản phẩm cần có những điều kiện cơ bản sau: + Phải xây dựng mức lao động có căn cứ khoa học. Điều này tạo điều kiện tính toán đơn giá trả lương chính xác. + Tổ chức phục vụ tốt nơi làm việc, hạn chế đến mức tối đa những tổn thất về thời gian lao động, sẽ tạo điều kiện hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch sản lượng. + Thực hiện tốt công tác thống kê kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm sản xuất ra trong từng ca từng ngày. + Làm tốt công tác chính trị tư tưởng, cho người lao động để họ nhận thức rõ trách nhiệm khi họ hưởng lương theo sản phẩm tránh khuynh hướng chỉ chú ý đến số lượng sản phẩm không chú ý đến việc sử dụng nguyên vật liệu, máy móc và giữ vững chất lượng sản phẩm. * Hình thức trả lương theo sản phẩm: - Trả lương theo sản phẩm cá nhân: Hình thức trả lương này áp dụng đối với người trực tiếp sản xuất. Trong quá trình lao động của họ mang tính độc lập tương đối, có thể định và kiểm tra sản phẩm một cách cụ thể và rõ ràng. Thực chất hình thức trả lương này căn cứ vào cơ sở quy định số lượng sản phẩm. + Ưu điểm: Có tác động trực tiếp đến người lao động và gắn liền với trách nhiệm cá nhân + Nhược điểm: Chưa xét đến sự phối hợp về công việc giữa các cá nhân. - Trả lương theo sản phẩm tập thể: Trả lương theo sản phẩm tập thể áp dụng trong điều kiện công việc đòi hỏi một tập thể công nhân cùng làm việc như : sản xuất ở các bộ phận dây chuyền, + Ưu điểm: tạo ra sự gắn bó giữa các cá nhân trong tập thể và bản thân các cá nhân giám sát động viên nhau. + Nhược điểm: Không gắn quyền lợi trực tiếp đối với từng cá nhân dẫn đến xu hướng ỷ lại, Ýt kích thích nâng cao năng suất lao động cá nhân. Hình thức này được áp dụng với những công việc phức tạp khó phân biệt rạch ròi sản phẩm của từng ca nhân vào kết quả lao động của tập thể. * Cả hai hình thức trả lương trên có thể áp dụng các hình thức trả lương theo sản phẩm như sau: - Trả lương theo sản phẩm giản đơn: Hình thức trả lương này dùa trên cơ sở số lượng sản phẩm hoàn thành (đúng quy cách phẩm chất) và đơn giá tiền lương của sản phẩm đó. Việc tính trả lương này được áp dụng với công nhân trực tiếp sản xuất. - Trả lương theo thời gian có thưởng: Là trả lương theo sản phẩm kết hợp với chế độ tiền thưởng Hình thức trả lương này căn cứ vào đơn giá sản phẩm cố định ,tiền thưởng thì phụ thuộc vào mức độ hoàn thành kế hoạch công việc tuân theo các chỉ tiêu quy định về tiền thưởng - Trả lương theo sản phẩm gián tiếp: Ngoài tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp còn căn cứ vào mức độ vượt định mức để tính thêm số tiền lương theo sản phẩm gián tiếp. Trả lương theo sản phẩm gián tiếp thường áp dụng ở những khâu yếu trong sản xuất. Nó có tác dụng thúc đẩy sản xuất ở những khâu, những bộ phận khác có liên quan, góp phần hoàn thành vượt mức kế hoạch của doanh nghiệp Chế độ trả lương này áp dụng cho công nhân phụ và công việc của họ có ảnh hưởng đến kết quả lao động của công nhân chính theo sản phẩm. - Trả lương theo sản phẩm khoán: Là hình thức trả lương trọn gói cho người lao động thực hiện một công việc hay một công đoạn trong đó bao gồm tất cả cac khoản chi trả lương. Hình thức trả lương này áp dụng trong trường hợp khó định mức chi tiết hoặc khó quản lý về chi tiết, về kết quả trung gian của người lao động. Tiền lương được trả theo số lượng công việc mà công nhân ghi trong phiếu khoán. Nếu đối tượng nhận khoán là tập thể (nhóm, tổ) thì tiền lương được phân phối cho công nhân trong tổ giống như chế độ trả lương tính cho tập thể. Trả lương theo sản phẩm khoán này nếu người lao động (hoàn thành sớm công việc, tiết kiệm nguyên vật liệu) thì còn cộng thêm khoản thưởng cho sản phẩm. 1.4. Các phương pháp xác định đơn giá tiền lương: Các sản phẩm dịch vụ đều phải căn cứ vào đơn giá tiền lương và định mức lao động. Đơn giá tiền lương được xây dựng trên cơ sở định mức lao động trung bình tiên tiến của doanh nghiệp và các thông số lao động tiền lương do Nhà nước quy định. Khi thay đổi định mức lao động và quỹ tiền lương thì đơn giá thay đổi. Có 4 phương pháp xây dựng đơn giá tiền lương: a.Đơn giá tiền lương tính trên một đơn vị sản phẩm (hoặc sản phẩm quy đổi ): Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh được chọn là tổng sản phẩm hiện vật (kể cả sản phẩm quy đổi). Phương pháp này áp dụng đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh loại sản phẩm có thể quy đổi đựợc: xi măng, sắt thép, vận tải... Công thức xây dựng đơn giá: Vđg = Vgiê x Tsp Trong đó: Vđg: Đơn giá tiền lương (đơn vị : đồng/đơn vị hiện vật). Vgiê: Tiền lương giê dùa trên cơ sở cấp bậc công việc bình quân ,phụ cấp lương bình quân. Tsp: Mức lao động của đơn vị sản phẩm hoặc quy đổi (Tính bằng số giê người) b. Đơn giá tiền lương tính trên doanh thu:
- Xem thêm -