Tài liệu Hòa nhập xã hội của trẻ em trong các gia đình nghèo ở thành phố hồ chí minh”(nghiên cứu trường hợp quận 7, thành phố hồ chí minh)

  • Số trang: 90 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 425 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC Xà HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC Xà HỘI PHAN THỊ NGỌC HÂN HÒA NHẬP Xà HỘI CỦA TRẺ EM TRONG CÁC GIA ĐÌNH NGHÈO Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH) Chuyên ngành : Xã hội học Mã số : 60 31 03 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ Xà HỘI HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM VĂN QUYẾT HÀ NỘI - 2016 MỤC LỤC MỞ ĐẦU..............................................................................................................1 Chương 1: Một số khái niệm cơ bản................................................................14 1.1. Một số khái niệm cơ bản...............................................................................14 1.2. Lý thuyết vận dụng........................................................................................17 1.3. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu.......................................................................21 Kết luận chương 1..............................................................................................23 Chương 2: CÁC CHIỀU ĐO LƯỜNG HÒA NHẬP Xà HỘI CỦA TRẺ EM NGHÈO QUA NGHIÊN CỨU.........................................................................24 2.1. Nhóm quyền phát triển...............................................................................24 2.2. Nhóm quyền được bảo vệ.............................................................................34 2.3. Nhóm quyền sống còn..................................................................................47 2.4. Nhóm quyền của trẻ......................................................................................54 Kết luận chương 2...............................................................................................56 Chương 3: YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÒA NHẬP Xà HỘI CỦA TRẺ NGHÈO................................................................................................................57 3.1. Các yếu tố từ phía gia đình............................................................................57 3.2. Các yếu tố từ cộng đồng................................................................................62 3.3. Các yếu tố từ chính quyền, đoàn thể..............................................................63 Kết luận chương 3...............................................................................................71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..........................................................89 DANH MỤC BẢNG, HỘP Bảng 2.1. Tỷ lệ trẻ được chăm lo thẻ bảo hiểm y tế: ………………………. 25 Bảng 2.2.Bệnh của trẻ em nghèo:…………….. ………………………… 27 Bảng 2.3. Tình trạng đi học của trẻ nghèo: ……………………………… 28 Bảng 2.4. Mức độ quan tâm và hỗ trợ của gia đình, chính quyền về giáo dụccho trẻ em 29 nghèo............................................................................................ Bảng 2.5. Mối quan hệ bạn bè của trẻ nghèo.................................................. 31 Bảng 2.6. Các cấp độ về nhà ở của trẻ em nghèo đô thị................................. 34 Bảng 2.7. Tỷ lệ nhà ở của trẻ được đảm bảo theo quy định………………… 37 Bảng 2.8. Tình trạng nhà thuê của trẻ nghèo đang sống................................ 37 Bảng 2.9. Trẻ em nghèo đô thị được quan tâm về trang phục....................... 39 Bảng 2.10. Các hình thức trả lương cho trẻ..................................................... 42 Bảng 2.11. Môi trường làm việc của trẻ......................................................... 43 Bảng 2.12. Những nguy cơ đối với trẻ nghèo.................................................. 46 Bảng 2.13. Bữa ăn của trẻ em nghèo.............................................................. 48 Bảng 2.14. Lựa chọn nơi vui chơi của trẻ trong các ngày nghỉ, lễ, tết........... 51 Bảng 2.15. Trẻ không vui chơi........................................................................ 53 Bảng 2.16. Trẻ hiểu biết quyền và tham gia đóng góp ý kiến........................ 54 Bảng 3.1. Những yếu tố tích cực giúp trẻ hòa nhập xã hội............................. 57 Bảng 3.2. Xu hướng lựa chọn trang phục của trẻ........................................... 59 Bảng 3.3. Gia đình quan tâm đến vấn đề học tập của trẻ................................ 59 Hộp 2.1. Chăm sóc sức khỏe của trẻ nghèo................................................... 26 Hộp 2.2. Tình trạng bệnh của trẻ em nghèo.................................................. 27 Hộp 2.3. Trẻ nghèo được tạo điều kiện học ngoại khóa................................ 30 Hộp 2.4. Hỗ trợ của bạn bè trẻ em nghèo.................................................. 31 Hộp 2.5. Mong muốn của phụ huynh trẻ nghèo. .......................................... 31 Hộp 2.6. Nhận xét của phụ huynh trẻ nghèo.................................................. 32 Hộp 2.7. Tình trạng nhà tạm của trẻ em nghèo đang ở ................................. 35 Hộp 2.8. Những khó khăn của trẻ ở nhà tạm.................................................. 36 Hộp 2.9. Trẻ em nghèo được quan tâm đến trang phục................................. 40 Bảng 2.10. Các hình thức trả lương cho trẻ.................................................... 42 Hộp 2.11. Chi thu nhập của trẻ nghèo............................................................ 42 Hộp 2.12. Môi trường làm việc của trẻ em nghèo......................................... 43 Hộp 2.13. Mức độ trẻ em nghèo được quan tâm đến dinh dưỡng.................. 49 Hộp 2.14. Trẻ em nghèo đô thị với số lượng bữa ăn..................................... 49 Hộp 2.15.Trẻ em nghèo không vui chơi.. ..................................................... 53 Hộp 3.1. Ý thức trẻ nghèo trong giúp đỡ gia đình......................................... 58 Hộp 3.2. Khó khăn của gia đình trẻ nghèo..................................................... 68 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thành phố Hồ Chí Minh từng là một “Sài Gòn” đô hội rất hoa lệ, được chính quyền Đông Dương mệnh danh là “hòn ngọc viễn đông”. Nơi đây đã hội tụ rất nhiều dòng chảy văn hóa trong lịch sử hình thành và phát triển; từng đón nhận những ảnh hưởng của văn hóa Pháp, Mỹ qua các thời kỳ thăng trầm của đất nước, được đánh dấu bằng những di tích lịch sử đặc trưng như: Bưu điện, Bến Nhà Rồng, dinh Thống Nhất, chợ Bến Thành... Thành phố mang tên Bác có nhiều ưu điểm ở chỗ các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng cùng chung sống hòa bình, êm đẹp, họ đã cùng tương trợ và giúp đỡ nhau để sống tốt đời đẹp đạo với những việc làm mang đậm tính nhân văn. Cho đến thời điểm hiện nay chắc cũng chưa có tỉnh thành nào chứa đựng nhiều dân tộc cùng chung sống như nơi đây và cũng chưa có nơi nào tình người cũng nhiều như nơi đây được thể hiện thông qua những hoạt động “đền ơn đáp nghĩa”, “ủng hộ” người nghèo và tương trợ với tinh thần quốc tế. Nơi đây chiếmgiữ vị trí địa lý quan trọng của cả nước, vì là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng;lại là đường cửa ngõ quốc tế để giao thương và trao đổi văn hóa, kinh tế. Thành phố phát triển trên tất cả các lĩnh vực, hoạt động văn hóa rất đa dạng vùng miền, tình hình an ninh chính trị ổn định và an toàn trật tự xã hội được bảo đảm. Là nơi an tâm để tập trung kinh doanh, sản xuất, học tập, sinh hoạt và vui chơi giải trí. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển chung vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần phải khắc phục, đòi hỏi cần phải có một sự nỗ lực lớn của lãnh đạo thành phố, sự đồng thuận ủng hộ của nhân dân. Đặc biệt cần chú ý đến những lĩnh vực có liên quan đến phát triển an sinh xã hội, trong đó “nghèo” là vấn đề bức thiết đã được đề ra và giải quyết từ những năm sau đổi mới. Để có kết quả như ngày hôm nay, đòi hỏi cần phải có một chính sách toàn diện, phủ rộng đến từng hộ dân nghèo với các giải pháp đồng bộ. Qua hơn 20 năm thực hiện công cuộc giảm nghèo, đến nay cơ bản cả thành phố đã hoàn thành bốn giai đoạn và tiến hành triển khai đo lường 1 nghèo đa chiều phù hợp với thực tiễn tình hình phát triển, cũng như xu hướng hội nhập của đất nước. Vấn đề nghèo tại thành phố cần có cách nhìn mới để xây dựng những thang đo thích hợp hơn, trong đó đối tượng đặc biệt cần chăm lo là trẻ em nghèo. Vì nhìn chung các trẻ này bị thiếu hụt về năng lực và khả năng liên kết mật thiết với việc tiếp cận các dịch vụ xã hội.Trẻ em nghèo đô thị cần nhất là chiều đo về thiếu hụt xã hội mà hiện nay vẫn chưa có những chuẩn đo cụ thể để giúp đỡ cho các em. Những thiếu hụt đa chiều làm cho trẻ mất đi những cơ hội, hạn chế các nhu cầu về mặt xã hội làm cho trẻ thiếu tự tin, hạn chế hiểu biết về quyền cơ bản của mình. Qua khảo sát ban đầu, các chiều đo về những nhu cầu cơ bản của trẻ nghèo còn chưa được bảo đảm hết, trong đó có những lĩnh vực chiếm tỷ lệ không cao nhưng nó minh chứng cho việc một số ít trẻ chưa được tạo điều kiện tối thiểu về nơi ở, việc học hành, chăm sóc sức khỏe cơ bản, vấn đề về lao động trước tuổi, biết và thực hiện quyền của trẻ. Trẻ nghèo đô thị bị thiếu hụt về vấn đề chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dinh dưỡng, trang phục, hạn chế những hiểu biết và thực hiện các quyền của bản thânvà phải lao động trước tuổi. Có nhiều lý do để trẻ thiếu hụt đa chiều mà trong đó các công cụ đo lường đơn chiều không thể đo hết được các chiều thiếu hụt khác. Nếu không có các tiêu chí đo lường phù hợp với thực tế nhu cầu của trẻ sẽ dẫn đến những thiệt thòi cho trẻ em nghèo đô thị và làm cản trở sự phát triển toàn diện của một lực lượng lớn vốn xã hội trong tương lai. Những cản trở trên có những nhân tố tác động từ phía gia đình, chính quyền và cộng đồng, từ những chính sách dành cho trẻ. Đã có nhiều nghiên cứu, báo cáo về vấn đề hòa nhập cho người nhập cư, người lao động hay chotrẻ em nhưng đa phần là những nghiên cứu tập trung vào trẻ có hoàn cảnh khuyết tật, trẻ trong trường giáo dưỡng hay trẻ bị nhiễm HIV/AIDS chứ chưa có nghiên cứu riêng cho trẻ em nghèo sống trong các đô thị. Vì vậy tôi chọn đề tài “Hòa nhập xã hội của trẻ em trong các gia đình nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh”(Nghiên cứu trường hợp quận 7, thành phố Hồ Chí Minh) nhằm tìm hiểu về sự hòa nhập của trẻ em nghèo trong thành phố, làm rõ hơn cơ sở lý 2 thuyết cho việc tiếp cận và lý giải vấn đề về hòa nhập xã hội của trẻ em trong các gia đình nghèo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. 2. Tình hình nghiên cứu 2.1. Các nghiên cứu về hòa nhập xã hội của người nghèo đô thị Đô thị hóa giúp cho kinh tế nước ta ngày càng tăng trưởng, là động lực thúc đẩy đất nước phát triển thoát khỏi nhóm quốc gia kém phát triển. Sự tăng trưởng về kinh tế còn là cơ sở, nền tảng của đô thị hóa và là điều kiện tiên quyết để thực hiện công tác giảm nghèo của nước ta. Tuy nhiên, mặt trái của đô thị hóa với những hệ lụy cần nhiều giải pháp hạn chế các tác động làm nghèo khổ ngày càng tăng lên. Nói đến nghèo đô thị thì đã có nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo đề cập đến và có những khuyến nghị, những giải pháp nhằm hỗ trợ người nghèo hòa nhập xã hội thuận lợi hơn. Vì bản chất phức tạp và nhạy cảm của vấn đề nghèo nên tác giả Nguyễn Duy Thắng với bài viết “Nghèo khổ đô thị các nguyên nhân và yếu tố tác động” yêu cầu phải có cách tiếp cận tổng thể để thấy được toàn vẹn bức tranh nghèo đô thị có những nguyên nhân và yếu tố tác động phổ biến như: thiếu thu nhập, nghèo vốn con người và vốn xã hội, tốc độ đô thị hóa và toàn cầu hóa nhanh, khủng hoảng kinh tế. Điều này cũng tùy thuộc vào quy mô dân số, kích cỡ đô thị, cơ cấu chính trịxã hội, mối quan hệ với thị trường bên ngoài. Thành phố càng lớn thì mức độ ảnh hưởng toàn cầu hóa càng cao, trường hợp phục hồi có khả năng nhanh và ngược lại đối với các thành phố nhỏ [22, tr. 75].Ngoài ra, tác giả Nguyễn Duy Thắng còn nhấn mạnh nghèo đô thị làm nảy sinh vấn đề tăng khoảng cách giữa giàu nghèo, phân tầng trong xã hội qua bài viết “Tác động của đô thị hóa đến nghèo khổ và phân tầng xã hội: nghiên cứu trường hợp vùng ven đô Hà Nội”. Tác giả cho thấy nghèo là một trong những rào cản phát triển của các đô thị và đòi hỏi cấp thiết phải có những giải pháp giúp cho người nghèo tiếp cận các nguồn lực, các dịch vụ đô thị bằng nhiều chính sách ưu đãi[23, tr. 75]. 3 Nghèo đa chiều được Bộ Lao động Thương binh và Xã hội phối hợp cùng tổ chức UNICEF Việt Nam thực hiện đo lường chất lượng sống của trẻ em nghèo trong báo cáo “Trẻ em nghèo Việt Nam sống ở đâu?”. Bài viết chỉ ra rằng phương pháp đo lường đơn chiều chỉ cho kết quả thu nhập rất thấp chứ chưa đề cập đến việc được tạo điều kiện tiếp cận những quyền cơ bản của người nghèo. Trong đó việc áp dụng các thang đo nghèo đa chiều đã bổ sung những tiêu chí để đo lường những nhu cầu tối thiểu mà không thể đáp ứng bằng tiền[10, tr. 74]. Cùng quan tâm đến vấn đề nghèo nhưng nghiên cứu ở khía cạnh người nhập cư có đồng tác giả tác giả Phạm Văn Quyết, Trần Văn Kham với bài viết “Sự kỳ thị đối với người lao động nhập cư nghèo tại các đô thị Việt Nam” nhấn mạnh người nghèo là một trong những nhóm yếu thế cần phải có những biện pháp bảo vệ, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để tham gia một cách tích cực vào đời sống xã hội trong sự bình đẳng với các thành viên khác của xã hội[19, tr. 75]. Đồng tác giả trên cũng có công trình nghiên cứu “Hòa nhập xã hội: Một số quan điểm và việc triển khai nghiên cứu, đo lường” nhằm tìm ra những mức độ hội nhập xã hội của người nghèo để tạo điều kiện cho họ tham gia, có chỗ đứng trong những lĩnh vực của đời sống như những thành viên của xã hội [16, tr. 75]. Và bộ đôi tác giả này cũng đã nghiên cứu về vấn đề “Hòa nhập xã hội của người di cư tại các đô thị ở Việt Nam: Hướng đến một mô hình trợ giúp xã hội” nhằm đề xuất những giải pháp xóa bỏ kỳ thị, thúc đẩy quá trình hội nhập của người nghèo nhập cư, tìm ra những mô hình trợ giúp từ chính quyền đến các tổ chức xã hội, chính trị - xã hội để họ chủ động hòa hòa mình vào những lĩnh vực sống tại đây[19, tr. 75]. Thành phố Hồ Chí Minhlà địa phương đầu tiên trong cả nước khởi xướng công cuộc xóa đói giảm nghèo suốt 24 năm qua, trải qua 4 giai đoạn(1999-2003, 2004-2008, 2009-2013, 2014 -2015). Thành phố luôn hoàn thành mục tiêu giảm nghèo trước từ 1 đến 2 năm với 7 lần điều chỉnh chuẩn nghèo và cận nghèo. Hiện nay nhiều hộ không nghèo về thu nhập nhưng vẫn còn gặp khó khăn, thiếu hụt ở các chiều cạnh khác và không nằm trong danh sách nghèo nên không được các chính sách hỗ trợ. Như đã nói trên, các phương pháp đo lường nghèo đơn chiều không còn 4 đáp ứng nhu cầu thực tế tình hình nên khái niệm nghèo đa chiềubắt đầu xuất hiện từ những năm 2013. Ấn phẩm “Tiếp cận của người nghèo đến các dịch vụ y tế và giáo dục trong bối cảnh xã hội hóa hoạt động y tế và giáo dục tại Việt Nam” của Action Aid cho thấy những hạn chế của người nghèo khi có chủ trương xã hội hóa 2 trong số các chiều có trong thang đo nghèo đa chiều[1, tr. 74]cùng với những chính sách về điều kiện nhà ở, việc làm, hỗ trợ tín dụng đã được gì, còn hạn chế gì cần phải khắc phục qua báo cáo “Giảm nghèo ở Việt Nam: thành tựu và thách thức” của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam [28, tr. 76]. Chuẩn bị triển khai cho giai đoạn giảm nghèo của thành phố lần thứ 5, Ban Chỉ đạo chương trình giảm nghèo bền vững của thành phố tham mưu cho UBND thành phố triển khai cuộc khảo sát hộ nghèo, hộ cận nghèo của thành phố giai đoạn năm 2016-2020 vào tháng 3/2016 để tìm ra giải pháp hỗ trợ các hộ nghèo đa chiều phù hợp với nhu cầu với thực tiễn cuộc sống. Ngoài những vấn đề nêu trên bài viết “Bất bình đẳng giới trong giáo dục Việt Nam” của tác giả Đỗ Thiên Kính còn nêu những chiều cạnh khác của nghèo đô thị như: bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ, mà cơ bản nhất là vấn đề về bất bình đẳng trong giáo dục giữa nông thôn với thành thị và giữa các cấp học, giữa nam và nữ[15, tr. 75].Bất bình đẳng trong y tế làm cho cơ hội được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe ít đi, các cơ sở y tế xuất hiện nhiều dịch vụ phong phú để phục vụ nhu cầu của bệnh nhân tùy vào khả năng chi trả. Điều này vô hình chung đã tạo ra rào cản phân biệt giữa bệnh nhân có điều kiện chi trả với bệnh nhân nghèo, điều kiện chi trả còn hạn chế. Các vấn đề về cơ sở hạ tầng bao gồm việc giao đất cho nhân dân tự chủ trong sản xuất, thực hiện các chương trình xây dựng điện – đường – trường – trạm ở vùng sâu vùng xa, biên giới khó khăn và xây dựng hệ thống giao thông đường bộ ngày càng hiện đại đã góp phần cho việc di chuyển, giao thương của người nông đân đến các thành phố, của nông dân đến các khu công nghiệp, khu chế xuất đã phần nào giảm tải được tình trạng nghèo của nước ta. Để biết rõ hơn những thiếu hụt của người nghèo đô thị, tác giả Nguyễn Thu Sa với bài viết “Người nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh: Thử phát họa một bức chân dung” 5 cho thấy xuất hiện nhu cầu bảo trợ xã hội của các nguồn lực từ bên ngoài và khả năng tự tạo ra sự bảo trợ của nhóm nghèo nhằm làm giảm những nguy cơ bị tổn thương trong quá trình sinh kế, cung cấp lưới bảo vệ cho họ tránh những nguy cơ bị gạt ra bên lề xã hội[21, tr. 75].Làm hạn chế mặt trái của phân tầng xã hội, làm cho khoảng cách giữa giàu nghèo ngày càng giãn rộng hơn và nhất thiết phải có những giải pháp để hạn chế những nguy cơ xung độtxã hội xảy ra. Các chiều cạnh khác nhau trong vấn đề nghèo đa chiều cần phải nhìn nhận, lý giải một cách khách quan và từ đó đưa ra những giải pháp thực hiện triệt để, đồng bộ để vấn đề nghèo đa chiều được giải quyết theo bản chất vốn có của nó. Từ đó mà có những biện pháp giảm nghèo căn cơ nhất, cần thiết đầu tư cho công tác giảm nghèo và nhất thiết phải bắt đầu từ những trẻ em trong các gia đình nghèo đa chiều để đảm bảo được tính giảm nghèo bền vững. 2.2. Các nghiên cứu về hòa nhập xã hội của trẻ em nghèo đô thị Trẻ em là một nguồn vốn, nguồn tài nguyên nhằm để đảm bảo một lực lượng kế thừa duy trì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh ví trẻ em như cái mầm, cái“mầm có xanh thì cây mới vững, cái búp có xanh thì cái lá mới tươi, quả mới tốt. Con trẻ được nuôi dưỡng giáo dục hẳn hoi, thì dân tộc mới có thể tự cường tự lập”. Nói như vậy có nghĩa là tất cả trẻ em cần phải được chăm lo, giáo dục, tạo các điều kiện tối đa để đảm bảo rằng trẻ được thực hiện quyền của mình. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn một số ít trẻ vẫn chịu thiệt thòi và đòi hỏi phải có những giải pháp cấp thiết để hỗ trợ, tạo điều kiện cho trẻ tham gia, phát triển toàn diện các mặt để đảm bảo lực lượng vốn xã hội cần thiết cho sự phát triển bền vững của quốc gia. Báo cáo “Trẻ em nghèo Việt Nam sống ở đâu?”được phát hành bởi sự kết hợp giữa Bộ Lao động Thương binh và Xã hội với UNICEP Việt Nam nêu ra các lý do để tất cả các quốc gia hay các tổ chức tập trung nghiên cứu và tìm giải pháp để bảo vệ, chăm sóc, tạo điều kiện tối đa cho trẻ nghèo, đặc biệt là trẻ nghèo tại các đô thị được thực hiện các quyền cơ bản của mình. Vì đối tượng này thường phải chịu những nguy cơ cao hơn và bị ảnh hưởng do nghèo khác biệt hơn so với người 6 trưởng thành, các em phải phụ thuộc phần lớn vào môi trường sống trực tiếp của mình trong việc đáp ứng những nhu cầu cơ bản và dựa vào sự phân bổ nguồn lực của cha mẹ, gia đình và cộng đồng. Chính vì thế nên trẻ có nhiều khả năng tiếp tục phải chịu cảnh nghèo khi trưởng thành bởi nghèo được vận hành như một vòng tròn lẩn quẩn mà trẻ rơi vào từ khi mới ra đời và không thoát ra được. Do đó, giảm nghèo trẻ em tuy là một mục tiêu ngắn hạn nhưng lại giúp giảm tỷ lệ nghèo ở người trưởng thành trong dài hạn [10, tr. 74]. Ở Việt Nam, công cuộc xóa đói giảm nghèo đã đạt được những thành tựu mà thế giới công nhận. Nhưng vẫn còn một bộ phận trẻ em vẫn phải sống trong nghèo đói, không được đảm bảo các quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng và học tập, thiếu sự bảo vệ để sống an toàn, lành mạnh. Một bộ phận trẻ này chịu rất nhiều thiệt thòi, có nguy cơ bị bóc lột, buôn bán, bị lạm dụng, tai nạn thương tích...Thực tế cho thấy trẻ cần phải được tạo điều kiện để được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản tối thiểu về ăn, ở, chăm sóc sức khỏe, học tập, vui chơi giải trí, tham gia vào các lĩnh vực khác. Đối với vấn đề hỗ trợ cho trẻ, tạo điều kiện cho trẻ tham gia vào những dịch vụ cơ bản của xã hội đã được quy định trên nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Nhưng trên thực tế thì việc đảm bảo quyền lợi cho trẻ em tham gia chỉ dừng lại ở hình thức chứ chưa thật sự đi vào thực tiễn cuộc sống của các em để đảm bảo cho trẻ được tham gia, tiếp cận những dịch vụ xã hội cơ bản, những phúc lợi cho mình. Tuy có những thành tích đạt được trong việc tạo điều kiện, hỗ trợ cho trẻ từ những khung pháp lý, những chương trình bảo vệ trẻ tuân thủ theo quy định của Liên Hiệp Quốc nhưng do thực tế tình hình đất nước nên vẫn còn một tỷ lệ trẻ nghèo đô thị chưa được tạo điều kiện triệt để trong việc thực hiện quyền,chủ động tham gia được nêu trong báo cáo “Điều tra Nghèo đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh” do tổ chức phi chính phủ UNDP thực hiện[26, tr. 76]. Bên cạnh đó, một vấn đề đặt ra ở đây là từ góc độ phụ huynh của trẻ do mưu sinh, còn hạn chế về trình độ nên kiến thức khoa học để nuôi dạy con còn hạn chế và chưa kịp thời cập nhật những văn bản Pháp luật đã ban hành để bảo vệ cho 7 trẻ nên chưa có những ứng xử phù hợp với những biểu hiện của trẻ trong mỗi giai đoạn thay đổi tâm, sinh lýkhác nhau góp phần dẫn đến những hệ lụy của trẻ nghèo và làmnảy sinh tệ nạn xã hội. Nhằm thực hiện có hiệu quả chiến lược giảm nghèo đa chiều giai đoạn 5 (2016-2020), thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát các hộ nghèo trên địa bàn thành phố với những thang đo cụ thể có liên quan đến những nhu cầu cơ bản của trẻ nghèo, trên cơ sở những chỉ báo qua cuộc khảo sát, thành phố sẽ xây dựng những giải pháp thiết thực để hỗ trợ, tạo điều kiện cho trẻ nghèo đa chiều được thuận lợi thụ hưởng những nhu cầu cơ bản, được tham gia các hoạt động xã hội và được có nhu cầu trợ giúp xã hội. Đã có nhiều nghiên cứu, báo cáo nhận dạng việc hỗ trợ người nghèo, nhưng riêng về vấn đề hỗ trợ trẻ em nghèo hòa nhập xã hội thì cần phải làm rõ hơn, cần có những giải pháp thực hiện thiết thực hơn, đồng bộ hơn để trẻ được thụ hưởng những hỗ trợ từ gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội để phát triển toàn diện hơn. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1.Mục đích nghiên cứu Luận văn nhằm nghiên cứu về mức độ hòa nhập của trẻ em trong các hộ gia đình nghèo tại thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó đánh giá chung về đời sống vật chất và tinh thần của trẻ em nghèo cũng như xây dựng giải pháp giải quyết những bất cập trong quá trình thực hiện giảm nghèo đa chiều với đối tượng trẻ em. 3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu Hình thành cơ sở lý thuyết cho việc tiếp cận và lý giải vấn đề về hòa nhập xã hội của trẻ em trong các gia đình nghèo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Làm rõ thực trạng hòa nhậpxã hội của trẻ em trong các hộ gia đình nghèo. Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sự hòa nhập xã hội của trẻ. Đề xuất những giải pháp thúc đẩy hòa nhập xã hội của trẻ em trong các gia đình nghèo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu 8 Hòa nhập xã hội của trẻ em trong các gia đình nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh. 4.2. Khách thể nghiên cứu Là những trẻ em sống trong những hộ gia đình nghèo và cận nghèo giai đoạn 2014 - 2015. Lý do chọn những trẻ em nghèo trong giai đoạn này vì bắt đầu từ tháng 3/2016 thành phố triển khai đo lường nghèo theo tiêu chí đa chiều, nên luận văn chưa có số liệu chính thống làm căn cứ thực hiện. Trẻ em được xác định trong Điều 1, Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004: Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi; Là hộ gia đình nghèo và cận nghèo theo quyết định số: 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, cận nghèo áp dụng trong giai đoạn 2011- 2015. 4.3. Phạm vi nghiên cứu + Không gian: Địa bàn quận 07, thành phố Hồ Chí Minh. + Thời gian: từ tháng 1/2016 đến tháng 6/2016. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Câu hỏi nghiên cứu Trẻ em trong các hộ gia đình nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh có thuận lợi khi hòa nhập xã hội không? Gia đình, nhà trường và cộng đồng có là yếu tố ảnh hưởng đến sự hòa nhập xã hội của trẻ em trong các hộ gia đình nghèo không? Trẻ em trong các hộ gia đình nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh có được các khung pháp lý bảo vệ không? Trẻ em trong các hộ gia đình nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh có bị kỳ thị không? 5.2. Giả thuyết nghiên cứu Trẻ em trong các gia đình nghèo trên địa bàn thành phố còn khó khăn, chưa thuận lợi trong việc thụ hưởng đầy đủ các dịch vụ cơ bản so với trẻ khác. 9 Trẻ em nghèo chịu ảnh hưởng của những nhân tố từ gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội khi hòa nhập xã hội. Được thừa nhận và bảo vệ của các khung pháp lý nhưng nhận thức của gia đình của trẻ còn chưa thật rõ ràng dẫn đến việc trẻ thụ động trong việc hòa nhập xã hội và chịu nhiều thiệt thòi trong quá trình hòa nhập. Trẻ thiếu tự tin trong việc hòa nhập xã hội khi bị đối xử kỳ thị. 5.3. Phương pháp nghiên cứu 5.3.1. Phương pháp thu thập thông tin - Phương pháp phân tích tư liệu có sẵn Với phương pháp phân tích tư liệu sẵn có, đề tài tập hợp và phân tích các tài liệu như sách báo, số liệu thống kê, các văn bản...có liên quan đến nghèo đa chiều, giúp luận văn có cái nhìn tổng quát về những vấn đề hòa nhập xã hội của trẻ em tại đô thị. - Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài. Phương pháp nhằm thu thập thông tin định lượng giúp kiểm định các giả thuyết. Bảng hỏi là công cụ thu thập thông tin chủ yếu trong cuộc điều tra này. Triển khai nghiên cứu 200 trẻ em thuộc các hộ gia đình nghèo tại 4 phường trên địa bàn quận nhằm thu thập thông tin theo yêu cầu và mục đích của cuộc nghiên cứu. Khi tiến hành khảo sát, điều tra viên đã nhờ Bí thư Đoàn và Chuyên trách giảm nghèo tăng hộ khá của 4 phường hỗ trợ dẫn đến nhà từng em để thực hiện bảng hỏi. Trong quá trình hỏi, có những thông tin cần đến sự hỗ trợ từ phía phụ huynh, bạn cùng xóm của trẻ và từ phía chính quyền để khai thác hết thông tin trong bảng hỏi đề ra. - Phương pháp phỏng vấn sâu Để có thông tin sâu hơn về đối tượng nghiên cứu, đề tài cũng tiến hành phỏng vấn sâu 7 trường hợp. Trong đó phỏng vấn 4 học sinh, 2 phụ huynh đại diện cho 4 phường. Ngoài ra còn phỏng vấn 1 Chuyên trách giảm nghèo tăng hộ khá 10 nhằm tìm hiểu sâu hơn các nội dung mà phương pháp điều tra định lượng không phù hợp hoặc bổ sung cho cách tiếp cận này. 5.3.2. Chọn mẫu và quy mô Khung mẫu là danh sách các hộ gia đình trong Chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá giai đoạn (2014-2015). Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên: trong 10 phường bốc thăm chọn ngẫu nhiên 4 phường có trẻ em nghèo ở độ tuổi từ 6 đến 16 tuổi mang tính đại diện gồm phường: Tân Kiểng, Tân Thuận Đông, Tân Hưng, Tân Quy. Phương pháp chọn mẫu như trên cho phép thỏa mãn được tính đại diện cho các hộ gia đình trên toàn địa bàn, từ đó cho thấy được mức độ hòa nhập xã hội của trẻ em nghèo trên địa bàn thành phố. Tổng số trẻ nghèo được khảo sát định lượng là 200 em (đối tượng trả lời bảng hỏi là 97 nam và 103 nữ trong độ tuổi từ 6 đến 16 tuổi). Ngoài ra, để có thông tin sâu về vấn đề nghiên cứu và đảm bảo được tính khách quan với nhiều góc nhìn từ phía chính quyền, phụ huynh, cộng đồng đề tài đã tiến hành phỏng vấn sâu thêm 4 trường hợp từ 200 thiếu nhi được nghiên cứu, 2 phụ huynh của trẻ nghèo và 1 chuyên trách giảm nghèo tăng hộ khác trong Ban giảm nghèo quận. 5.3.3. Phương pháp xử lý thông tin Ghi âm, ghi chép nội dung cuộc phỏng vấn sâu (kết hợp quan sát), sau đó gỡ băng và ghi chép lại toàn bộ nội dung cuộc phỏng vấn. Đối với các bảng hỏi: sử dụng thống kê mô tả để xử lý và tổng hợp các số liệu phục vụ làm tư liệu phục vụ cho luận văn. 11 5.3.4. Khung phân tích Sự quan tâm, chăm sóc từ phía gia đình Sự hỗ trợ, giúp đỡ của cộng đồng, chính quyền và các đoàn thể Các chính sách xã hội với trẻ em nghèo Hòa nhập xã hội của trẻ em trong các hộ gia đình nghèo 1/ Nhóm Quyền phát triển, đo lường các chiều cạnh: được hỗ trợ về giáo dục, được tạo điều kiện để vui chơi giải trí, được chăm sóc sức khỏe. 2/ Nhóm Quyền bảo vệ nhằm đo lường các chiều cạnh: trẻ được hỗ trợ nhà ở; trang phục; lao động trước tuổi của trẻ, nguy cơ vướng vào TNXH và trẻ được hộ trợ từ cộng đồng, tổ chức chính trị - xã hội. 12 3/ Nhóm Quyền sống còn: Đo các chiều cạnh về dinh dưỡng của trẻ. 4/ Nhóm Quyền tham gia, đo lường chiều cạnh trẻ hiểu biết về các quyền và quyền được tham gia của trẻ. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận Nghiên cứu về hòa nhập xã hội của trẻ bị khuyết tật, trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS, trẻ tự kỷ, trẻ ở các trung tâm cai nghiện...đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu. Tuy nhiên, vấn đề hòa nhập xã hội cho trẻ em nghèo tại đô thị hiện nay chưa có những nghiên cứu mang tính riêng cho khách thể này, chưa có những thang đo cụ thể để phản ánh những chiều thiếu hụt của các nhu cầu của trẻ. Do đó, đề tài góp phần làm rõ hơn mức độ hòa nhập xã hội của trẻ em nghèo đô thị hiện nay trong tiêu chí nghèo đa chiều và làm sáng tỏ hơn một số lý thuyết xã hội học khi vận dụng vào nghiên cứu thực tiễn. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Hòa nhập xã hội là nhu cầu của các cá nhân, các nhóm trong xã hội. Đề tài có ý nghĩa: Liệt kê những nhu cầu cơ bản của trẻ nghèo chưa được hòa nhập xã hội, qua đó cung cấp cho gia đình, chính quyền và cộng đồng xã hội biết được các chiều thiếu hụt của trẻ nghèo. Mô tả mức độ được tạo điều kiện hòa nhập xã hội của trẻ trước những nhân tố gia đình, chính quyền và cộng động xã hội, từ các chính sách dành cho trẻ. Qua những thông tin thu thập được, hy vọng đề tài luận văn là tài liệu tham khảo có ích cho các nhà hoạch định chính sách và những người quan tâm đến lĩnh vực này. 7. Cơ cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, luận văn gồm có 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chương 2:Các chiều do lường hòa nhập xã hội của trẻ em nghèo qua nghiên cứu Chương 3: Yếu tố tác động đến sự hòa nhập xã hội của trẻ nghèo 13 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. 1.Một số khái niệm cơ bản 1.1.1. Hòa nhập xã hội “Hòa nhập xã hội bao gồm một quá trình bảo đảm rằng những người có nguy cơ đói nghèo và những người tách biệt biệt xã hội được những cơ hội và nguồn lực cần thiết để tham gia đầy đủ các hoạt động kinh tế, xã hội, đời sống văn hóa và tận hưởng một tiêu chuẩn sống hạnh phúc được coi là bình thường trong xã hội họ đang sống”[3, tr.74]. Xã hội là một trong những nơi mà mọi người cảm thấy giá trị, sự khác biệt của họ được tôn trọng và nhu cầu cơ bản của họ được đáp ứng để học có thể sống. gồm: phân tầng xã hội, liên kết xã hội, bất bình đẳng, tách biệt xã hội. Cụ thể: + Tách biệt xã hội là một quá trình mà trong đó một số cá nhân được đẩy qua bên lề của xã hội và bị ngăn cản tham gia do nghèo đói của họ hoặc thiếu cơ bản những năng lực và cơ hội học tập suốt đời hoặc như là một kết quả của sự phân biệt đối xử. Điều này là do khoảng cách từ các cơ hội việc làm, thu nhập và giáo dục cũng như xã hội và cộng đồng mạng lưới hoạt động. Họ có rất ít cơ hội để truy cập vào quyền lực và tiếp cận các cơ quan ra quyết định và do đó họ cảm thấy bất lực, không thể kiểm soát các quyết định có ảnh hưởng đến cuộc sống của mình hàng ngày. + Phân tầng xã hội là sự bất bình đẳng mang tính cơ cấu của xã hội loài người (trừ xã hội sơ khai). Đó là sự phân chia xã hội thành các tầng khác nhau về địa vị chính trị, kinh tế và xã hội, cũng như sự khác nhau về trình độ học vấn, nghề nghiệp, phong cách sinh hoạt, kiển ăn mặc, nơi cư trú, thị hiếu nghệ thuật, mức độ tiêu dùng.... + Liên kết xã hội dùng để mô tả lợi ích mang lại cho mọi người với nhau. Hòa nhập được thiết kế để đảm bảo rằng: tất cả mọi người có thể tham gia trong xã hội bất kể nền tảng của họ hoặc các đặc tính cụ thể bao gồm: chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa, giới tính, khuyết tật, tình trạng xã hội, tuổi tác và các yếu tố 14 khác. So với dân số nói chung, các nhóm với các đặc thù, đặc điểm đặc biệt như vậy là rất nhiều khả năng phải đối mặt với học vấn thấp, thất nghiệp vô gia cư và kết quả loại trừ nghèo đói, loại trừ xã hội. Mục tiêu là để cho tất cả mọi người một cơ hội bình đẳng để tham gia trong xã hội, hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn bằng việc loại bỏ các rào cản và loại bỏ những rủi ro. Trong đề tài, hòa nhập xã hội được sử dụng gắn với hòa nhập xã hội của trẻ em nghèo. Điều đó có nghĩa đồng thời với việc tạo ra một xã hội hòa nhập thông qua các chính sách, các cơ chế tạo điều kiện cho trẻ em nghèo cố kết xã hội, là sự tham gia của trẻ em vào các hoạt động sống của xã hội như với mọi trẻ em khác. 1.1.2. Trẻ em Luật Bảo vệ,Chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 của Việt Nam quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi. Với góc độ nghiên cứu trẻ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thuộc lãnh thổ Việt Nam nên luận văn dùng Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004 làm căn cứ để định nghĩa về “trẻ em” nhằm phù hợp với thực tế. 1.1.3. Nghèo “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh” (Tổ chức Liên hợp quốc UNDP). Trong vấn đề nghèo hiện nay được chia thành 2 dạng gồm: - Nghèo tiền tệ Được hiểu dựa trên nguyên tắc mỗi cá nhân với sức mua nhất định có thể thỏa mãn nhu cầu cơ bản của họ. Thuộc tính thõa mãn nhu cầu cơ bản có thể mua được bên ngoài thị trường và thể hiện bằng tiền. Phương pháp đo lường này được sử dụng rộng rãi nhất trong việc phân tích nghèo trên thế giới nhưng nó có hạn chế trong việc đo lường nghèo đối với trẻ em[10, tr. 74]. 15 - Nghèo đa chiều Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều.Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản[2, tr. 74]. Nội dung nghiên cứu trong luận văn này xin được giới hạn về vấn đề hòa nhập xã hội của trẻ ở phương pháp đo lường nghèo đa chiều vìtrong cùng một thời điểm, trẻ nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi khác nhau, có thể là những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, vui chơi giải trí, quyền tham gia. Chính những bất lợi trên làm cho quyền cơ bản của trẻ bị khước từ,trẻ bị đẩy sang lề xã hội mà phương pháp nghèo tiền tệ không đo lường hết được. Nhữngbiến cố xảy ra bất ngờ trong cuộc sống đã đẩy gia đình trẻ rơi vào hoàn cảnh nghèo hoặc gia đình không nằm trong chuẩn được công nhận là hộ nghèo theo quy định từ đó mà trẻ trở nên thiệt thòi, thiếu cơ hội hơn so với các bạn cùng trang lứa. 1.1.4. Trẻ em nghèo Bao gồm các đối tượng dưới 16 tuổi không được hưởng các quyền quy định trong Công ước năm 1989của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em và không được tiếp cận các nhu cầu cơ bản của con người[10, tr. 74]. Trong đề tài, để đảm bảo việc thu thập thông tin, trẻ em nghèo được xác định là số trẻ em dưới 16 tuổi đang sinh sống trong các gia đình nghèo được xác định trên cơ sở Chương trình giảm nghèo tăng hộ khá giai đoạn 2014 – 2015. 1.1.5. Hộ gia đình nghèo Căn cứ vào những quy định của Quyết định số: 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011, Việt Nam đưa ra chuẩn nghèo thuộc phạm vi của chương trình quốc gia để áp dụng cho thời kỳ 2011 – 2015: “Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (6 triệu đồng/người/năm) trở xuống. Hộ cận 16
- Xem thêm -