Tài liệu Hỗ trợ day nghề cho người khuyết tật huyện lạng giang, tỉnh bắc giang

  • Số trang: 107 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 288 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --------------------------------------------- PHAN THỊ THU HỖ TRỢ DẠY NGHỀ CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG Chuyên ngành: Công tác xã hội Mã số: 60 90 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS Phạm Hữu Nghị HÀ NỘI – 2015 LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu và khảo sát thực tiễn, tôi đã hoàn thành Luận văn thạc sĩ Công tác xã hội. Với tình cảm trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc, cho phép tôi gửi lời cảm ơn đến: PGS. TS Phạm Hữu Nghị, Học viện Khoa học xã hội, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và động viên tôi hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ Công tác xã hội. Đồng thời, tôi xin cảm ơn cán bộ, nhân viên của các cơ quan, tổ chức: Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, Trung tâm chăm sóc trẻ khuyết tật, Trung tâm dạy nghề 19/5, Trung tâm bảo trợ xã hội Thành Đạt đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thu thập thông tin và hoàn thành nghiên cứu. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Xã hội học thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là các thầy cô trong Bộ môn Công tác xã hội- những người đã cung cấp nền tảng kiến thức và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn của mình. Hà Nội, ngày 24 tháng03 năm 2015 Học viên Phan Thị Thu DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CTXH Công tác xã hội LĐTB & XH Lao động, Thương binh và Xã hội NVCTXH Nhân viên công tác xã hội NKT Người khuyết tật Pvs Phỏng vấn sâu Pvn Phỏng vấn nhóm MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1 2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu .......................................................... 2 3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu ..................................................................... 7 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 7 5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .......................................................... 8 6. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 8 7 . Câu hỏi nghiên cứu .................................................................................. 8 8. Giả thuyết nghiên cứu ............................................................................... 9 9. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 9 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU... 12 1.1 Một số khái niệm công cụ .................................................................. 12 1.2 Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu ................................... 13 1.2.1. Lý thuyết nhu cầu .......................................................................... 13 1.1.2 Lý thuyết sinh thái học .................................................................. 15 1.1.3. Lý thuyết hệ thống ......................................................................... 17 1.3. Cơ sở khoa học của công tác dạy nghề cho ngƣời khuyết tật ........ 19 1.3.1. Văn bản pháp lý về dạy nghề cho người khuyết tật ...................... 19 1.3.2 Cơ sở tâm sinh lý............................................................................ 22 1.3.3 Cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội ........................................................ 23 1.4. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang) .... 24 1.4.1. Khái quát về huyện Lạng Giang và về các cơ sở dậy nghề cho người khuyết tật trên địa bàn huyện Lạng Giang ................................... 24 1.4.2. Đặc điểm của người khuyết tật ở huyện Lạng Giang ................... 26 Tiểu kết chương 1........................................................................................ 26 Chƣơng 2. THỰC TRẠNG DẠY NGHỀ CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT TẠI HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG VÀ VAI TRÕ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG DẠY NGHỀ CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT ......................... 28 2.1. Khái quát về tình hình dạy nghề ...................................................... 28 2.1.1. Tình hình dạy nghề trong cả nước ................................................ 28 2.1.2 Tình hình dạy nghề cho người khuyết tật huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang................................................................................................ 30 2.2. Hoạt động dạy nghề cho ngƣời khuyết tật tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang ........................................................................................... 33 2.2.1 Dạy nghề cho người khuyết tật vận động ...................................... 34 2.2.2 Dạy nghề cho người khuyết tật ngôn ngữ, người khiếm thính....... 37 2.2.3 Dạy nghề cho người khuyết tật khiếm thị và khuyết tật trí tuệ ...... 38 2.3 Đánh giá nhu cầu học nghề của ngƣời khuyết tật ............................ 41 2.4. Thuận lợi và khó khăn trong việc dạy nghề cho ngƣời khuyết tật 47 2.4.1 Những thuận lợi ............................................................................. 47 2.4.2 Khó khăn trong dạy nghề cho người khuyết tật ............................ 50 2.5. Vai trò của công tác xã hội trong dạy nghề cho ngƣời khuyết tật. 60 2.5.1 Huy động các nguồn lực trong cộng đồng ..................................... 60 2.5.2. Liên kết các trung tâm dạy nghề và các doanh nghiệp................. 62 2.5.3. Tư vấn chương trình dạy nghề ...................................................... 64 Tiểu kết chương 2 ................................................................................. 68 Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY NGHỀ CHO NGƢỜI KHUYẾT TẠI HUYỆN LẠNG GIANG ........................... 69 3.1. Một số mô hình dạy nghề cho ngƣời khuyết tật .............................. 69 3.1.1. Dạy nghề gắn với tạo việc làm...................................................... 69 3.1.2. Dạy nghề ngắn hạn ....................................................................... 72 3.1.3. Một số kinh nghiệm về hoạt động dạy nghề cho người khuyết tật 75 3.2. Nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên dạy nghề cho ngƣời khuyết tật.... 77 3.3 Đầu tƣ cơ sở vật chất cho hoạt động dạy nghề ................................. 79 3.4. Phát huy vai trò của nhân viên công tác xã hội trong dạy nghề cho ngƣời khuyết tật ........................................................................................ 81 Tiểukếtchương3........................................................................................... 83 KẾT LUẬN .................................................................................................... 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 89 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài NKT từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học. Trong y học, sức khỏe cộng đồng, thông tin điện tử, thiết kế kỹ thuật, NKT được quan tâm dưới góc độ làm giảm bớt ảnh hưởng của dạng tật để cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của họ bớt khó khăn hơn. Trong các ngành xã hội học, CTXH, NKT được hướng đến như những đối tượng yếu thế trong xã hội cần được hỗ trợ để hòa nhập cộng đồng. Theo Báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội hiện nay Việt Nam có 6,7 triệu NKT, khoảng 60 % NKT trong độ tuổi lao động. NKT nữ là 3,6 triệu người, khoảng 1,2 triệu là trẻ em, hơn 5 triệu người sống ở nông thôn [38, tr1]. Nhiều NKT không có việc làm, thu nhập, sống bằng trợ cấp xã hội và gia đình. Dạy nghề cho NKT là vấn đề nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong nhiều năm qua. Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ chương chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm cho NKT giúp họ có được công việc tăng thêm thu nhập cho bản thân, xóa bỏ mặc cảm tự ti để hòa nhập vào cộng đồng xã hội. Những chính sách chủ chương đó đã được thể bằng pháp luật. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua việc áp dụng các chính sách pháp luật vào trong thực tiễn đời sống vẫn chưa có sự đồng bộ, khả thi và hiệu quả. Điều này dẫn tới giữa lý luận và thực tiễn thiếu khách quan, chưa phù hợp. Trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh còn e dè khi nhận NKT vào làm việc mặc dù NKTcó thể làm công việc đó tốt. Giải quyết được vấn đề việc làm cho NKT sẽ phát huy được nhân tố con người, phát triển kinh tế, ổn định xã hội, đảm bảo được quyền cơ bản của con người, quyền được lao động và hòa nhập cộng đồng và các quyền lợi chính đáng khác của NKT. Chính vì vậy, đặt ra yêu cầu phải đào tạo được NKT có những thế mạnh riêng chuyên về làm những công việc phù hợp với bản thân họ. Việc phát hiện những ưu điểm riêng của từng người và đào tạo việc làm cho họ là rất khó khăn, sau đó 1 cần phải liên kết huy động tất cả các nguồn lực để tạo việc làm cho NKT không đơn giản, đòi hỏi người cán bộ phụ trách phải có tấm lòng yêu nghề và tinh thần trách nhiệm cao. Xuất phát từ thực trạng trên tôi chọn đề tài: “ Hỗ trợ dạy nghề cho NKT huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang” làm đề tài nghiên cứu của mình. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung và các chính sách, quy định pháp luật hiện hành cho NKT, luận văn làm rõ thực trạng hỗ trợ dạy nghề cho NKT trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, từ đó đưa ra các mô hình can thiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy nghề cho NKT. 2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Việc nghiên cứu về NKT nói chung, dạy nghề đối với NKT nói riêng đã được đề cập trong nghiên cứu khoa học xã hội, chủ đề về NKT cũng được báo chí đặc biệt quan tâm. Có thể kể ra những nghiên cứu liên quan đến NKT như: Nghiên cứu nước ngoài: Disability and social inclusion in Ieland, Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011 (khuyết tật hoà nhập xã hội ở Ieland, Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011). Nghiên cứu đã xem xét NKT có hoàn cảnh khó khăn khi hoà nhập xã hội, trong nghiên cứu đã thu thập trình độ học vấn, kinh tế và tham gia xã hội…Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra mặc cảm tự ti là một trong những yếu tố cản trở NKT tham gia hoà nhập xã hội và cuộc sống hàng ngày. Báo cáo còn chỉ ra sự khác biệt giữa NKT và người bình thường trong việc tham gia hoà nhập cộng đồng. Thông qua việc thống kê các số liệu thu thập được để đánh giá mức độ nghèo, sự tham gia vào giáo dục, y tế, việc làm… của NKT. Nghiên cứu còn nhấn mạnh tới yếu tố NKT ảnh hưởng tới đời sống của mình, thiết kế nơi làm việc không phù hợp, sự kỳ thị của cộng đồng, sự tiếp cận các phương tiện đi lại gây khó khăn cho NKT… Giáo trình công tác xã hội với người khuyết tật, (2014) Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội-Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Giáo trình đã khái quát những vấn đề cơ bản về NKT và nêu nên các loai hình chăm sóc trợ giúp 2 NKT và vai trò của NV CTXH với NKT. Giáo trình còn đề cập đến những kỹ năng, nguyên tắc cần thiết của một NV CTXH khi làm việc với NKT. Về hướng thực hành, giáo trình nêu các phương pháp làm việc cá nhân, làm việc nhóm, làm việc với gia đình, cũng như các nguồn lực trong quá trình trợ giúp NKT. Tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng (2011) “Phát triển Dạy nghề đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn mới”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (số 4). Bài báo chỉ ra yêu cầu cần phải đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay, không chỉ đào tạo nghề đòi hỏi lượng chất xám cao mà còn phải đào tạo những nghề giản đơn nhằm đáp ứng xu thế hội nhập với khu vực và quốc tế, để tạo ra những sản phẩm tốt nhất đáp ứng với nhu cầu thị trường. Tổ chức Lao động quốc tế (2010) “Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho NKT tại Việt Nam”. Báo cáo cung cấp một cách nhìn tổng thể về các tổ chức đại diện cho NKT và các dịch vụ đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp cho NKT, đặc biệt tập trung vào các tổ chức của phụ nữ khuyết tật và các dịch vụ dành riêng cho phụ nữ khuyết tật. Báo cáo cũng phân tích kết quả khảo sát NKT ít được đào tạo nghề, hướng dẫn về việc làm cũng như phát triển doanh nghiệp. Rất nhiều tổ chức trong và ngoài nước cũng nhận thấy việc đào tạo nghề và các dịch vụ bố trí việc làm cho NKT là rất quan trọng. Vì vậy, báo cáo đề xuất Chính phủ cần có những chính sách riêng khuyến khích các đào tạo nghề cho NKT. Báo cáo cũng nêu lên thực trạng hiện nay cũng có một số Trung tâm dạy nghề dành riêng cho NKT được thành lập, nhưng chỉ phục vụ các khu vực thành thị, các vùng nông thôn việc tiếp cận đào tạo nghề rất bị hạn chế. Các dịch vụ bố trí việc làm thường gắn liền với cơ sở đào tạo nghề. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp kiếm được việc làm sau đào tạo còn khá thấp và phần lớn những học viên tốt nghiệp chủ yếu tìm được việc làm tại các cơ sở dành riêng cho NKT chứ không phải các doanh nghiệp thông thường. 3 Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Người khuyết tật ở Việt Nam: sinh kế, việc làm và bảo trợ xã hội” diễn ra ngày 27/09/2007 do Trung tâm Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc Gia Hà Nội) phối hợp với Trung tâm hợp tác Quốc Tế (Đại học Osaka và Đại học Ochanomizu, Nhật Bản) tổ chức tại Trung tâm thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn bao gồm nhiều tham luận liên quan đến NKT. 20 tham luận của các nhà khoa học, nhà hoạt động từ thiện, xã hội trong và ngoài nước được trình bày tại hội thảo đều hướng vào vấn đề tìm giải pháp hỗ trợ hiệu quả cho NKT hòa nhập cộng đồng, đào tạo việc làm và hỗ trợ việc làm ổn định đời sống có đóng góp cho xã hội, lý giải cho cách dùng khái niệm “NKT” thay thế cho khái niệm “người tàn tật”. T.S Mai Thị Phương (2014), Đề tài “Vấn đề CTXH với NKT” . Đề tài đã nêu lên vai trò của công tác xã hội đối với NKT trên tất cả các phương diện, đặc biệt là vấn đề dạy nghề và tìm việc làm. Đề tài viết về những tồn tại yếu kém trong công tác dạy nghề cho NKT ở nước ta. Nội dung, chương trình, nghề đào tạo, hình thức đào tạo chưa hợp lý về kết cấu, quá nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, chưa có những giáo trình và các thiết bị dạy nghề dành riêng cho NKT, đội ngũ giáo viên dạy nghề cho NKT còn yếu cả về kiến thức, kỹ năng và nhận thức về các lĩnh vực sư phạm và quản lý. Đồng thời việc thực hiện chính sách về việc làm với NKT chưa nghiêm, hoạt động kiểm tra giám sát chưa thường xuyên, vì vậy NKT chịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận dạy nghề và việc làm. Huỳnh Viết Thiên Ân, Nguyễn Thị Thanh Tâm (2012), “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề cho NKT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, Tuyển tập báo cáo Hội sinh viên nghiên cứu khoa học lần thứ 8 Đại học Đà Nẵng năm 2012. Báo cáo đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề cho NKT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, tìm ra ảnh hưởng và tác động của từng nhân tố trong việc cải thiện chất lượng đào 4 tạo nghề cho NKT, nhằm nâng cao hiệu quả công tác dạy nghề, thu hút việc tham gia đào tạo nhiều hơn trong nhóm người yếu thế. Nghiên cứu của Bộ LĐTB & XH với đề tài: “Vai trò của tổ chức người tàn tật trong việc xây dựng các chính sách, chương trình quốc gia về dạy nghề và việc làm cho NKT của bộ thương binh lao động và xã hội (199375tr). Nghiên cứu này nói về việc xây dựng các chương trình, chính sách và thực hiện các chính sách cho NKT để NKT có thể tìm được việc làm cho chính mình. NKT sẽ được tư vấn hỗ trợ về dạy nghề, những nghề phù hợp với khả năng và sở thích của mình. Qua quá trình tư vấn NKT tìm được những nơi có thể nhận mình vào làm việc, để có thể tìm được một công việc phù hợp với bản thân mình. Báo cáo khoa học của nhóm sinh viên Vũ Trung Hiền, Nguyễn Thị Kim Nga, Trần Vũ Mạnh Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn về đề tài: “Biện hộ thực hiện chính sách xây dựng công trình phúc lợi công cộng phù hợp với NKT vận động dựa vào cộng đồng. Nghiên cứu tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội”(2014-200tr). Báo cáo này đã tiến hành nghiên cứu mức độ tiếp cận của NKT vận động với các công trình phúc lợi công cộng tại hai trường. Nghiên cứu cũng nói lên nhu cầu của NKT vận động trong vấn đề biện hộ các chính sách xây dựng công trình phúc lợi công cộng. Ngoài ra, báo cáo còn phân tích rõ các nguồn lực cộng đồng, xã hội như nguồn lực về kinh tế, con người, các văn bản pháp luật trong và ngoài nước, đặc biệt báo cáo nêu cao vai trò của NV CTXH trong quá trình biện hộ. Từ đó nêu ra những phương án tốt nhất để biện hộ cho NKT. Luận văn thạc sĩ: Vũ Ngọc Ly “Thực trạng pháp luật về NKT Việt Nam hiện nay” (2013 -97tr ). Luận văn nghiên cứu và đánh giá chính xác thực trạng công tác thực hiện pháp luật về NKT ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hoạt động thực hiện pháp luật 5 về NKT, góp phần bảo đảm việc thực hiện các quyền của NKT, tạo cơ hội cho NKT bình đẳng và hoà nhập cộng đồng xã hội. Luận văn đã hệ thống hoá, khái quát hoá một số nội dung cả về lý luận và thực tiễn liên quan đến NKT, đưa ra một số văn bản pháp luật về NKT ở một số nước trên thế giới. Phân tích các hình thức và vai trò thực hiện pháp luật về NKT đồng thời giới thiệu khái quát kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực xây dựng văn bản pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về NKT. Ngoài ra tác giả cũng phân tích, đánh giá những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân, thực trạng việc thực hiện pháp luật về NKT hiện nay. Từ đó tác giả đưa ra những giải pháp xây dựng mang tính chất tổng thể và phù hợp với tình hình thực tiễn ở nước ta. Hội thảo “Phát triển dạy nghề và tạo việc làm đối với NKT còn nhiều khó khăn và thách thức” (ngày 29/6/2013) tại thành phố Bắc Giang. Nội dung hội thảo đã đề cập tới các vấn đề liên quan tới thực trạng dạy nghề và tạo việc làm cho NKT, những quy định và chính sách đối với các doanh nghiệp sử dụng lao động là NKT, đối với người lao động khuyết tật và vai trò của tổ chức công đoàn. Các mô hình phục hồi chức năng cũng như tình hình thị trường lao động dành cho NKT. Hội thảo cũng nêu lên việc NKT chưa được đào tạo chuyên môn, đây là một trong những cản trở NKT tiếp cận học nghề, tìm việc làm và trên thực tế NKT vẫn có thể đóng góp cho xã hội nếu họ có kỹ năng, việc làm và được trợ giúp thích hợp. Hội thảo chỉ ra rằng muốn đẩy mạnh dạy nghề và tạo việc làm cho NKT, hàng năm hệ thống Trung tâm giới thiệu việc làm cần thu hút một lượng lớn NKT tham gia học nghề, có nhiều quy định pháp luật hỗ trợ NKT để NKT tự tìm kiếm việc làm. Chính quyền địa phương cần có nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích cụ thể đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh tiếp nhận NKT vào làm việc, khuyến khích họ tạo ra hay tổ chức các công việc phù hợp với khả năng lao động của mình. 6 3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu - Ý nghĩa khoa học của đề tài Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thêm những lý luận của CTXH khi ứng dụng vào nghiên cứu một vấn đề cụ thể: Hỗ trợ dạy nghề cho NKT. Nghiên cứu vận dụng những kiến thức của CTXH và hệ thống lý thuyết, các phương pháp, kỹ năng, mô hình để tìm hiểu, nghiên cứu hoạt động hỗ trợ dạy nghề cho đối tượng là NKT. Từ đó, nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò nhân viên CTXH trong hỗ trợ dạy nghề cho NKT. - Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Nghiên cứu định giá thực trạng, đề ra giải pháp hỗ trợ dạy nghề cho NKT huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; Cung cấp một số mô hình, cách thức hoạt động giúp cho NV CTXH hoạt động hiệu quả hơn trong lĩnh vực liên kết nguồn lực để dạy nghề, sau đó tìm việc làm cho NKT. Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp các nhà chuyên môn xây dựng, bổ sung các mô hình góp phần hoàn thiện hơn hệ thống chính sách dạy nghề và việc làm dành cho NKT. Mặt khác, tác giả cũng hy vọng đề tài sẽ trở thành một tài liệu tham khảo giúp ích được trong việc học tập, nghiên cứu của sinh viên ngành CTXH. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu về hỗ trợ dạy nghề để nắm được thực trạng hoạt động dạy cho NKT tại địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, những kết quả đạt được trong quá trình dạy nghề, những hạn chế, bất cập, nguyên nhân của tình trạng này. Từ đó đề xuất các giải pháp thể hiện vai trò của CTXH trong hỗ trợ dạy nghề cho NKT trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nhiệm vụ nghiên cứu: 7 Về mặt lý luận: Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan tới dạy nghề, việc làm, thất nghiệp của NKT, các khái niệm công cụ, các lý thuyết vận dụng, vai trò của NV CTXH trong dạy nghề cho NKT. Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, định giá thực trạng hỗ trợ dạy nghề cho NKT tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, từ đó đề xuất một số mô hình, biện pháp hỗ trợ hỗ trợ dạy nghề cho NKT huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. 5. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Hỗ trợ dạy nghề cho NKT Khách thể nghiên cứu: Giáo viên, NKT, nhân viên có trách nhiệm trong công tác dạy nghề cho NKT. 6. Phạm vi nghiên cứu Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trong 1 năm ( từ 102013 đến 11- 2014). Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài đi sâu nghiên cứu vấn đề hỗ trợ dạy nghề cho NKT huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang từ đó đề ra những mô hình, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy nghề cho NKT. 7 . Câu hỏi nghiên cứu Dạy nghề cho NKT ở huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang được hỗ trợ như thế nào? Những nghề nào đã và đang được triển khai tại Huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang? Đã đạt được những kết quả gì? Những hạn chế và nguyên nhân? CTXH có vai trò như thế nào trong việc hỗ trợ dạy nghề cho NKT trên địa bàn huyện Lạng Giang? Cần có những biện pháp hỗ trợ nào về dạy nghề cho NKT ở huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang để đạt được hiệu quả cao hơn? 8 8. Giả thuyết nghiên cứu Dạy nghề cho NKT đã nhận được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, chính quyền địa phương. Huyện Lạng Giang đã và đang triển khai dạy các nghề như làm tăm tre, làm chiếu, may, thêu, điện, hàn, tin học, chăn nuôi, thú y. Công tác dạy nghề đã đạt được một số kết quả, tuy nhiên, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra do những nguyên nhân từ phía người khuyết tật, giáo viên dạy nghề và cơ sở vật chất, trang thiết bị và phía doanh nghiệp. NV CTXH huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang chưa phát huy hết vai trò của mình trong việc liên kết, huy động nguồn lực, trợ giúp xây dựng các mô hình dạy nghề và hoạt động hòa nhập cộng đồng cho NKT. 9. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp phân tích tài liệu Số liệu được tác giả sử dụng trong luận văn lấy từ số liệu gốc của các báo cáo theo dõi tình hình và số lượng NKT của Ủy ban nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang trong hai năm 2012 và 2013, Báo cáo công tác dạy nghề năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ năm 2014 của Trung tâm chăm sóc trẻ khuyết tật, Báo cáo kết quả công tác dạy nghề và những hạn chế trong dạy nghề năm 2013 của Trung tâm dạy nghề 19/5. Ngoài ra. còn có các báo cáo, khảo sát khác của các tổ chức trong và ngoài nước. Trong luận văn tác giả sử dụng số liệu từ nguồn này và có những phần sử dụng dữ liệu khác (đã có trích dẫn nguồn đầy đủ). Tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu nhằm tìm hiểu, bổ sung và tích lũy vốn tri thức lý luận liên quan đến luận văn ở nhiều góc độ: Tâm lý học, CTXH, xã hội học, giáo dục đặc biệt, đồng thời tác giả nghiên cứu những chính sách, văn bản pháp luật trong nước và quốc tế về dạy nghề cho NKT, các công trình nghiên cứu khoa học về mảng NKT và dạy nghề, tạo việc làm 9 cho NKT. Đây là cơ sở cho việc xây dựng phương pháp điều tra, phân tích tâm lý NKT, tìm hiểu thực trạng dạy nghề tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Ngoài ra luận văn còn sử dụng phân tích tài liệu từ nguồn tài liệu thu thập được như internet, sách, báo,…trên cơ sở đó tác giả phân tích và sàng lọc những thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu từ đó kết hợp với việc tham khảo một số đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn có liên quan đến vấn đề NKT và dạy nghề cho NKT để tham khảo thêm về phương pháp nghiên cứu làm cơ sở bổ sung cho luận văn của mình. - Phương pháp thảo luận nhóm (Xem phụ lục, mẫu 1 bảng thảo luận nhóm dành cho NKT) Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu tác giả đã sử dụng phương pháp thảo luận nhóm với NKT. Tác giả thực hiện 5 cuộc thảo luận nhóm với 25 đối tượng là nhóm NKT, đang sinh sống trên địa bàn huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang. Đối tượng khảo sát là 25 NKT có khả năng nhận thức tốt có các dạng tật nhẹ là khuyết tật vận động, khiếm thị, khiếm thính, khuyết tật ngôn ngữ. Độ tuổi từ 18 đến 40 và đang học những nghề khác nhau tại Trung tâm dạy nghề 19/5. Qua thảo luận nhóm tác giả muốn tìm hiểu việc học nghề cho NKT được thực hiện như thế nào, các yếu tố nào ảnh hưởng đến NKT khi họ học nghề, những khó khăn và thuận lợi ảnh hưởng đến NKT khi học nghề. - Phương pháp phỏng vấn sâu (Xem phụ lục, mẫu 2 bảng phỏng vấn sâu) Để có kết quả nghiên cứu chính xác, khách quan toàn diện, tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu dành cho những người hướng dẫn, phụ trách trực tiếp NKT. Tác giả đã thực hiện 17 cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng khác nhau bao gồm: 01 cán bộ xã hội làm việc tại Trung tâm chăm sóc trẻ khuyết tật, 01 nhân viên hành chính tại Trung tâm bảo trợ xã hội Thành Đạt, 01 nhân viên hành chính tại Trung tâm chăm sóc trẻ khuyết tật, 01 giám 10 đốc cơ sở dạy nghề 19/5, 01 đại diện công ty nhận NKT vào làm việc, 05 giáo viên dạy nghề, 06 đại diện NKT, 01 cán bộ lao động thương binh xã hội phụ trách mảng NKT trên địa bàn huyện nhằm tìm hiểu quá trình hỗ trợ dạy nghề đối với NKT trên địa bàn huyện, ngoài ra còn tìm ra các nguồn lực khác tạo việc làm cho NKT để thêm thu nhập. 11 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm công cụ Khái niệm người khuyết tật Trên thế giới cũng như tại Việt Nam có nhiều định nghĩa về NKT: Theo Pháp lệnh người tàn tật của Việt Nam ban hành 1/11/1998: Người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau là suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn [9, tr. 18]. Theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006: NKT bao gồm những người có những khuyết điểm lâu dài về thể chất trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội [9, tr. 18]. Theo Luật NKT Việt Nam năm 2010: NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới tạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn [9, tr.18]. Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về “NKT”, trong nghiên cứu này, tôi lựa chọn cách hiểu về NKT theo quy định của Luật NKT của Việt Nam năm 2010. Phân loại khuyết tật Theo điều 3 Luật NKT Việt Nam năm 2010, các dạng tật được chia thành các nhóm sau: Khuyết tật vận động, Khuyết tật nghe – nói, Khuyết tật nhìn, Khuyết tật thần kinh - tâm thần, Khuyết tật trí tuệ, Khuyết tật khác. Khái niệm dạy nghề: Theo Luật dạy nghề năm 2006, dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần 12 thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” [34]. Dạy nghề cho NKT là sự truyền lại tri thức hoặc kỹ năng về công việc nào đó để những người có các dạng khuyết tật khác nhau (khiếm thính, khiếm thị, thiểu năng trí tuệ, vận động…), với những đặc điểm phát triển đặc thù của cá nhân, có thể học được, nhằm hoàn thiện nhân cách, phát triển kỹ năng xã hội, tìm kiếm việc làm, sống tự lập và hoàn thiện xã hội [6, tr 19]. Khái niệm CTXH: CTXH có lịch sử từ lâu đời, hệ thống lý thuyết được hình thành ra đời sau các mô hình thực hành. Do đó, để xem xét khái niệm CTXH và để có một khái niệm chung nhất về CTXH hiện nay rất khác nhau. Theo F.Lulu Pablo – Bộ trưởng Bộ Xã hội Philippin: CTXH vừa là một nghệ thuật, vừa là một môn khoa học, là một nghề chuyên môn giúp con người giải quyết những vấn đề của cá nhân, của nhóm (đặc biệt gia đình), của cộng đồng và để đạt được những mối quan hệ thỏa đáng về cá nhân, nhóm, cộng đồng thông qua các hoạt động xã hội như: CTXH, cá nhân, CTXH nhóm, tổ chức cộng đồng, quản lý xã hội và nghiên cứu [16, tr 5] CTXH với NKT về dạy nghề: Là hoạt động chuyên nghiệp của NV CTXH giúp đỡ những NKT tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ NKT, gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động chăm sóc trợ giúp họ một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng sự công bằng như những người khác trong xã hội trong dạy nghề và tìm việc làm [33]. 1.2 Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 1.2.1. Lý thuyết nhu cầu Abraham Maslow (1908-1970), nhà tâm lý học người Mĩ đã xây dựng học thuyết phát triển về nhu cầu của con người vào những năm 50 của thế kỷ XX. 13 Lý thuyết nhu cầu của Maslow cho rằng mỗi nhu cầu của con người trong hệ thống thứ bậc phải được thỏa mãn trong mối tương quan với môi trường để con người có thể phát triển khả năng cao nhất của mình. Thuyết nhu cầu của Maslow nêu ra 5 bậc thang. Bậc thang thứ nhất đó là nhu cầu vật chất, bậc thang thứ hai là nhu cầu về sự an toàn, bậc thang thứ ba là nhu cầu được thừa nhận, được yêu thương và được chấp nhận, thứ tư là nhu cầu về tôn trọng và tự trọng. Cuối cùng là nhu cầu về sự phát triển cá nhân. Trong hệ thống thứ bậc của A. Maslow, ông cho rằng mỗi nhu cầu của con người đều phụ thuộc vào nhu cầu trước. Nếu như nhu cầu trước cá nhân không được đáp ứng sẽ gặp khó khăn trong nhu cao hơn. Maslow là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về hệ thống nhu cầu của con người. Tuy nhiên lý thuyết Maslow đưa ra cũng có một số hạn chế do sự tuyệt đối hóa nhu cầu của con người qua mỗi bậc thang của sự phát triển. Không phải cứ phải thỏa mãn nhu cầu ở nấc thang trước thì con người mới thỏa mãn và nảy sinh nhu cầu ở nấc thang trên. Có những chuẩn mực xã hội hay khuôn mẫu xã hội dẫn dắt hành vi con người không bị điều khiển bởi các nhu cầu có tính tồn tại. Vào những năm 1970 nhu cầu của Maslow được điều chỉnh thành 7 bậc và cuối cùng 8 bậc (năm 1990) Nhu cầu cơ bản: Nhu cầu về an toàn; Nhu cầu về xã hội; Nhu cầu được quý trọng; Nhu cầu nhận thức; Nhu cầu thẩm mỹ; Nhu cầu thể hiện mình; Sự siêu nghiệm [13, tr.34].Tuy nhiên 5 bậc thang nhu cầu của Maslow vẫn được sử dụng phổ biến trong các hoạt động có liên quan đến nhu cầu của con người. Trong mỗi người cũng đều tồn tại và mong muốn đạt tới 5 bậc thang của Maslow. NKT cũng có những nhu cầu ăn, mặc, ở như những người bình thường, họ cũng muốn xã hội thừa nhận, muốn mọi người trong cộng đồng yêu thương. Họ cũng mong muốn được mọi người tôn trọng mình, không phân biệt kỳ thị, đối xử, và mong muốn được tạo điều kiện phát triển toàn diện. 14 Như vậy, những nhu cầu trên hoàn toàn chính đáng, dạy nghề cho người NKT sẽ giúp họ tự chủ về kinh tế, họ có thể nuôi sống chính bản thân mình, được thể hiện và làm việc với năng lực của chính mình. Từ đó họ có điều kiện nâng cao tay nghề và phát triển trong điều kiện tốt nhất. 1.1.2 Lý thuyết sinh thái học Lý thuyết hệ thống sinh thái là luận điểm về mối tương tác qua lại giữa cá nhân và môi trường sống. Môi trường tự nhiên khách quan có ảnh hưởng sâu sắc tới chế độ xã hội và tư tưởng của con người. Để hiểu về tính cách, lối sống của cá nhân, chúng ta phải hiểu về môi trường sống của cá nhân: Cá nhân tồn tại trong một gia đình - Gia đình tồn tại trong cộng đồng. Cá nhân, gia đình và cộng đồng tồn tại trong môi trường văn hóa, chính trị, kinh tế nhất định. Môi trường sống có tác động đến hành động, niềm tin và những sự chọn lựa của cá nhân. Theo lý thuyết này tất cả các vấn đề con người phải được nhìn nhận một cách tổng thể trong mối quan hệ với các yếu tố khác, chứ không được nhìn nhận một cách độc lập riêng lẻ. Nói cách khác, trong hoàn cảnh sống, mỗi người đều có những ảnh hưởng ít nhiều từ yếu tố xung quanh [19, tr.48]. Vì thế trong CTXH trợ giúp NKT cần phải xem xét trên nhiều phương diện, nhiều mức độ khác nhau. Khi NV CTXH làm việc trong quá trình tư vấn học nghề phải nhìn nhận dưới góc độ các dạng tật mà họ gặp phải cũng như môi trường gia đình NKT đó đang sống. VD: Đối với NKT vận động NV CTXH tư vấn học nghề may, thêu, trồng nấm…Xét môi trường sống của NKT khá thuận lợi cho nghề trồng nấm vì nhà họ có nhiều đất vườn, gần chợ, lại có giao bán thì tư vấn cho họ nghề trồng nấm. Đối với NKT khác xét trong môi trường gia đình họ có cửa hàng ngoài mặt đường thuận tiện cho học may…Tùy với từng NKT sống trong môi trường khác nhau mà NV CTXH tư vấn họ học nghề khác nhau. Trên phương diện các dạng tật mà NKT gặp phải thì sự phân biệt NKT với người không khuyết tật chỉ mang tính chất tương đối về sức khỏe thể chất và 15
- Xem thêm -